-
Sự thay đổi hàm lượng oxy hòa tan trong nước sẽ làm thay đổi tình trạng sinh ly trong cơ thể của giáp xác. Hàm lượng oxy hòa tan trong nước thấp đã làm thay đổi tỉ lệ sống, tần số hô hấp, hệ thống tuần, và ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất cũng như quá trình lột xác của một số loài tôm nước lợ (Seidman và Lowrence, 1985; Clark, 1986; Aquacop et al., 1988).
Tôm càng xanh bị sốc nếu hàm lượng oxy hòa tan trong nước giảm đột ngột dưới 2mg/L và ngưỡng oxy của tôm càng xanh là 0.5 mg/L (Avault, 1986). Trong thí nghiệm này áp suất thẩm thấu và nồng độ các ion Na+, K+ và Cl- đã giảm có nghĩa (P<0.05) sau 24 giờ đưa tôm vào môi trường có nồng độ oxy thấp (2.75 và 1.75 mg/L), và chỉ số này được duy trì cho đến khi kết thúc thí nghiệm. Hàm lượng oxyhemocyanin và protein tăng cao đến 1.8 và 1.89 mmol/L và 188 mg/L và 190 mg/L theo thứ tự. Điều này cho thấy khi môi trường bi giảm nồng độ oxy hòa tan tôm đã tăng cường lượng hemocyanin kết hợp với oxy đến mức cao nhằm cung cấp đủ oxy cho quá trình hô hấp. Khi đưa tôm vào môi trường có nồng độ oxy thấp cũng dẫn đến hiện tượng gia tăng pH máu một cách có ý nghĩa, pH tăng từ 7.54 lên 7.85 sau 12 giờ ở nồng độ oxy hòa tan là 1.75 mg/L. Sự giảm hàm lượng oxy hòa tan trong nước cũng dẫn đến hiện tượng gia tăng áp suất của CO2 trong máu tôm, chính điều này giải thích tại sao tôm lờ đờ bỏ ăn khi nồng độ oxy ngòai môi trường nuôi giảm. Trong thí nghiệm này cho thấy ở nồng độ oxy hòa tan trong nước là 1.75 mg/L áp suất CO2 trong máu tôm tăng từ 7.6 mmHg lên đến 11.54 mmHg sau 12 giờ. Một chỉ tiêu sinh ly máu quan trường nửa liên quan đến quá trình điều hòa áp suất thẩm thấu duy trì môi trường trong thích hợp cho các tế bào máu hoạt động đó là ion Cl- và HCO3-, nồng độ HCO3- trong máu tôm tăng cao nhất sau 12 giờ (14.6 mg/L) ở nồng độ oxy hòa tan là 2.75 mg/L, và 18.4 mg/L ở nồng độ oxy hòa tan là 1.75 mg/L. Nồng độ này có thể trở lại ở mức bình thường sau 24 giờ nếu hàm lượng oxy hòa tan trong nước ở mức cao hơn 2.75 mg/L, đối với môi trường có nồng độ oxy thấp hơn thì tôm không có khả năng điều hòa được, do đó chúng phải duy trì ở mức cao 8.9-9.3 mg/L. Như vậy trong điều kiện thiếu oxy các chỉ số như hàm lượng hemocyanin, protein, pH và áp suất của khí CO2 trong máu gia tăng có y nghĩa, trong khi áp suất thẩm thấu và các thành phần ion trong máu giảm một cách đáng kể, điều này khuyến cáo về khía cạnh kỹ thuật cho người nuôi giáp xác là yếu tố oxy hòa tan trong môi trường nuôi là yếu tố rất quan trọng nó liên quan nhiều đến các hoạt động của đối tượng nuôi, từ đó dẫn đến mức độ thành công của người nuôi.
Người dịch: Đỗ Thị Thanh Hương – Khoa Thủy sản – Đại học Cần Thơ.
Nguồn: Cheng W.; C. H. Liu; C. M. Kuo (2003) Effects of dissolved oxygen on hemolymph parameters of freshwater giant prawn, Macrobrachium rosenbergii (de Man). Aquaculture 220: 843-856.-
By
Admin - 0 comments
- 2 likes
-
By
-
Do thức ăn chế biến cho các giai đoạn đầu của ấu trùng cá biển vẫn chưa được phát triển, do đó trong các trại sản xuất giống nước lợ, mặn vẫn duy trì việc sử dụng các thức ăn sống là chủ yếu.
Tuy nhiên, trong luân trùng nuôi, hàm lượng eicosapentaenoic acid (EPA: 20:5n-3) và docosahexaenoic acid (DHA: 22:6n-3) tương đối thấp nên cần phải giàu hoá nguồn thức ăn sống này bằng các dung dịch dầu có nguồn gốc từ động vật biển. Việc sử dụng các dung dịch dầu làm giàu hoá luân trùng trong thời gian ngắn có thể làm tăng EPA và DHA. Tuy nhiên, hàm lượng này có khuynh hướng giảm nhanh trong hệ thống tiêu hoá gây ra sự mất cân bằng giữa tỉ lệ protein/lipid. Thay vì làm giàu hoá luân trùng bằng các dung dịch dầu, người ta thường sử dụng các thức ăn đặc chế khi muốn giảm hàm lượng dinh dưỡng trong môi trường nuôi. Việc sử dụng các thức ăn đặc chế này góp phần không những làm giàu dinh dưỡng trong hệ thống tiêu hoá của luân trùng mà còn góp phần giúp cho thành phần dinh dưỡng trong cơ thể luân trùng ổn định, điều này đặc biệt quan trọng trong trường hợp luân trùng không được các ấu trùng sử dụng ngay khi cho ăn.
Các kỹ thuật nuôi luân trùng mới như hệ thống tuần hoàn khép kín có khả năng cung cấp luân trùng có chất lượng cao, liên tục ở mật độ cao hơn gấp 10 lần so với hệ thống nuôi theo mẽ. Năng suất trong hệ thống tăng cao được giải thích là do chất lượng nước tốt nhờ ứng dụng hệ thống tách đạm, xử lý ozone và lọc sinh học. Mặc dù việc việc loại bỏ vi khuẩn ra khỏi luân trùng vẫn còn hạn chế nhưng qua quan sát cho thấy quần thể luân trùng được nuôi ở mật độ cao thì không làm gia tăng thêm sự hiện diện của vi khuẩn. Ứng dụng hệ thống nuôi tuần hoàn hoặc bằng cách quản lý vi sinh (sử dụng probionts) giúp cho việc sản xuất luân trùng ổn định và hạn chế được trở ngại do tỉ lệ chết cao không giải thích được trong hệ thống nuôi theo mẻ.
Người dịch: Trần Sương Ngọc- Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
Nguồn tin: Philippe D., G. Rombaut, G. Suantika, P. Sorgeloos (2001). Advancement of rotifer culture and manipulation techniques in Europe. Aquaculture, 129-146-
By
Trieu Thanh Tuan - 0 comments
- 0 likes
-
By
-
Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu tìm hiểu khả năng nuôi sinh khối copepoda Microsetella norvegica làm thức ăn cho ấu trùng cá biển. Nghiên cứu được tiến hành bằng việc khảo sát sự phân bố, phân lập và nhân giống M. norvegica từ mẫu thu được ở các thủy vực tự nhiên và ao nuôi thuỷ sản tại Sóc Trăng.
