• 4 phương thức nuôi tôm điển hình
    Luân canh tôm - lúa là hình thức nuôi tôm được đánh giá hiệu quả và bền vững ở khu vực ĐBSCL. Hiện nay, xuất phát từ thực tiễn và được khoa học kỹ thuật hỗ trợ, tại đây đã xuất hiện thêm một số phương thức nuôi tôm khác cũng được đánh giá cao.

    Mô hình nuôi tôm - rừng

    Ông Phạm Văn Huấn ở xã Hiệp Thạnh (Duyên Hải, Trà Vinh) có 4,5 ha đất, dành 40% cho nuôi tôm, còn lại trồng đước. Chi phí nuôi tôm thấp vì chỉ mua giống, còn thức ăn từ thiên nhiên, lại ít dịch bệnh. Năm qua, gia đình ông thả 150.000 con tôm sú giống (thêm vài loại cá, cua), lãi ròng hơn 100 triệu đồng, trong khi nhiều hộ nuôi tôm công nghiệp quanh lỗ nặng vì dịch bệnh.

    Chủ tịch UBND xã Hiệp Thạnh, ông Nguyễn Văn Kiên, phấn khởi, nhiều hộ trong xã đã bỏ vốn trồng rừng trên diện tích nuôi tôm, tổng diện tích khoảng 400 ha. Nhờ có rừng, hệ sinh thái ngập mặn ổn định lại, môi trường cân bằng, nuôi tôm đỡ vất vả mà thu lãi vững chắc.

    Ở tỉnh Bạc Liêu, kỹ sư Phạm Văn Tới (Phòng NN&PTNT huyện Giá Rai) chủ trì thí điểm nuôi tôm với trồng rừng ở vùng Nam Quốc lộ 1A. Hai hộ được chọn thực hiện. Vùng nuôi tôm chia ra, 50% diện tích nuôi tôm (thêm cua, cá); 30% trồng rừng ngập mặn (đước, mắm); còn 20% diện tích là bờ, cống, mương. Tôm giống thả 5 - 7 con/m2. Từ năm 2011 đến nay, mỗi ha một năm thu được 400 kg tôm (25 - 50 con/kg), 150 kg cua (0,4 - 0,5 kg/con) và một số cá tự nhiên khác, lãi ròng 40 triệu đồng. Cây rừng phục hồi tốt, sống 50%, dự kiến năng suất 100 m3/ha với chu kỳ 15 năm.

    Mô hình nuôi tôm cộng đồng

    Đây là phương pháp nuôi tôm chú trọng ý thức cộng đồng, áp dụng cho những nông hộ có ít đất, để nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng hiệu quả kinh tế. Có một dự án mang tên “Thúc đẩy chứng nhận và Quản lý thực hành nuôi tôm tốt hơn cho các hộ quy mô nhỏ tại Việt Nam” do Danida - Đan Mạch tài trợ, áp dụng tại tỉnh Bạc Liêu từ năm 2012. Ngắn gọn gọi là Thực hành quản lý tốt (Better Management Practices - BMP).

    Tổ hợp tác nuôi tôm 30/4 ở ấp Thống Nhất, xã Vĩnh Hậu (Hoà Bình, Bạc Liêu) có 15 hộ với khoảng 50 ha, chủ yếu nuôi tôm dưới tán rừng. Tôm-rừng tận dụng lợi thế tự nhiên, không cần thêm thức ăn, không dùng hóa chất, đỡ công chăm sóc mà giá bán thường cao hơn 5 - 10% so với tôm nuôi công nghiệp. Tuy nhiên, hạn chế là manh mún, không thống nhất nên khó quản lý nguồn nước, dịch bệnh.

    Dự án đã hướng dẫn kỹ thuật cho các hộ nuôi tôm áp dụng BMP, thống nhất lịch thời vụ, ghi nhật ký quá trình nuôi. Ông Trần Quốc Tuấn, Tổ trưởng Tổ hợp tác 30/4 cho biết, nhờ vậy giảm dịch bệnh, tăng năng suất và tôm đảm bảo tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm. “Gia đình tôi nuôi tôm - rừng hơn 2,6 ha, mỗi năm trước đây chỉ thu được 500 triệu đồng, nay gấp đôi”, ông Tuấn nói.

    Áp dụng BMP còn xây dựng được cơ sở truy xuất nguồn gốc để đi tới các chứng nhận quốc tế, như ASC. Dự án thành công đã mở rộng diện tích nuôi tôm ở Bạc Liêu và đang triển khai ra nhiều địa phương ở ĐBSCL, chú trọng thêm mối liên kết chuỗi từ các tổ hợp tác đến doanh nghiệp, để nâng cao hiệu quả hơn nữa.

    Mô hình nuôi tôm khép kín

    Bà Lâm Kim Huệ ở ấp Tấn Ngọc, xã Ngọc Chánh (Đầm Dơi, Cà Mau), nuôi tôm khép kín trong 4.000 m2, vừa thu được 7 tấn tôm thẻ chân trắng. “Tôi nuôi tôm 4 - 5 năm rồi nhưng chỉ thu được chừng 2 tấn với kích cỡ tôm 100 con/kg, giá bán thấp. Nay năng suất cao, tôm đạt kích cỡ 48 con/kg, giá bán cao nên lãi nhiều”, bà Huệ phấn khởi.

    Cũng ở huyện Đầm Dơi, nhưng xã Trần Phán, ông Phạm Văn Tuấn nuôi tôm khép kín, vừa thu 16 tấn tôm thẻ loại 48 con/kg, lãi trên 1 tỷ đồng. Nuôi tôm khép kín được ông Tuấn diễn giải: “Phải có ao ương, ao nuôi để hạn chế lưu thông với bên ngoài và phải có điện ba pha. Tháng đầu, tôm giống còn nhỏ được nuôi trong vèo ao ương, chăm sóc tốt, hạn chế bệnh chết sớm nên ít hao. Khi tôm đã khoẻ mới chuyển ra ao nuôi nên tôm mau lớn, năng suất và lợi nhuận đều cao”.

    Bà Lâm và ông Tuấn tham gia dự án “Nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hoá của doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2020” của Sở KH&CN Cà Mau. Dự án hỗ trợ đầu tư 30% chi phí ban đầu nên các hộ tham gia vượt qua được khó khăn về vốn, làm đúng quy trình kỹ thuật, hạn chế ảnh hưởng tình trạng ô nhiễm môi trường.

    Dự án triển khai tại các huyện Đầm Dơi, Cái Nước, Năm Căn, Trần Văn Thời, Ngọc Hiển. Tôm nuôi khép kín không sử dụng hoá chất nên đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, xuất được vào những thị trường đòi hỏi chất lượng cao.

    Mô hình nuôi tôm trong vườn dừa

    Nuôi tôm càng xanh trong vườn dừa nhằm thích ứng biến đổi khí hậu, có sản phẩm chất lượng tốt, giúp nông hộ tăng thu nhập, đang được Trường đại học Cần Thơ triển khai ở tỉnh Bến Tre. Mỗi hộ tham gia phải có diện tích mương nước trong vườn dừa 3.000 - 4.000 m2, sẽ được hỗ trợ 18.000 con giống, vôi cải tạo mương, kỹ thuật trị bệnh thường gặp trên tôm.

    Bắt đầu triển khai với 5 hộ, 5.000 m2 ở xã Vang Qưới Đông (Bình Đại) năm 2009; nhanh chóng thành công; nay có trên 25 hộ với diện tích 30.000 m2. Người dân thả nuôi 2 vụ/năm. Ông Nguyễn Văn Thế ở ấp Vinh Xương cho biết: “Hiệu quả khá, 1 ha trồng dừa nuôi tôm càng xanh, mỗi năm thu hơn 200 triệu đồng”.

    Từ thành công đó, năm 2013, mở rộng sang ấp Xương Thới 3, xã Thới Thạnh (Thạnh Phú), ban đầu 7 hộ, nay 30 hộ. Ông Nguyễn Văn Đoàn, một trong những hộ thực hiện từ đầu, cho biết: “Xã này mỗi năm bị mặn khoảng 6 tháng, làm ăn khó khăn. Tôi thả 18.000 con tôm giống trên diện tích 3.000 m2, sau 8 tháng thu lãi hơn 55 triệu đồng”.

    Các hộ nuôi tôm ở ấp Xương Thới 3 đã lập Câu lạc bộ do ông Nguyễn Văn Đoàn làm chủ nhiệm, hằng tháng sinh hoạt trao đổi kinh nghiệm. Câu lạc bộ phát hiện ra, con tôm càng xanh vốn sống trong nước ngọt nhưng thích ứng đến độ mặn 4‰, rất hợp vùng này.

    Nuôi tôm càng xanh trong vườn dừa, tận dụng nguồn cá tạp địa phương làm thức ăn, ít dùng thuốc hoá học nên đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Năm 2014, từ nguồn vốn thích ứng biến đổi khí hậu, Đại học Cần Thơ có kế hoạch mở rộng ra các vườn dừa vùng nước lợ ven biển.

    Source: Ngọc Huyền, Tạp chí Thủy sản VN.
  • Cá tra đạt chứng nhận BAP đạt tiêu chuẩn Good Alternative
    Cá tra đạt tiêu chuẩn Thực hành Nuôi trồng Thủy sản tối ưu (BAP) cấp độ 2 sao, 3 sao và 4 sao của Liên minh Nuôi trồng thủy sản toàn cầu (GAA) tương đương với mức xếp hạng “Sự lựa chọn ưu việt” (“Good Alternative”) của chương trình Seafood Watch thuộc tổ chức Monterey Bay Aquarium.

    Seafood Watch sẽ khuyến nghị người tiêu dùng, các đầu bếp và doanh nghiệp xem cá tra nuôi đạt tiêu chuẩn BAP là một sựa lựa chọn tối ưu để mua.

    Quyết định này được đưa ra sau một quá trình đánh giá rộng rãi các tiêu chuẩn nuôi BAP đối với cá và các loài giáp xác do các nhà khoa học của Seafood Watch thực hiện.

    Quy trình chứng nhận sinh thái chuẩn hiện nay dựa trên các tiêu chí Seafood Watch bắt đầu từ hơn 2 năm trước. Để đáp ứng các khuyến nghị Good Alternative, GAA đã củng cố những yêu cầu chứng nhận về giảm nhẹ tác động với môi trường cư trú và lượng nước thải.