Kết quả khảo sát cho thấy M. norvegica phân bố ngoài tự nhiên ở độ mặn từ 16 %o đến 49 %o với mật độ 2.000-23.500 cá thể/m3 và từ 21 %o đến 35 %o với mật độ 4.900-92.000 cá thể/m3 trong các ao nuôi thủy sản. Sau 27 ngày nhân giống số lượng M. norvegica đạt được đủ để bố trí các thí nghiệm về ảnh hưởng của các loài tảo và mật độ tảo sử dụng làm thức ăn cho copepoda, cũng như ảnh hưởng của độ mặn lên khả năng tăng trưởng và phát triển của copepoda. Các thí nghiệm được bố trí trong phòng với nhiệt độ được khống chế ở 29-30oC và cường độ ánh sáng 1.500 lux trong các cốc thủy tinh 1L.
Ở thí nghiệm 1, 4 nghiệm thức tương ứng với 4 loại tảo bao gồm Isochrysis galbana, Chaetoceros calcitrans, Dunaliella tertiolecta và hỗn hợp 3 loài tảo trên với tỉ lệ 1:1:1 được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 6 lần lặp lại và copepoda được cho ăn thoả mãn hàng ngày. Qua 29 ngày nuôi, M. norvegica được cho ăn hỗn hợp tảo có quần thể phát triển tốt nhất với 2 chu kỳ phát triển rõ rệt ở ngày thứ 12 (43.367 ± 9.360 cá thể/L) và ngày thứ 20 (60.667 ± 12.822 cá thể/L) và khác biệt có ý nghĩa (P<0,05) so với các nghiệm thức khác.
Trong thí nghiệm 2, với các mật độ tảo cho ăn khác nhau bao gồm 200.000 tb/mL, 500.000 tb/mL, 800.000 tb/mL và 1.100.000 tb/mL tảo hỗn hợp, với 6 lần lặp lại, quần thể M. norvegica phát triển tốt nhất ở nghiệm thức 1.100.000 tb/mL cũng với 2 chu kỳ phát triển rõ rệt. Mật độ quần thể cao nhất đạt được ở ngày thứ 12 với 52.167 ± 18.321 cá thể/L và ngày thứ 22 với 61.367±7.898 cá thể/L, và khác biệt có ý nghĩa (P<0,05) so với các nghiệm thức khác. Ở thí nghiệm 3, quần thể M. norvegica được nuôi trong các độ mặn 20, 25, 30, 35 và 40%o và kết quả cho thấy, quần thể copepoda phát triển tốt ở độ mặn từ 20%o đến 30 %o và khác biệt có ý nghĩa (P<0,05) với quần thể ở các độ mặn 35 %o và 40%o. Quần thể của M. norvegica phát triển tốt nhất ở 20%o với chu kỳ phát triển ngắn hơn và mật độ cao hơn sau 12 ngày (62.933 ± 6.353 cá thể/L) và 20 ngày (57.967 ± 20.860 cá thể/L).
Nguồn: Luận văn cao học
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Liên, Lớp Cao học Nuôi trồng Thủy sản K9, Đại học Cần Thơ-
By
Trieu Thanh Tuan - 0 comments
- 1 like
-
By
-
BHA (Butylated Hydroxylanisole) là hỗn hợp của hai hợp chất đồng phân hữu cơ, 2-tert-butyl-4-hydroxyanisole và 3-tert-butyl-4 hydroxyanisole. BHA có công thức phân tử C11H16O2, là chất rắn màu trắng, giống sáp, tan dễ dàng trong chất béo, dung môi hữu cơ, không tan trong nước; có mùi phenol đặc trưng, mùi này không thể hiện trong hầu hết các trường hợp sử dụng, nhưng có thể được nhận biết ở nhiệt độ cao; là một hợp chất bay hơi dễ dàng và có thể chưng cất được nên nó có thể bị tổn thất khỏi sản phẩm khi bị nung nóng ở nhiệt độ cao. BHA có thể phản ứng với kim loại kiềm tạo sản phẩm có màu hồng.
BHT (Butylated Hydroxyltoluene) là chất được tạo ra bởi 4-methylphenol với isobutylene (2-methylpropene) có acid sulfuric làm xúc tác (Helmut Fiege et al., 2000); BHT cũng có thể được tạo ra từ 2,6-di-tert-butylphenol bởi hydroxymethylation hoặc từ thủy phân aminomethylation. Ở thực vật phù du (bao gồm cả tảo lục), Botryococcus braunii, cũng như các vi khuẩn lam Cylindrospermopsis raciborskii, Microcystis aeruginosa và Oscillatoria sp. là có khả năng sản xuất ra BHT (Babu B., Wu J.T., 2008). BHT có công thức phân tử là C15H24O là một chất rắn màu trắng, ở dạng tinh thể, không tan trong nước, tan trong chất béo, bị tổn thất dưới tác dụng của nhiệt. BHT có tác dụng chống oxy hóa kém hơn BHA. Điều này được giải thích là do cấu tạo của nó cồng kềnh hơn BHA. Sự có mặt của sắt trong một số sản phẩm thực phẩm hay bao bì, BHT có thể tạo ra màu vàng.

BHA và BHT là những phụ gia chống oxi hóa có bản chất phenolic, chúng có khả năng ức chế hoặc ngăn ngừa phản ứng tự oxy hóa các glycerit bởi gốc tự do. Khả năng này có liên quan đến cấu trúc phân tử hay cấu hình của phenolic, Phenol (đóng vai trò là chất cho điện tử) ngăn cản sự hình thành các gốc tự do ban đầu (R làm cản trở tiến trình oxi hóa dầu mỡ. Gọi AH là chất chống oxy hóa chất béo.
BHA được sử dụng như là một chất phụ gia chống oxy hóa và chất bảo quản trong thực phẩm, đóng gói thực phẩm, thức ăn chăn nuôi, mỹ phẩm, cao su và các sản phẩm dầu khí. BHA cũng thường được sử dụng trong các loại thuốc, chẳng hạn như isotretinoin, lovastatin, simvastatin. Từ năm 1947, BHA đã được thêm vào chất béo và thực phẩm có chứa chất béo do đặc tính chống oxy hóa của nó vì nó ngăn cản thực phẩm ôi thiu và các mùi khó chịu (Lam et al., 1979). BHA được thêm vào bơ, mỡ lợn, thịt, ngũ cốc, bánh nướng, bánh kẹo, bia, dầu thực vật, khoai tây chiên, thức ăn nhanh, các loại hạt và các sản phẩm từ hạt, khoai tây khử nước, và các hương liệu. Nó được sử dụng trong xúc xích, những sản phẩm thịt và gia cầm, hỗn hợp khô cho đồ uống và món tráng miệng, trái cây, kẹo cao su, men khô, chất tạo bọt cho củ cải đường và chất ổn định nhũ tương để rút ngắn thời gian (IARC 1986). BHA ổn định lớp phủ sáp dầu của bao bì thực phẩm (HSDB, 2009). BHA được Cục Quản lý Dược và thực phẩm Mỹ (FDA) công nhận là an toàn khi hàm lượng của nó không vượt quá 0,02% tính theo tổng số chất béo hoặc dầu của thức ăn. BHA là một trong những chất chống oxy hóa chính được sử dụng trong thức ăn, bởi vì nó làm chậm quá trình oxy hóa của vitamin A, chất béo và các loại dầu thực vật. Nó là một chất ổn định hiệu quả cho các loại tinh dầu, parafin, và polyethylenes (HSDB 2009).