    Source: VietFish, Theo GAA
  • FAO cảnh báo GSSI về việc tiến xa hơn các tiêu chuẩn của FAO hiện có và không đạ...
    Trong bức thư gửi hội đồng quản trị của Tổ chức Sáng kiến Thủy sản Bền vững toàn cầu (GSSI), FAO đã đặt vấn đề về một số công việc GSSI đã thực hiện dựa trên việc thiết lập một quy trình chuẩn cho các chương trình dán nhãn sinh thái cho các sản phẩm thủy sản.

    FAO không thể hỗ trợ một chương trình chuẩn vượt qua những tiêu chuẩn bền vững mà FAO đã xây dựng.

    Sự can thiệp này của FAO nhằm vào điểm mấu chốt của sự bất đồng cơ bản về quá trình xây dựng tiêu chuẩn mà GSSI đã nỗ lực để phát triển.

    Lần đầu tiên được mô phỏng theo Tổ chức Sáng kiến ​​An toàn thực phẩm toàn cầu (GFSI), mục tiêu của GSSI - ra mắt vào đầu năm 2013 - là cung cấp một cơ chế tương tự như cách GFSI xây dựng các tiêu chuẩn tối thiểu đối với an toàn thực phẩm toàn cầu.

    Những tiêu chuẩn này được chấp nhận bởi những người mua lớn, vì vậy không có vấn đề khi các chương trình kiểm tra nhà máy được thực hiện, cho dù BRC, an toàn chất lượng thực phẩm, hoặc bất kỳ tiêu chuẩn nào khác, tất cả chúng đều được coi là hoán đổi cho nhau đối với các yêu cầu an toàn thực phẩm nếu họ vượt qua các tiêu chuẩn GFSI. Hệ thống GFSI là đạt hay không đạt. Một nhà máy có thể đáp ứng tiêu chuẩn an toàn thực phẩm toàn cầu hay không. Không có khả năng đáp ứng được 65% các tiêu chuẩn an toàn bằng cách này.

    Ngay từ đầu của quá trình GSSI, các tổ chức phi chính phủ, trong đó có WWF – tổ chức đã hỗ trợ cả hai mô hình MSC và mô hình ASC cho nuôi trồng thủy sản, cho rằng một tiêu chuẩn tối thiểu có nghĩa là không có cải tiến liên tục, và trừ khi các tiêu chuẩn đã có một bảng xếp hạng gần tương tự như cách cho điểm của MSC hiện có đối với thủy sản, sẽ có tình trạng trì trệ, không cải thiện.

    Các mô hình đạt hay không đạt của GFSI có một số lượng lớn các cải tiến liên tục. Nếu bạn nhìn vào bất kỳ các lĩnh vực kỹ thuật khác nhau sẽ có một loạt các cải tiến tích hợp vào các tiêu chuẩn đồng thuận dựa trên khoa học mới và thực hành đo lường tốt hơn.

    Điều này đã dẫn đến sự cải thiện đáng kể trong những năm qua. Các tiêu chuẩn của FAO cũng cung cấp các bản cập nhật đồng thuận đưa vào báo cáo khoa học mới, phát triển trong việc quản lý hệ sinh thái… Sự khác biệt giữa hệ thống đo lường đạt/không đạt được sử dụng bởi GFSI và dự thảo GSSI hiện nay đối với những cải tiến của GFSI là lần đầu tiên đạt được sự đồng thuận, sau đó đưa vào các tiêu chuẩn, chứ không phải bắt đầu với một quy mô hứng trượt nhấn mạnh rằng không phải là liệu một đơn vị cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn, nhưng mà nó đứng trên quy mô của tất cả những chương trình đáp ứng các tiêu chuẩn tương tự.

    FAO chỉ ra, và đồng thời đưa ra các kiến nghị của cộng đồng về GSSI, như có quá nhiều mục tiêu để đạt ba cấp - tốt, tốt hơn, tốt nhất - trong thực tế đầy tham vọng, vượt xa các hướng dẫn công bố của FAO, và trong nhiều trường hợp thậm chí không thể cho một tỷ lệ lớn về thủy sản toàn cầu. Đây là một công thức để ngăn chặn tiếp cận thị trường, thay vì mở rộng nó.

    Các yêu cầu đưa ra trong bản dự thảo của GSSI sẽ loại chương trình chứng nhận đáp ứng được các hướng dẫn của FAO về việc dán nhãn sinh thái và khai thác có trách nhiệm, và có khả năng sẽ loại trừ 60% thủy sản toàn cầu từng đạt tiêu chuẩn GSSI.

    Bức thư hoan nghênh các GSSI cho những việc đã làm, nhưng làm cho nó rất rõ ràng rằng một chuẩn mực đó là tầng, như đã được khẳng định trên của NGO, và đó không phải là tương tự ở tất cả các chương trình GFSI, sẽ là trái với tinh thần và mục đích của các hướng dẫn của FAO đối với nghề cá có trách nhiệm và hướng dẫn ghi nhãn sinh thái của họ, và do đó không thể được hỗ trợ.

    Source: Nguyễn Hà, VASEP
    (Theo Undercurrentnews)
  • Tiềm năng cho cá tra Việt tại Canađa
    Với xu thế tiêu dùng sản phẩm thủy sản tăng cao, dự báo thị trường Canada ngày càng có nhu cầu cao về nhập khẩu các sản phẩm như cá tra, tôm. Các doanh nghiệp Việt Nam có thể tận dụng cơ hội mở rộng thị phần cũng như tìm kiếm thêm thị trường, không quá phụ thuộc vào thị trường Mỹ, EU hay Nhật Bản.