BHA khi vào cơ thể qua đường miệng, nó được hấp thu qua dạ dày, ruột và được bài tiết nhanh chóng. Thử nghiệm này được tiến hành trên chuột, thỏ và người. BHA cũng được chuyển hóa bằng phản ứng kết hợp. Thử nghiệm cũng cho thấy BHA có độc tính thấp. Giá trị LD50 là 2000mg/kg thể trọng gây rối loạn động vật thí nghiệm; LD50 từ 50 - 100mg/kg thể trọng gây rối loạn ở người. Tác dụng gây độc mãn tính của BHA cũng được thử nghiệm ở chuột, chó và khỉ. Người ta cho các động vật này ăn khẩu phần có vài phần trăm BHA (gấp vài ngàn lần liều lượng mà con người đưa vào cơ thể) trong hai năm, kết quả cho thấy rằng BHA không bị xem là mối nguy đối với sự sinh sản và phát triển. Đối với sự hình thành khối u, năm 1982, người ta đã tìm thấy khối u ác tính ở chuột khi được cho ăn ở liều lượng 2% trong khẩu phần (gần 0, 8g/kg thể trọng một ngày) trong hai năm. Tuy nhiên, khối u ác tính không hình thành khi cho ăn ở liều lượng 0, 5% trong cùng điều kiện.
BHT được Liên minh châu Âu và Mỹ cho phép sử dụng, chủ yếu như một phụ gia thực phẩm để khai thác các đặc tính chống oxy hóa của nó. Ngoài ra, nó còn được sử dụng trong mỹ phẩm, dược phẩm, cao su, dầu máy biến áp điện, trong các chất lỏng thủy lực, tua bin và các loại dầu bánh răng và nhiên liệu máy bay phản lực (Michael Ash, Irene Ash, 2004). BHT cũng được sử dụng để ngăn chặn sự hình thành peroxide trong dietyl ete và hóa chất thí nghiệm khác (Sigma Aldrich, 2012).BHT được thử nghiệm trên loài gặm nhắm, chuột và người cho thấy khi BHT đi vào cơ thể qua đường miệng sẽ được hấp thụ nhanh chóng qua dạ dày, ruột, sau đó sẽ được thải ra ngoài theo nước tiểu và phân. Ở người, sự bài tiết BHT thông qua thận cũng được thử nghiệm khi cho ăn với khẩu phần có chứa 40mg/kg thể trọng. Nghiên cứu cho thấy 50% liều lượng này được bài tiết ra ngoài trong 24 giờ đầu và 25% liều lượng còn lại được bài tiết trong 10 ngày tiếp theo. Sự chuyển hóa thông qua con đường oxy hóa; trong đó sự oxy hóa nhóm methyl trội ở loài gặm nhắm, thỏ và khỉ, còn sự oxy hóa nhóm tert – butyl thì trội ở người.
BHT ít có khả năng gây độc cấp tính. Giá trị LD50 lên đến 1000mg/kg thể trọng ở tất cả các loài được thử nghiệm. Thử nghiệm trên động vật cho thấy, liều lượng BHT cao khi đưa vào cơ thể trong 40 ngày hoặc hơn sẽ gây độc cho các cơ quan. Liều lượng BHT cao ở các loài vật được thử nghiệm cũng gây ra các ảnh huởng sau: làm tăng sự hấp thu iod ở tuyến giáp, tăng trọng lượng của tuyến trên thận, giảm khối lượng của lá lách, làm chậm quá trình vận chuyển các acid hữu cơ, gây tổn thương thận. Một số lượng lớn các nghiên cứu đã được tiến hành trên một vài loài để xác định độc tính đối với sự sinh sản và phát triển. Tổ chức sức khỏe thế giới (WHO) cũng đã xem xét các thử nghiệm trên và kết luận rằng với liều lượng ăn vào là 50mg/Kg thể trọng sẽ không gây ra độc tính ở bất cứ cấp độ nào. BHT cũng không bị xem là chất độc đối với sự sinh sản và phát triển. Các thử nghiệm trên một số loài động vật cho thấy BHT cũng không là chất độc có khả năng di truyền. Những nghiên cứu về các chất sinh ung thư cũng được tiến hành trên chuột. Kết quả cho thấy, BHT có thể là tác nhân xúc tiến cho một vài chất sinh ung thư hóa học. Tuy nhiên, tính xác đáng cho những ảnh hưởng này đối với con người thì không rõ ràng. BHT được bán trên thị trường như là một thực phẩm bổ sung sức khỏe dưới dạng viên nang. Trong mỡ động vật, nếu sử dụng một mình BHA là ít hiệu quả hơn BHT, nhưng hiệu quả của nó tăng lên cùng với việc bổ sung acid citric, acid phosphoric, lecithin và methione. (Madhavi D.L. và CS, 1995).
BHA và BHT cùng với Ethoxyquin là những chất chống oxy hóa tổng hợp phổ biến được đưa vào thức ăn nuôi tôm, cá với mục đích chống oxy hóa chất béo có trong các nguyên liệu; Trong đó, Ethoxyquin là chất sử dụng nhiều nhất trên thế giới trong công nghệ sản xuất bột cá và dầu cá(A.A. Spark, 1982; .J.Koning, T.H.Mol, 1989), trong các loại dầu khác, mỡ và các loại bột thịt (L. Tamir, M. Prusikova, J. Pospisil, 1991). Hiện nay, vấn đề ảnh hưởng của lượng tồn dư Ethoxyquin đang xảy ra nhiều tranh cãi, BHA và BHT là những chất tiềm năng có thể được lựa chọn để thay thế cho Ethoxyquin nhằm giữ được thị trường Nhật Bản, là thị trường tiêu thụ các mặt hàng thủy sản lớn nhất của nước ta./.
Nguồn: TS. Ngô Hữu Toàn – Khoa Thủy sản, Trường Đại học Nông Lâm Huế, Công ty UV-Vietnam.-
By
Trieu Thanh Tuan - 0 comments
- 1 like
-
By
-
Hội thảo về "Bệnh hoại tử gan tuỵ trên tôm nuôi (EMS/AHPNS): nguyên nhân và giải pháp", sẽ được tổ chức vào sáng ngày 28/06/2013 tại trường ĐH Nông Lâm Tp.HCM. Diễn giả chính bao gồm GS Donald Lightner, tôi- Trần Hữu Lộc và GS. Kevin Fitzsimmons đến từ trường ĐH Arizona, Mỹ. Hội thảo này sẽ cập nhật cho các nhà nghiên cứu ở VN, các công ty nuôi trồng thuỷ sản, và bà con nuôi tôm thông tin chính thống và chính xác nhất về bệnh EMS/AHPNS, cũng như các giải pháp hiệu quả để hạn chế bệnh trên tôm nuôi. Quý vị quan tâm có thể email cho tôi: thuuloc@email.arizona.edu để có thể biết thêm chi tiết
-
Trieu Thanh Tuan Có GS. Lightner nữa hả? Tiếc là mình không có cơ hội tham gia:(
-
-
"Octopus-inspired Eight-arm Robotic Swimming by Sculling Movements," by Michael Sfakiotakis, Asimina Kazakidi, Nikolaos Pateromichelakis and Dimitris P. Tsakiris from the Foundation for Research and Technology - Hellas in Greece, was presented earlier this month at ICRA 2013 in Karlsruhe, Germany.
-
By
Truong Huynh Nhu - 0 comments
- 2 likes
- Admin and
- Phạm Tiến Thành
-
By
-
Show truyền hình Quái Vật Sông của Jeremy Wade dùng những thiết bị câu hiện đại nhất để bắt những con cá khổng lồ, nhưng một ngư dân ở đây đã bắt được con cá dài 2 mét có tên "Tapah" hoặc "Wallago" ở nhánh sông Sungai Pahang chỉ với cần câu bình thường.
Anh Zulkifli Abidin, 36 tuổi, sống ở Felcra Seri Makmur, nói anh mất hơn hai giờ chiến đấu và cuối cùng đưa lên bờ con cá da trơn (catfish) nặng 78 ký.
“Tôi phải phân bổ sức lực vì con cá quá mạnh. Giống như đang kéo một con bò lớn,” anh Zulkifli, người bắt con cá khổng lồ ở Sungai Lengkur nói. Mặc dù anh đã nghe nói về loài cá Tapah khổng lồ trước đây, Zulkifli không tin là có ngày anh cũng câu được nó.
Anh thừa nhận ban đầu anh hơi sợ hãi khi đột nhiên nhớ về truyền thuyết vùng rừng núi về những con cá catfish quái thú có thể lớn lên thành quái vật và có thể ăn những động vật lớn, kể cả con người. “Nhưng tôi tự nói với mình là phải bắt được con cá này,” anh Zulkifli, một ngư dân có kinh nghiệm năm năm qua nói.
Zulkifli nói anh ra bờ sông lúc 7:30 sáng và như thường lệ sử dụng chiếc thuyền làm bằng sợi thủy tinh để câu cá bằng mồi nhân tạo. "Khoảng 9:30. con cá lớn đột nhiên cắn câu trước khi nó lặn xuống và kéo dây câu. Để cho thuyền không lật úp, tôi phải chơi trò kéo thuyền với nó, để cho con cá kéo chiếc thuyền đi trước khi tôi kéo nó lại nhiều lần."
Chiến lược của anh tỏ ra hiệu quả. Sau hai giờ chiến đấu, con cá kiệt sức được anh kéo nó lên bờ sông trước khi bắt nó bằng tay. Ngay sau đó anh đưa con cá về nhà khoe với gia đình và hàng xóm. “Vợ tôi bị sốc khi nhìn thấy con cá khổng lồ. Con cá Tapah lớn nhất mà tôi bắt được trước đây nặng 30 ký,” anh kể lại khi chúng tôi gặp anh ở nhà.
Zulkifli bán con cá khổng lồ cho một người buôn cá ở Temerloh và nhận được hơn 1.000 RM (Malaysian Ringgit, đơn vị tiền tệ của Malaysia). Mặc dù một con cá Tapah có kích thước trung bình bán được từ 30 đến 40 RM một ký, giá sẽ giảm xuống còn 20 RM một ký cho những con nặng hơn 30 ký.
Cá Tapah hay Wallago là một giống cá da trơn (catfish) thuộc họ Siluridae hoặc "Sheatfishes" và có thể phát hiện ở khắp các con sông khu vực nam Á.
© Triệu Thanh Tuấn, www.aquanetviet.org
Nguồn: By M. HAMZAH JAMALUDIN, New Straits Times-
By
Trieu Thanh Tuan - 0 comments
- 2 likes
-
By
-
Nghiên cứu được thực hiện bởi Viện Pasteur/Việt Nam và Trung tâm Quốc gia Quan trắc Cảnh báo Môi trường và Phòng ngừa Dịch bệnh Thủy sản Khu vực Nam bộ trực thuộc Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản 2, đã chỉ ra rằng giải pháp công nghệ nano bạc có khả năng tiêu diệt một số vi khuẩn trong đó có vi khuẩn Vibrio cholera, E coli., và Vibrio parahaemolyticus.
V. parahaemolyticus bị nhiễm virus (một thể thực khuẩn) đã được xác định là nguyên nhân gây ra hội chứng tử vong sớm (EMS), một căn bệnh đang giết chết tôm nuôi ở Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam và có thể là Mexico.
Các dung dịch bạc nano đang được thử nghiệm ở các trang trại nuôi tôm ở Việt Nam để xác định xem chúng có thể kiểm soát dịch EMS/AHPNS. Các nhà khoa học cho biết họ không thể trả lời câu hỏi về sự an toàn của dung dịch bạc cho đến khi các nghiên cứu sâu hơn được tiến hành.
Trong tháng 6 năm 2009, Friends of the Earth tại Úc và Hoa Kỳ công bố một bản báo cáo 47 trang với khoảng 116 tài liệu tham khảo về an toàn của các giải pháp nano bạc. Sau đây là một số trích dẫn tóm tắt của báo cáo:
"Có bằng chứng rõ ràng rằng bạc, và đặc biệt là bạc nano, gây độc cho sinh vật dưới nước và trên cạn, một loạt các tế ở bào động vật có vú trong ống nghiệm, và có thể có hại cho sức khỏe con người. Trong khi chắc chắn bạc và bạc nano có ứng dụng hữu ích trong lĩnh vực y tế (ví dụ như lớp phủ cho các thiết bị y tế hoặc chăm sóc vết thương cho nạn nhân bỏng nặng), sử dụng nano bạc cần phải được kiểm soát chặt chẽ với châm ngôn "không có dữ liệu, không kinh doanh" luôn luôn cần được quan tâm theo dõi và tuân thủ (tức là khi chưa có những dữ liệu khoa học đầy đủ nhất về sự ảnh hưởng của nano bạc đến sinh vật và môi trường thì tuyệt đối không kinh doanh các sản phẩm liên quan đến nano bạc)."
"Có những dấu hiệu sơ bộ cho thấy ở dạng hạt nano, độc tính của các ion bạc có thể tăng lên, hoặc các hạt nano có thể tự gia tăng độc tính của mình. Việc dùng các sản phẩm có nguồn gốc từ bạc để diệt sinh vật trong nước thải đặt ra một số mối quan tâm là bùn thải có thể được sử dụng trên các loại đất nông nghiệp hay không, hay phải xử lý như chất thải rắn tại các bãi chôn lấp hoặc phải tiêu huỷ. Bạc tiêu diệt vi sinh vật có hại, chúng cũng có thể làm gián đoạn các hoạt động của quần thể vi khuẩn quan trọng trong đất."