    Số liệu của Hải quan Việt Nam cho thấy, xuất khẩu cá tra sang Canađa từ 1/1/2014 đến 15/9/2014 đạt giá trị 28,9 triệu USD, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm 2013. Cá tra Việt Nam hiện là mặt hàng được nhập khẩu và tiêu thụ nhiều nhất trong nhóm hàng phile cá thịt trắng đông lạnh được nhập khẩu vào thị trường này.

    Giá xuất khẩu phile cá tra đông lạnh Việt Nam Canađa cũng tăng cao hơn năm ngoái tạo niềm tin cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Bên cạnh đó, cho thấy Canađa có nhu cầu cao về một số mặt hàng cá tuyết của Việt Nam như cá tuyết haddock và cá tuyết cod khi giá trị xuất khẩu của Việt Nam với các mặt hàng này hiện đứng ở vị trí thứ hai.

    Theo Thương vụ Việt Nam tại Canađa, đây là thị trường tự do có phong cách tiêu dùng tương đồng với thị trường Mỹ nên cơ hội tăng trưởng xuất khẩu các mặt hàng thủy sản nói chung và cá tra nói riêng rất lớn, bởi thị trường này không quá khắt khe như Mỹ.

    Đối với người tiêu dùng Canađa, dinh dưỡng, độ an toàn, tính tiện lợi và tính bền vững là những tiêu chí hàng đầu đánh giá chất lượng thủy sản, nhất là với thủy sản đông lanh. Họ sẵn sàng trả giá cao hơn cho các sản phẩm chất lượng cao.

    Do vậy, để đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản sang thị trường tiềm năng này, các nhà xuất khẩu không những phải nâng cao chất lượng sản phẩm để tăng tính cạnh tranh mà cần có chiến lược tiếp thị bài bản. Đặc biệt lưu ý đến nhãn mác hàng hóa, thời gian và điều kiện giao hàng, giá cả, khả năng cung ứng hàng.

    Ở khía cạnh khác, ông David Devine- Đại sứ Canađa tại Việt Nam- cho hay: Với kim ngạch nhập khẩu hàng hóa 500 tỷ USD mỗi năm, Canađa cũng là một thị trường cạnh tranh hết sức khốc liệt. Các nhà xuất khẩu Việt Nam cần lưu ý dù xảy ra một thất bại nhỏ, người mua hàng cũng sẽ nhanh chóng chuyển sang nhà cung cấp khác.

    Các sản phẩm tươi và đông lạnh như cá tra, tôm đang được người tiêu dùng Canađa ưa chuộng hơn nhưng họ cũng tương đối khắt khe về chất lượng do tiêu chuẩn sống cao. Xây dựng lòng tin với khách hàng về sản phẩm cá tra, sản phẩm tôm Việt chất lượng, đáp ứng yêu cầu về vệ sinh thực phẩm được coi là yếu tố quan trọng trong quá trình doanh nghiệp Việt Nam thâm nhập vào thị trường Canađa.

    Source: Hùng Cường, Báo Công Thương
  • Quảng bá hình ảnh con tôm thẻ Philippine
    Cùng với việc gia tăng sản lượng tôm thẻ, tiềm năng cho thị trường nội địa và xuất khẩu đã được thảo luận tại hội nghị lần thứ 9 của Philshrimp. Điểm yếu lớn nhất của liên kết các chuỗi cung ứng chính là lĩnh vực chế biến.

    Philippine được biết tới đến nhà xuất khẩu lớn của tôm tự nhiên và tôm nuôi. Theo ông Albin M. Ganchereo, phòng thương mại và công nghiệp Philippine, mặt hàng buôn bán chủ yếu là tôm sú đông lạnh xuất đi thị trường Nhật Bản nhưng sản lượng đang giảm trong 4 năm qua. Trong năm 2009, sản lượng tôm xuất khẩu sang Nhật Bản là 7.678 tấn, 6.911 tấn trong năm 2010, 6.857 trong năm 2011 và 4.219 trong năm 2012. Giá trị ước đạt trong năm 2012 là 43 triệu USD.

    Những dữ liệu được trình bày bởi Chingling R Tanco, MIDA Trade Ventures International Inc, và giám đốc ủy ban nghề cá và nuôi trồng thủy sản – đơn vị chịu trách nhiệm trong việc dỡ bỏ lệnh cấm nuôi tôm thẻ chân trắng tại Philippine, cho thấy xuất khẩu sang Mỹ tổng cộng 2.468 tấn trong năm 2013, tăng hơn 100% so với năm 2012 là 1241 tấn. Trong quý đầu tiên của năm 2014, sản lượng xuất khẩu tổng cộng là 964 tấn và ước chừng sản lượng có thể gấp đôi 2013. Tỉ lệ của tôm thẻ chân trắng ước chừng là 75% trong năm 2013 và 94% trong đầu quý 1 năm 2014.