© Triệu Thanh Tuấn, www.aquanetviet.org
Source: Friends of the Earth Australia and Friends of the Earth United States. Nano and Biocidal Silver: Extreme Germ Killers Present a Growing Threat to Public Health. Dr. Rye Senjen and Ian Illuminato. June 2009., Shrimp News International.-
By
Trieu Thanh Tuan - 0 comments
- 5 likes
-
By
-
Sự mẫn cảm của tôm Macrobrachium idella, M. lamerrae và tôm càng xanh M. rosenbergii đối với virus đốm trắng (WSSV) đã được kiểm nghiệm bằng phương pháp ngâm, qua đường cho ăn và phương pháp tiêm vào cơ.
Khả năng mẫn cảm của các tôm này đối với virus đốm trắng được so sánh với tôm thẻ đuôi đỏ (Penaeus indicus) và tôm sú (P. monodon). Virus đốm trắng gây chết 43,3% tôm M. lamerrae và 53,3% tôm M. idellla bằng phương pháp ngâm, và 53,3% tôm M lamerrar và 66,7% tôm M. idella bằng phương pháp cho ăn. Virus đốm trắng gây chết 100% tôm M. idella, M. lamerrae, P. indicus và P. monodon khi tiêm virus vào cơ của tôm. Tôm sắp chết được thu để đánh giá sự hiện diện của virus đốm trắng trên tôm bằng phương pháp nhuộm hoặc mô bệnh học. Kết quả cho thấy rằng các loài tôm nước ngọt và lợ mặn này đều nhiễm virus đốm trắng, ngoại trừ tôm càng xanh M. rosenbergii. Virus đốm trắng không gây chết tôm càng xanh bằng bất kỳ phương pháp gây cảm nhiễm nào. Cơ chế chính thức về khả năng đề kháng của tôm càng xanh đối với virus đốm trắng hiện nay vẫn chưa được biết rõ. Tuy nhiên, bài báo cáo này cũng thảo luận những khả năng có thể có của hiện tượng trên.
Người dịch: Trần Ngọc Hải – Khoa Thủy sản – Đại học Cần Thơ.
Nguồn tin: Hameed A. S. S., M. X. Charles and M. Anilkumar (2000). Tolerance of Macrobrachium rosenbergii to white spot syndrome virus. Aquaculture 183, (3-4), 207-213-
By
Admin - 0 comments
- 2 likes
- Admin and
- Phạm Tiến Thành
-
By
-
Sự biến động các thông số môi trường có tác động lớn đối với tình trạng sinh lý và sinh trưởng của nhuyễn thể hai mảnh vỏ. Để có thể thành công trong việc nuôi nhuyễn thể biển thì các thông số môi trường liên quan đến các loài nuôi phải được xác định và đặc điểm các vùng dự kiến nuôi thịt cũng phải được đánh giá.
Một vùng triều của vịnh Eastern Maine được mô tả bằng GIS (hệ thống thông tin địa lý), được kết hợp giữa không ảnh hồng ngoại với bản đồ nền đáy, bản đồ địa hình và độ sâu. Các lớp dữ kiện bao gồm độ cao của mặt nước biển và vị trí được xác định bằng GPS (Hệ thống định vị toàn cầu) trong vịnh đó. Từ số liệu về cao độ, một chuỗi chương trình được phát triển để tạo ra một hệ thống 3 chiều ngẫu nhiên và hệ thống cao độ. Mô hình dòng chảy dạng số hóa sử dụng mạng lưới cao độ để mô phỏng dòng thủy triều theo chuỗi thời gian và chảy tự do trên bề mặt theo độ cao. Các số liệu lưới trong mô hình số nhập vào GIS và thể hiện qua ảnh màu giả về cao độ, tốc độ dòng chảy tối đa và tốc độ trung bình theo thủy triều. Các ảnh số này được chồng lắp trên ảnh không gian thể hiện lại sự di chuyển của phù sa trong nước. Các yêu cầu cho việc nuôi nhuyễn thể được kết hợp lại qua GIS để xác định vị trí thích hợp cho nuôi hải sản trên thực tế.
Người dịch: Dương Trí Dũng - Khoa Nông Nghiệp, Đại học Cần Thơ.
Nguồn tin: William R. Congleton Jr. a,*, Bryan R. Pearce b, Matthew R. Parker a, Brian F. Beal (1998). Mariculture siting: a GIS description of intertidal areas. Ecological Modelling 116 (1999) 63–75-
By
Trieu Thanh Tuan - 0 comments
- 2 likes
- Admin and
- Phạm Tiến Thành
-
By
-
Một nhóm sinh viên tại Anh vừa phối giống thành công một loài ếch nhỏ quý hiếm và có khả năng gây tử vong cho 10 người bằng chất độc.
Ếch phi tiêu là một nhóm loài ếch có nọc độc ở Trung Mỹ và Nam Mỹ. Với chiều dài cơ thể vỏn vẹn 25 mm, chúng sống trong các khu rừng nhiệt đới và dùng chất độc để đối phó kẻ thù. Hiện nay, tình trạng phá rừng ở Nam Mỹ khiến tương lai của ếch phi tiêu tại đây trở nên bấp bênh. Để ngăn chặn nguy cơ tuyệt chủng của chúng, các chuyên gia về động vật của trường Cao đẳng Walford & North Shropshire tại Anh nảy ra ý tưởng giúp sinh viên phối giống ếch phi tiêu trong phòng thí nghiệm, Science Daily đưa tin.
Đối tượng thí nghiệm của nhóm sinh viên là hai con ếch phi tiêu (một con đực và một con cái) mà một học sinh của trường tặng trước khi gia nhập quân đội.
"Mặc dù ếch phi tiêu đẻ trứng nhiều lần, các học trò của tôi vẫn không thể biến trứng thành nòng nọc. Sau khi tìm hiểu các điều kiện môi trường cần thiết đối với hành vi sinh sản của ếch, chúng tôi điều chỉnh vài điều kiện trong phòng thí nghiệm", Simon Metcalfe, người chỉ đạo nghiên cứu, phát biểu.
Sau khi trứng được thụ tinh, nhóm sinh viên đặt trứng vào một ao. Họ duy trì nhiệt độ ở mức 27 độ C và chiếu tia cực tím xuống ao để mô phỏng môi trường tự nhiên của ếch phi tiêu. 12 tuần sau, trứng biến thành nòng nọc.
"Cuối cùng nỗ lực của chúng tôi đã được đền đáp. Những con ếch phi tiêu đầu tiên đã di chuyển từ nước lên đất", Metcalfe nói.
Mặc dù ếch phi tiêu có khả năng tiết chất độc, nhóm sinh viên không sợ chúng, bởi chúng chỉ có thể tiết chất độc sau khi ăn một số vỏ cây độc và côn trùng.