    Trong cái nhìn tổng quan về tình hình kinh doanh tôm trên thế giới, Fatima Ferdouse, Infofish, Malaysia cho thấy rằng có một sự sụt giảm nhẹ về nguồn cung từ năm 2012. “Sản lượng tôm tăng ở Indonesia, Việt Nam và Ấn Độ không thể bù đắp được sự thâm hụt lớn ở Thailand, Trung Quốc, Việt Nam và Malaysia. Gía tôm liên tục giữ kỉ lục cao trên thế giới cho tới đầu năm nay đã ảnh hưởng tới các thị trường tiêu thụ chính, Nhật Bản, Mỹ và Châu Âu. Sự thâm hụt nguồn cung ở Đông Nam Á, thúc đẩy quá trình nhập khẩu liên vùng và và khu vực trong việc tiêu thụ sản phẩm nội địa. Gía tôm vẫn ở mức cao. Điều này làm giảm nhu cầu của 3 thị trường chính, Mỹ, EU và Nhật Bản”.

    Fatima kì vọng về thị trường tôm quốc tế sẽ ít biến động trong năm 2014. “Đồng yen cao tiếp tục ngăn cản nhập khẩu vào Nhật Bản trong khi giá nhập khẩu giảm 30% từ năm 2013. Tuy nhiên, sản lượng hàng nhập khẩu vẫn cao tại Trung Quốc, Hàn Quốc và Việt Nam. Trong năm 2013, nhập khẩu tăng 34% ở Trung Quốc. Việt Nam nhập khẩu tôm từ Ecuador tăng 4 lần trong năm 2012 so với năm 2011. Trong năm 2014, sản lượng tôm nhập khẩu vào các quốc gia này vẫn cao”.

    Trong suốt năm đầu tiên bắt đầu nuôi tôm thẻ năm 2009, thị trường nội địa có thể dễ dàng tiêu thụ một lượng hàng hóa nhỏ (4.500 tấn/năm) và nhu cầu tôm cỡ nhỏ (10-15g), nông dân có thể sản xuất được. Tuy nhiên, sản lượng đã leo dốc và các nhà sản xuất phải tìm thị trường cho sản phẩm tôm của họ ngoài thị trương tôm đông lạnh tại địa phương. Thông điệp tại hội nghị tôm Philippine lần thứ 9 tại Bacolod trong tháng 7 là ưu tiên cung cấp thị trường nội địa trước sau đó là phục vụ nhu cầu xuất khẩu. Cuộc họp đã xem xét lại những chiến lược quảng bá hình ảnh tôm nuôi và giải quyết tình trạng khó khăn của chuỗi cung ứng.

    Tiềm năng của thị trường nội địa

    Gina Regalado, phó giám đốc marketing, INTAQ Foods Inc,  phát biểu rằng, Philippine là quốc gia đông dân thứ 12 trên thế giới với khoảng 100 triệu người. Thu nhập đang tăng cao thúc đẩy nhu cầu tiêu thụ tôm. Quốc gia đã thu nhận được 12% GDP  từ kiều bào nước ngoài. Sự phát triển nhanh chóng của các trung tâm sản xuất, được biết như những khu chế xuất, đóng góp khoảng 5% GDP. Có 2 động lực mở rộng ngành bán lẻ địa phương. Chi phí cho thực phẩm chiếm tỉ lệ nhiều nhất với khoảng 35% thu nhập ở Philippine. Qúa trình đô thị hóa đã thay đổi thị trường bán lẻ và là động lực làm thay đổi phong cách sống. Manila là thị trường lớn nhất của các sản phẩm thủy sản theo sau là Cebu.

    Trong bài phát biểu về xu hướng phát triển thị trường tôm địa phương, Regaldo, một người kinh doanh tôm đáng tin cậy, đã đưa ra một số minh họa cụ thể cho chuỗi phân phối các sản phẩm tôm tươi và đông lạnh. Bao gồm thương lái, những đại lý bán lẻ, khách du lịch và các chợ. Gía bán niêm yết cho mức bán lẻ sẽ là từ 25% tới 30%. Trong chuỗi phân phối, tôm đông lạnh được vận chuyển bằng đường hàng không từ những vùng chế biến ngoài đảo Luzon. Phí vận chuyển cao và Regaldo nói rằng chi phí sẽ rẻ hơn khi nhập khẩu tôm từ Việt Nam từ Davao ở phí Nam, hơn là mang tôm đông lạnh từ Bacolod đến Manila.

    Theo Regaldo, khoảng 15.000 tấn tôm sẽ được tiêu thụ bởi thị trường nội địa hàng năm. Các siêu thị và các trung tâm thương mại là những nhà phân phối chính cho thị trường bán lẻ và cung cấp 20% cho giới trung lưu và thượng lưu Philippine. Những người dẫn đầu xu hướng về thương hiệu các sản phẩm địa phương bao gồm Puregold, SM, Robinsons và Rustans. Bên cạnh lượng hải sản được tiêu thụ bởi các trung tâm thương mại, còn có rất nhiều đầu ra nhỏ. “Thị trường horeca địa phương bao gồm các cửa hàng thức ăn nhanh, có sản phẩm tôm trong thực đơn, đã nhập khẩu nguồn tôm đông lạnh. Có một sự tăng nhanh số lượng các nhà hàng như vậy với nhiều nhu cầu khác nhau bao gồm các hợp đồng cung cấp 3-6 tháng, chất lượng thích hợp, kích thước đồng nhất và được phân phối hàng tuần. Điều đó có nghĩa các nhà sản xuất cần phải chế biến và bảo quản các sản phẩm” – ông Regaldo phát biểu.

    “Chất lượng của sản phẩm cung cấp cho các trung tâm thương mại và thị trường horeca bây giờ vượt xa những sản phẩm tôm đông lạnh mà chúng ta có thể cung cấp hiện tại cho các đại lý và thị trường bán lẻ. Phạm vi đa dạng từ những sản phẩm tôm đông lạnh rời nhanh (IQF) hoặc đông lạnh nguyên khối (HOSO) hoặc bỏ đầu (HLSO) hoặc tôm lớn cho những nhà hàng chất lượng cao và rất nhiều dạng sản phẩm tôm bóc vỏ đông lạnh nhanh cung cấp cho các siêu thị. Có những tiêu chuẩn nhất định về bao gói: tôm cần được bao gói chân không, hoàn thiện với nhãn mác có thông tin rõ ràng về dinh dưỡng, mã vạch, ngày sản xuất và ngày hết hạn. Có một nhu cầu về sản phẩm tôm chất lượng cao nobashi, dạng sản phẩm ở cỡ 11g, 13g, 15g và 18g được bỏ ruột và giữ nguyên đuôi (PDTO) xuất khẩu chủ yếu sang Nhật Bản để phục vụ những bữa tiệc buffet và thậm chí là các siêu thị. Nếu các nhà sản xuất đã chuẩn bị sẵn sàng, sẽ tiết kiệm cho các nhà hàng và siêu thị trong khâu chuẩn bị”.

    Xuất khẩu sản phẩm tôm Philippine

    Các nhà sản xuất và xuất khẩu từ Philippine đang quen thuộc với thị trường Nhật Bản, đó là đối tác chính trong 35 năm qua. Trong bài phát biểu về thị trường Mỹ và EU, Tanco nói rằng thị trường Mỹ đang có được giá ổn định  và sản lượng lớn cho tôm thẻ chân trắng. EU là thị trường lớn nhất với nhu cầu 780.000 tấn hàng năm tuy nhiên có những tiêu chuẩn và chỉ tiêu kĩ thuật khác nhau. Với sự khác nhau về các tiêu chuẩn trong 27 nước EU sẽ dẫn đến công tác hành chính là khổng lồ. Các chỉ tiêu EU phải được phê chuẩn bởi một số lượng các nước EU. Nga là một thị trường tiềm năng tuy nhiên không phản hồi lại nhu cầu của các nhà nhập khẩu.

    “Tổng quát lại, trước khi chúng ta có thể bắt đầu xuất khẩu, những thách thức là giá cả, an toàn thực phẩm, sự ổn định môi trường và trách nhiệm xã hội. Cũng có vấn đề về truy xuất nguồn gốc đối với EU  và thị trường cao cấp Mỹ, chỉ có 88 trại được BFAR (văn phòng quản lý nguồn lợi thủy sản Philippine) cấp chứng nhận sản xuất tôm thẻ chân trắng và 111 trại đối với tôm sú. Cả hai thị trường đều muốn tăng trưởng cần yêu cầu chứng nhận của bên thứ 3 như là một yêu cầu quan trọng đối với người bán lẻ. Một số chứng nhận (của nhà nước) là không đủ. Đối với thị trường EU, dán nhãn yêu cầu 8-12 ngôn ngữ. Đối với thị trường Mỹ, yêu cầu chứng nhận BAP 1-2 sao và một số chứng nhận BSCI (trách nhiệm đối với xã hội)”.

    Trong thị trường EU, Philippine có ưu thế GSP (chương trình ưu đãi tổng quát) và sớm sẽ được chứng nhận GSP+ để cạnh tranh với Thailand và Malaysia đang đối mặt với vấn đề áp thuế 12% trong tháng 1/2014. Xuất khẩu sang Nhật Bản cũng được ưu đãi áp thuế 0% do thỏa thuận song phương Philippine – Nhật Bản. Một số sản phẩm tiêu biểu, Tanco liệt kê gồm tôm tươi bỏ đầu, bỏ chỉ lưng; tôm tách vỏ, nấu nhanh và giữ nguyên đuôi cho thị trường Mỹ và tôm tách vỏ, giữ nguyên đầu hoặc nguyên con chế biến cho thị trường Pháp và Tây Ban Nha.

    Liên kết mạng lưới chế biến

    Mặc dù sản lượng đã tăng, nhưng lĩnh vực chế biến chưa phát triển song hành. “Có quá ít những kế hoạch hoặc năng lực sản xuất quá hạn chế. Năng suất là 3 tấn/ngày. Một số trang thiết bị quá cũ và không hiệu quả. Thiết bị IQF hoặc quá ít hoặc quá mới. Hoàn toàn không có khả năng gia nhiệt. Các nhà sản xuất sử dụng quá ít công nhân, được sử dụng chủ yếu để gia công hàng xuất khẩu sang Nhật Bản. Trong sản xuất gia công tôm thẻ chân trắng cần ít nhất 300-500 công nhân để có thể sản xuất 5-10 tấn sản phẩm mỗi ngày. Chứng nhận của bên thứ 3 chưa được hiểu kĩ càng. Chính phủ bảo thủ về hệ thống các chứng nhận và gây khó khăn cho nông dân; với những chứng nhận như GMP và HACCP phức tạp hơn rất nhiều tiêu chuẩn EU. So sánh với Ấn Độ đã phát triển đông lạnh IQF một vài năm trước, Philippine vẫn tập trung vào lạnh đông khối.