Nguồn: Minh Long, vnexpress.net-
By
Truong Huynh Nhu - 2 comments
- 4 likes
-
Phạm Tiến Thành nguy hiểm quá- sử dụng trong mục đích quân đội chắc còn nguy hiểm hơn. :(
-
By
-
Thảm vi sinh xuất hiện trong tự nhiên như các cộng đồng của tảo lam và vi khuẩn nhưng chúng có thể được nuôi với quy môi lớn và được sử dụng với nhiều chức năng khác nhau. Chúng là các phức hệ, nhưng yêu cầu một số bổ sung từ bên ngòai.
Các chức năng sử dụng của thảm sinh vật bao phủ những lĩnh vực rộng lớn của nuôi trồng thủy sản và phục hồi sinh học. Những nghiên cứu ban đầu cho thấy những triển vọng sử dụng trong nông nghiệp và sản xuất năng lượng. Đối với nuôi trồng thủy sản, thảm vi sinh sản sinh protein thông qua khả năng cố định đạm và có thể cung cấp dinh dưỡng cho cá rô phi (Oreochromis niloticus). Những nghiên cứu hiện nay đang kiểm tra vai trò của thảm vi sinh trong quá trình Nitrate hóa các chất dinh dưỡng được đào thải từ nuôi trồng thủy sản. Hầu hết các nghiên cứu đều nhấn mạnh đến sự phục hồi sinh học, trong đó 2 tác nhân chính của ô nhiễm được kiểm tra là kim loại và chất phóng xạ hạt nhân và các chất ô nhiễm hữu cơ. Thảm vi sinh có thể thu nạp và tích tụ kim loại/chất phóng xạ hạt nhân do sự hấp thu bề mặt hoặc do điều kiện hóa môi trường hóa học xung quanh, do đó cô đặc sinh học kim loại/chất phóng xạ hạt nhân trong thể tích nhỏ. Các hiện tượng ô nhiễm hữu cơ sẽ bị giảm đi và có thể được vô cơ hóa hoàn toàn. Đối với nông nghiệp, thảm vi sinh có triển vọng hứa hẹn như chất phục hồi đất và nguồn phân đạm. Sử dụng thảm vi sinh trong sản xuất nguồn hydrogen sinh học đang được khẳng định nhưng đang ở chặng bắt đầu của quá trình phát triển. Chúng tôi dự định thiết lập hệ thống kín dựa trên các thảm vi sinh trong nông nghiệp và xử lý chất thải.
Người dịch: Ts. Ngô Thị Thu Thảo, Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ.
Nguồn tin: Judith Bender, Peter Phillips. 2004. Microbial mats for multiple applications in aquaculture and bioremediation. Bioresource Technology 94: 229–238-
By
Trieu Thanh Tuan - 0 comments
- 5 likes
-
By
-
Giới thiệu
Nuôi tôm họ Penaeid là một trong những hoạt động kinh tế quan trọng trên thế giới. Tuy nhiên, sản lượng tôm nuôi thường bị ảnh hưởng bởi bệnh đặt biệt là bệnh do tác nhân virus (Flegel, 2006) và vi khuẩn Vibrio (Bachère, 2000). Khả năng chống chọi của tôm đối với các tác nhân gây bệnh chủ yếu dựa vào hệ miễn dịch. Cơ chế bảo vệ ở giáp xác thì không phát triển bằng cá và các động vật có xương sống khác (Hình 1). Quan trọng hơn ở giáp xác không có các tế bào có khả năng ghi nhớ. Nói một cách khác chúng không có khả năng sản xuất immunoglobins. Vì vậy cơ chế bảo vệ ở giáp xác phụ thuộc chủ yếu vào hệ thống bảo vệ bẩm sinh. Hiểu rõ cơ chế bảo vệ ở tôm kết hợp với các biện pháp khác giúp tăng cường khả năng quản lý bệnh ở tôm. Thật vậy, có rất nhiều biện pháp khác nhau nhằm tìm hiểu về sức khỏe/tình trạng bệnh của giáp xác bao gồm đánh giá hệ miễn dịch đặt biệt là các chỉ tiêu sinh lý như là hàm lượng protein trong huyết tương, tế bào máu tổng cộng, hoạt động phenoloxidase, việc sản sinh ra các gốc tự do, hoạt động thực bào, và cả những chỉ tiêu khác bao gồm kiểm tra dưới điều kiện stress, tỉ lệ sống, và tăng trưởng, có thể xem đây là một trong những yếu tố chỉ thị để đánh giá hệ miễn dịch của tôm (Rodriguez y Le Moullac, 2000). Mục đích của báo cáo này nhằm xem xét một vài đặt điểm quan trọng trong cơ chế bảo vệ của tôm.

Hình 1: Hệ miễn dịch của động vật có xương sống (A) và không xương sống (B)
Cơ chế bảo vệ của tôm
Cơ chế bảo vệ bẩm sinh hay còn gọi là tự nhiên hay cơ chế bảo vệ không đặt hiệu bao gồm cả tế bào và thể dịch (Hình 2), cả hai hoạt động cùng với nhau giúp cho sự đào thải hay loại bỏ các sinh vật ngoại lai gây nguy hại đến vật chủ (Jiravanichpaisal et al., 2006). Cơ chế miễn dịch tế bào bao gồm tất cả các hoạt động được thực hiện bởi tế bào máu (thực bào, bao bọc mầm bệnh, hình thành các khối u). Mặt khác, miễn dịch thể dịch bao gồm sự hoạt hóa và sản sinh các phân tử dự trữ trong tế bào máu như là các protein chống đông máu, các chất kháng thể, men phenoloxidase, các peptide kháng khuẩn, và các chất ức chế men protease (Jiravanichpaisal et al., 2006; Holmblad and Sõderhãll, 1999).

Hình 2. Các thành phần tế bào và thể dịch của hệ thống miễn dịch của giáp xác
Chức năng của hệ miễn dịch ở giáp xác
Hoạt động của lớp vỏ chitin là hàng rào vật lý đầu tiên, và nó bao gồm các chất kháng khuẩn bề mặt (Sõderhãll and Cerenius, 1992). Khi tác nhân gây bệnh vượt hàng rào vật lý bảo vệ bên ngoài của cơ thể, thì tế bào máu đóng một vai trò rất quan trọng trong đáp ứng miễn dịch ở giáp xác. Để ức chế khả năng hoạt động của các vi sinh vật xâm nhập, tế bào máu cũng tham gia vào các quá trình sinh lý khác như là làm xơ cứng lớp vỏ bên ngoài, làm lành sự hủy hoại lớp chitin, vón cục, quá trình trao đổi carbohydrate, sự vận chuyển và dự trữ các acid amin/protein (Jiravanichpaisal et al., 2006).
Tế bào máu được phân loại dựa vào sự hiện diện và kích thước của 3 loại tế bào dạng hạt bên trong tế bào chất: không hạt (hyaline), bán hạt (semi-granular), và có hạt (granular) (Hình 3). Mặc dù tỉ lệ và thành phần của tế bào máu thay đổi giữa các loài, nhìn chung các tế bào bán hạt và có hạt làm nhiệm vụ sản xuất melanin bởi cơ chế pro-phenoloxidase (Johansson y Sõderhãll, 1989). Mặc khác, các tế bào không hạt và một lượng rất nhỏ các tế bào bán hạt tham gia vào quá trình thực bào (Giulianini et al., 2007).