    Tanco quay trở về thông điệp sản xuất đình trệ của ngành chế biến của địa phương.  “Chuỗi cung ứng là nông dân – người sản xuất – thị trường và chúng ta phải làm việc cùng nhau. Khi sản lượng tăng, lĩnh vực chế biến phải cùng phát triển theo, mặc cho đó là sản phẩm tiêu thị nội địa hoặc xuất khẩu. Thị trường tiêu thụ nội địa không chỉ phụ thuộc vào sản phẩm đông lạnh với nhu cầu giới hạn. Các nhà sản xuất ở Visayas phụ thuộc vào các nhà chế biến khi chi phí là 30-50 peso/ kg để vận chuyển tôm đến Luzon. Số lượng và vị trí của các cơ sở chế biến và các kho bả quản lạnh nhỏ và còn phải chia sẻ với thịt và gia cầm. Chỉ có một cơ sở chế biến tôm uy tín hoạt động tại khu vực General Santos”.

    Regalado nói: “Các nhà sản xuất cần tăng sản lượng trước và sau đó giải quyết vấn đề 1 vụ/năm và dịch bệnh phát sinh. Các nhà chế biến cần phát triển khả năng sản xuất các mặt hàng giá trị gia tăng để cung cấp cho thị trường địa phương”.

    Một cách tóm tắt, Tanco nói: “Mặc dù chúng tôi có một số kế hoạch mới trong năm 2014, việc hỗ trợ công nghiệp chế biến cũng quan trọng như phát triển ngành chăn nuôi. Như vậy, BFAR và PhilShrimp nên nhận sự trợ giúp của DTI phát triển ngành thủy sản. Điều đó bao gồm hỗ trợ vốn, miễn thuế nhập khẩu thiết bị và đơn giản hóa thủ tục hành chính. Chính phủ nên giải quyết những vấn đề về an toàn thực phẩm, môi trường và trách nhiệm xã hội, áp dụng các phương pháp chế biển thủy sản hiện đại. Họ cũng khuyến cáo các bên trung gian chứng nhận chất lượng nguồn nước, đất, trại giống và nhà máy sản xuất thức ăn gia súc. Lĩnh vực chế biến thủy sản nên được tổ chức lại và cộng tác với nhau để chỉ ra các vấn đề trên. Đó là cách duy nhất để chính phủ có thể lắng nghe họ”.

    Người dịch: KS ĐỖ NGỌC TUẤN - CÔNG TY VINHTHINH BIOSTADT
    Nguồn: AQUACULTURE ASIA PACIFIC - THÁNG 9 - 10/2014
  • Mô hình nuôi ghép cá rô phi lai xa dòng Isarel theo hướng an toàn đạt hiệu qua...
    Đó là kết quả được đánh giá tại Hội thảo mô hình nuôi ghép cá rô phi lai xa dòng Isarel với các loài cá truyền thống khác (cá rô phi là chính) theo hướng an toàn diễn ra ngày 23 tháng 10 năm 2014, tại xã Hưng Đạo, Tứ Kỳ, Hải Dương.

    Đây là mô hình thuộc “Chương trình phát triển sản xuất nông sản hàng hóa góp phần xây dựng nông thôn mới tỉnh Hải Dương giai đoạn 2012-2015”.

    Năm 2014, mô hình được triển khai tại các huyện Tứ Kỳ, Bình Giang và thị xã Chí Linh với quy mô 13ha, có 34 hộ tham gia, thực hiện theo công thức nuôi ghép (tính cho 1ha): cá rô phi (20.000con), cá mè (500con), cá chép (1.000con) và cá trắm cỏ (1.000con).

    Khi tham gia mô hình các hộ trong vùng triển khai mô hình được tham gia tập huấn về mục tiêu, nội dung và mức hưởng lợi từ mô hình; quy trình kỹ thuật nuôi từ khâu chuẩn bị ao ương đến thời điểm thu hoạch thích hợp. Trước khi nhập giống, các hộ nuôi được các bộ kỹ thuật hướng dẫn và giám sát quá trình xử lý đáy ao (tát cạn, phơi ao xử lý bằng vôi bột, lọc và đưa nước vào ao…).

    Theo đánh giá kết quả tại hội thảo, cá khỏe mạnh, sinh trưởng phát triển tốt, tỷ lệ sống cao, cá bị mắc bệnh duy nhất 1 lần tại 2 hộ của mô hình (ở 2 điểm huyện Chí Linh và Tứ Kỳ, nguyên nhân do không chủ động được nguồn nước nên nước bị ô nhiễm), nhờ được phát hiện và chỉ đạo điều trị kịp thời nên sau 5 ngày cá đã khỏe mạnh, cá có tỷ lệ đồng đều cao, trọng lượng đạt trên 0,7kg/1con (nhập giống ngày 27-29/4/2014, trọng lượng 400con/kg).

    Qua đánh giá hiệu quả kinh tế tại thời điểm Hội thảo, 1 ha mô hình cho tổng thu 575 triệu đồng, trừ các khoản chi phí và công lao động cho lợi nhuận 118,312 triệu đồng/ha.

    Tại Hội thảo, ông Nguyễn Văn Bột – Phó Chủ tịch UBND huyện Tứ Kỳ cho biết: “Mô hình nuôi ghép cá rô phi lai xa dòng Isarel theo hướng an toàn một lần nữa đã khẳng định được tính ưu việt, phù hợp với điều kiện của huyện Tứ Kỳ nói riêng và của tỉnh Hải Dương nói chung. Trong quá trình theo dõi và mở rộng sản xuất cho thấy cá rô phi lai xa dòng Isarel cho chất lượng thịt thơm ngon, giống lại không sử dụng hóc môn chuyển giới tính vào sản xuất nên rất an toàn cho người sử dụng, mô hình cho hiệu quả kinh tế mang lại lợi nhuận cao cho người dân. Đồng thời, mô hình cũng nâng cao nhận thức, trình độ dân trí. Đó là những kết quả không nhỏ góp phần xây dựng nông thôn mới”.

    Source: Trần Cảnh, Trung tâm Khuyến nông Hải Dương.
    Theo Trung Tâm KN Quốc Gia
  • Xây dựng các giải pháp phòng, chống dịch bệnh đốm trắng và hoại tử gan tụy cấp t...
    Cục Thú y – Bộ Nông nghiệp và PTNT cho biết, theo số liệu báo cáo của các địa phương, từ năm 2012 đến nay, dịch bệnh đốm trắng trên tôm nuôi đã và đang có chiều hướng gia tăng. Trung bình hàng năm dịch bệnh đốm trắng chiếm khoảng 50% tổng diện tích nuôi tôm bị thiệt hại; dịch bệnh hoại tử gan tụy cấp tuy có giảm về diện tích, nhưng tăng về phạm vi (số xã, huyện, tỉnh) có dịch bệnh.

    Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã chỉ đạo Cục Thú y chủ trì, phối hợp với Tổng cục Thủy sản và các địa phương hướng dẫn người nuôi triển khai nhiều biện pháp phòng, chống. Tuy nhiên, hiệu quả còn chưa cao, dịch bệnh vẫn xảy ra trầm trọng, gây thiệt hại hàng nghìn tỷ đồng cho người dân và ngân sách nhà nước.

    Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và PTNT, Cục Thú y vừa có Công văn số 1846/TY-TS đề nghị các đơn vị triển khai nhiệm vụ "Xây dựng giải pháp phòng, chống dịch bệnh đốm trắng và hoại tử gan tụy cấp trên tôm nuôi", nhằm tìm ra giải pháp phòng, chống hiệu quả hơn.

    Nội dung nhiệm vụ xây dựng có hai nội dung chính đó là: Giám sát lưu hành bệnh, tác nhân gây bệnh đốm trắng WSSV (giống Whispovirus thuộc họ Nimaviridae) và gây bệnh hoại tử gan tụy cấp EMS/AHPND (vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus mang gen gây bệnh) trên tôm nuôi; Nghiên cứu chuyên sâu trong phòng thí nghiệm.

    Theo đó, lựa chọn 8 tỉnh có chủ đích trong đó 6 tỉnh nuôi tôm thương phẩm: Quảng Ninh, Nam Định, Hà Tĩnh, Bến Tre, Trà Vinh và Sóc Trăng và 2 tỉnh sản xuất tôm giống: Ninh Thuận và Bình Thuận để tiến hành lấy mẫu. Thời điểm lấy mẫu: Trước lúc thả nuôi 02 tuần và sau khi thu hoạch 02 tuần, liên tục trong 04 tháng (20 tuần), bắt đầu từ 11/2014 đến hết tháng 2/2015.

    Triển khai nội dung này nhằm đánh giá thực trạng nuôi tôm giống và tôm thương phẩm tại một số địa phương trọng điểm về nuôi tôm; đánh giá thực trạng quan trắc môi trường, giám sát dịch bệnh của người nuôi tôm và của các cơ quan chuyên ngành về nuôi trồng, thú y thủy sản và đánh giá mức độ lưu hành virus đốm trắng tại một số địa phương trọng điểm về sản xuất tôm giống và nuôi tôm thương phẩm; đồng thời xác định một số yếu tố nguy cơ có liên quan đến lưu hành virus đốm trắng và dịch bệnh đốm trắng trên tôm nuôi; đánh giá, lựa chọn bộ kit chuẩn nhằm hướng dẫn để các địa phương sử dụng xét nghiệm bệnh đốm trắng và bệnh hoại tử gan tụy cấp.

    Source: Trung Tâm KN Quốc Gia
  • Male seahorse giving birth (cá ngựa đực sinh con)
    Cá ngựa sinh con theo một cách kỳ lạ: con đực mang thai. Theo báo cáo của Công trình nghiên cứu về cá ngựa thì cá cái đưa trứng vào túi ấp của cá đực làm cho con đực có vẻ như đang mang thai. Những nghiên cứu mới đây cho thấy rằng cá đực truyền tinh dịch của chúng ra xung quanh chứ không đưa trực tiếp vào túi ấp. Thời gian mang thai từ 2-3 tuần.

    Trứng cá ngựa nở khi nào phụ thuộc vào bố mẹ của chúng. Một số trải qua thời gian phát triển chung với những phiêu sinh vật biển. Đôi khi những con cá ngựa đực có thể ăn một số con của nó trước khi chúng được tự do. Những loài cá ngựa khác ngay lập tức bắt đầu cuộc sống dưới đáy biển.

    Thông thường cá ngựa sống thành cặp, nhưng có một số loài sống thành bầy đàn. Khi sống thành cặp, cá ngựa thường giao phối vào sáng sớm hoặc đôi khi vào chập tối để củng cố thêm mối quan hệ của chúng. Phần thời gian còn lại chúng dành cho việc tìm thức ăn.

    www.aquanetviet.org