Hình 3: Phân loại tế bào máu: (A) không hạt, (B) bán hạt, và (C) có hạt
Nhận diện tác nhân gây bệnh
Bước đầu tiên của quá trình miễn dịch là nhận diện các vi sinh vật. Quá trình này được thực hiện bởi các tế bào máu nhờ vào các phân tử giúp nhận diện ra cấu trúc màng tế bào của các vi sinh vật xâm nhập, thông qua sự gắn kết protein, và cả bởi sự nhận diện của β-1,3 glucans, lipopolysaccharides, và peptidoglycans (Lin et al., 2006; Vargas-Albores and Yepiz-Plascencia, 2000). Khi vi sinh vật lạ xâm nhập bị nhận ra, tế bào máu đóng vai trò hoạt hóa và kéo theo là hàng loạt các cơ chế nhằm kiểm soát và loại bỏ tác nhân xâm nhập một cách nhanh chóng.
Hoạt động của men Phenoloxidase
Hệ thống phenoloxidase được biết như là một cơ chế bảo vệ hiệu quả của cơ thể chống lại các kháng nguyên từ bên ngoài. Cơ chế này hoạt động chủ yếu dựa vào tế bào bán hạt và tế bào có hạt, và nó có thể được kích hoạt bởi số lượng rất nhỏ của các tế bào. Kết quả của quá trình hoạt hóa này là hiện tượng melanin hóa, khác với các cơ chế bảo vệ khác là sự hình thành các đốm đen để bất hoạt, bao bọc các vi sinh vật lạ xâm nhập, ngăn cản sự bùng phát bệnh trên vật chủ và góp phần tái tạo vỏ chitin mới (Sritunyalucksana and Sõderhãll, 2000).
Các gốc ion tự do và cơ chế chống oxy hóa
Sự phá hủy trong quá trình thực bào bao gồm sự sản xuất các gốc ion tự do bên trong tế bào. Trong suốt quá trình tìm kiếm và nhận diện tác nhân gây bệnh, emzyme của vật chủ như NADPH-oxidase được kích hoạt, chúng làm tăng tiêu hao oxy, kết quả của quá trình này là làm tăng các gốc ion tự do như là superoxidaxe anion (O2-) và hydrogen peroxide (H2O2) (Munxoz et al., 2000; Rodríguez and Le Moullac, 2000). Những gốc ion tự do này có thể trực tiếp tiêu diệt các vi sinh vật xâm nhập hoặc hoạt động kết hợp với các phức hợp nitrogen (nitro oxide), hoặc bổ trợ cho hoạt động của lysozymes (Roch, 1999).
Tuy nhiên, các gốc ion tự do không thể phân biệt được tế bào của vật chủ và các vi sinh vật, vì vậy trong một vài trường hợp có thể gây hại đến các ngoại bào. Trong điều kiện bình thường, sự phá hủy của các ion tự do bởi các cơ chế như là các phân tử oxy hóa như acid ascorbic, các chuỗi acid béo không no, và các emzyme oxy hóa (superoxide dismutase, các men peroxidase khác) (Dandapat et al., 2003); Campa Córdova et al., 2002.)
Thực bào, bao bọc mầm bệnh và hình thành nên các khối u
Thực bào là một trong những cơ chế miễn dịch đặt hiệu của miễn dịch tế bào. Quá trình này được nhận định là sự tiêu hóa và phá hủy tác nhân gây bệnh xâm nhập, các tế bào ngoại lai và cả sự thay thế các tế bào già bởi tế bào mới (Secombes, 1996).

Hình 4: Quá trình bảo vệ tế bào bao gồm: (A) thực bào, (B) Bao bọc mầm bệnh, và (C) hình thành nên các khối u. Tế bào máu có màu xanh lá cây, vi sinh vật xâm nhập màu đỏ.
Quá trình bao bọc mầm bệnh và hình thành nên các khối u (Hình 4) được diễn ra bởi sự kết hợp của nhiều loại tế bào máu với mục đích là làm mất khả năng hoạt động của các vi sinh vật xâm nhập khi vật chủ bị tấn công nhằm tiêu hóa và sau đó phá hủy bởi những tế bào riêng lẻ (Sõderhãll and Cerenius, 1992).
© Trương Huỳnh Như, www.aquanetviet.org
Nguồn: Franklin S. Martínez. 2007. The immune system of shrimp. Nicovita-ALICORP SAA Technical Service. July - September 2007, (fmartinezt@alicorp.com.pe).-
By
Truong Huynh Nhu - 0 comments
- 6 likes
-
By
-
Nuôi trồng thuỷ sản có một tiềm năng mạnh mẽ nhằm đáp ứng các nhu cầu về sản phẩm thuỷ sản trên hầu hết các vùng của thế giới. Dân số thế giới ngày càng tăng và nhu cầu về các sản phẩm thuỷ sản cũng tăng theo trong khi sản lượng khai thác ngày một giảm đi. Sự đóng góp đầy tiềm năng từ nuôi trồng thủy sản trong an toàn thực phẩm địa phương, cung cấp sinh kế và dinh dưỡng là đặc biệt quan trọng nhất là ở các vùng nông thôn nghèo, hẻo lánh.
Một trong những bất lợi trong nuôi trồng thuỷ sản là thiệt hại do dịch bệnh. Qua nhiều thập niên cho thấy bệnh dịch là nguyên nhân gây thất thoát trầm trọng về kinh tế trong nuôi thuỷ sản. Việc sử dụng các nguyên tắc dịch tễ học hợp lý và phương pháp quản lý dựa trên cơ sở khoa học vững chắc để xác định và quản lý dịch bệnh là hai hợp phần quan trọng của một chương trình kiểm soát sinh học hiệu quả. Sự duy trì khả năng nuôi thuỷ sản an toàn ngày càng trở nên cấp thiết và đây chính là mục tiêu của các nhà nghiên cứu dịch bệnh thủy sản cũng như quản lý dịch bệnh trong vùng. Việc nghiên cứu dịch tễ học chắc chắn sẽ giúp cho việc quản lý sức khoẻ, phân tích rủi ro và kiểm soát dich bệnh trong nuôi trồng thuỷ sản.
Mặc dù có rất nhiều hạn chế và phức tạp trong việc sử dụng dịch tễ học để kiểm soát dịch bệnh thuỷ sản nhưng gần đây cũng đã có một số kết quả khả quan từ các nghiên cứu, thử nghiệm kiểm soát dịch bệnh trên nuôi tôm qui mô nhỏ ở miền nam Ấn Độ. Bài viết này là tóm tắt của các kết quả nghiên cứu nói trên nhưng nhấn mạnh vào khía cạnh lợi ích của việc hợp tác chặt chẽ các giữa nông dân với nhau trong các nhóm, khả năng thiết lập mối quan tâm giữa họ và tầm quan trọng của sự nhận thức về các nhân tố rủi ro cũng như việc thực hiện các phương pháp quản lý hữu hiệu.
Tóm lược: bài viết này gồm 6 phần và phần 6 sẽ được tóm lược chi tiết:
1. Nuôi trồng thuỷ sản là nguồn thực phẩm dinh dưỡng cao của thế giới
2. Bệnh dịch và sức khoẻ là mấu chốt của sản lượng thuỷ sản
3. Ứng dụng dịch tễ học để quản lý sức khoẻ vật nuôi thuỷ sản
4. Kinh nghiệm trong nuôi tôm ở qui mô nhỏ
5. Bố trí thí nghiệm, trình diễn và thực hiện
6. Quản lý sức khoẻ tôm và dịch tễ học
Thực tế quản lý sức khoẻ của tôm bao gồm việc quản lý và đánh giá những rủi ro được kết hợp vào mô hình BMP (Best Management Practices: tạm dịch thực hành quản lý tốt nhất) được phát triển và tư vấn cho nông dân địa phương. Mô hình BMP bao gồm 3 chiến lược quản lý chính:
- Quản lý nước và chuẩn bị đáy ao trước khi thả giống
- Chọn giống và thả giống
- Quản lý sau khi thả giống
a. Quản lý nước và chuẩn bị đáy ao trước khi thả giống
- Nạo vét bùn, sình và rác thải trong ao ra khỏi phạm vi khu nuôi
- Cày xới lớp đất đáy kỹ càng nếu như không thể vét hết lớp bùn hoàn toàn.
- Lọc nước qua hai lưới lọc có mắt lưới 300 µm
- Mực nước giữ ít nhất ở 80 cm tính từ chỗ cạn nhất của đáy ao
- Tạo môi trường nước tốt từ 10-15 ngày trước khi thả giống
b. Chọn giống và thả giống
- PL có kích thước đồng cỡ và màu sắc chuẩn, tôm hoạt động bơi ngược lại dòng nước
- PL phải âm tính khi kiểm tra bằng nested - PCR đối với bệnh đốm trắng (với loại test này, nếu kết quả âm tính nghĩa là bệnh đốm trắng hiện diện ít hơn 5% trong quần thể và bầy tôm chắc chắn 95% không nhiễm bệnh)
- Loại bỏ tôm xấu, yếu trước khi thả bằng cách gây sốc với formol liều 100ppm trong 15-20 phút trong nước có sục khí liên tục.
- PL trải qua giai đoạn ương tại vuông nuôi từ 15-20 ngày
- Thả nuôi từ tuần đầu của tháng 2 tới tuần thứ 2 của tháng 3
- Khi thả giống, màu nước ao nuôi nên có màu xanh và tránh thả ở ao có nước trong
c. Quản lý sau khi thả giống
- Phải sử dụng các khu chứa nước và nước phải được giữ 10-15 ngày tại đây trước khi đưa vào ao nuôi tôm thịt
- Thường xuyên sử dụng vôi nông nghiệp, đặc biệt sau khi thay nước hoặc mưa.
- Không sử dụng các loại hoá chất độc hại hoặc hoá chất nằm trong danh mục cấm
- Sử dụng sàng kiểm tra thức ăn để đảm bảo cung cấp lượng thức ăn dựa trên nhu cầu của tôm
- Cho ăn kéo dài từ bên này sang bên kia bờ ao bằng xuồng hoặc bằng dụng cụ cho ăn nổi để tránh sự tích tụ cục bộ của chất thải.
- Thường xuyên làm sạch rong, tảo đáy
- Chỉ thay nước trong các giai đoạn quyết định (khi cần thiết)
- Hàng tuần kiểm tra lớp bùn ở đáy ao để ngăn ngừa sự tích tụ của chất thải hữu cơ, sình thối.
- Thường xuyên kiểm tra sức khoẻ của tôm và hàng tuần kiểm soát sức khoẻ và tăng trưởng của tôm bằng chài.
- Thu lượm và loại bỏ an toàn những tôm bệnh hoặc bị chết
- Thu hoạch khẩn cấp sau khi có quyết định chính xác
- Không tháo nước và xả bỏ tôm bệnh ra ngoài.
Nếu những nguyên tắc này được áp dụng triệt để thì việc nuôi tôm sẽ tránh được nhiều rủi ro về bệnh và trải qua 4 vụ nuôi thí nghiệm ở Ấn độ với mô hình BMP các kết quả thống kê cho thấy có sự khác biệt rất lớn.
Kinh nghiệm cho thấy rằng cần thiết phát triển tuỳ trường hợp các mô hình BMP đặc trưng cho từng nông dân (dựa trên các nguyên tắc căn bản của BMP) kết hợp với kỹ thuật nuôi (dựa trên mật độ thả nuôi, khả năng duy trì khu chứa nước, chất lượng nguồn nước …) và khả năng đầu tư vốn của từng hộ nông dân. Mô hình này hiện đang được FAO tài trợ về mặt kỹ thuật và tài chính để nhân rộng ở nhiều bang của Ấn độ.
Người tóm lược: Ths. Nguyễn Thị Hồng Vân (nthvan@ctu.edu.vn), Khoa Thủy Sản, Đại học Cần Thơ.
Nguồn tin: Rohana P. Subasinghe (2005). Epidemiological approach to aquatic animal health management: opportunities and challenges for developing countries to increase aquatic production through aquaculture. Preventive Veterinary Medicine (67) 117-
124.-
By
Trieu Thanh Tuan - 0 comments
- 4 likes
-
By
-
Ở Nhật Bản có một loại lươn nước ngọt có thể phát sáng, tên hay gọi là Unagi và tên khoa học là Anguilla japonica. Những người thích ăn sushi vẫn thường hay ăn con này, tuy nhiên, không nhiều người biết rằng nó có thể phát sáng màu xanh lá trong bóng tối. Mới đây, các nhà khoa học phát hiện rằng loại protein giúp con lươn này phát sáng có thể giúp các bác sĩ đánh giá chức năng gan của con người.
Dẫn đầu bởi giáo sư Atsushi Miyawaki và Akiko Kumagai, một nhóm nghiên cứu thuộc Viện nghiên cứu khoa học về não - RIKEN của Nhật Bản đã đặt tên cho loại protein này là UnaG, rút gọn từ cụm Unagi Green Protein. UnaG là loại protein phát sáng đầu tiên được biết tới tìm thấy ở một loại động vật có xương sống, nhưng nó chỉ phát sáng khi kết hợp với sắc tố màu da cam (bilirubin) xuất hiện trong tự nhiên, có trong các cơ của con lươn.
Trên cơ thể người, sắc tố màu da cam bilirubin được tạo ra bằng cách phá vỡ các hemoglobin trong máu. Nếu nó hiện diện quá nhiều trong máu (do một vấn đề liên quan đến gan), nó có thể biến thành chất độc, dẫn đến các chứng như vàng da. Hàm lượng bilirubin trong máu được dùng để đánh giá tình trạng của gan, và cũng dùng để phát hiện sự biến mất của các tế bào hồng cầu do bệnh thiếu máu.
Để phát triển phương pháp kiểm tra lượng bilirubin trong mẫu máu một cách nhanh chóng, chính xác và độ nhạy cao, các nhà khoa học ở viện RIKEN đã bắt đầu nhân bản gen phát sáng từ protein UnaG. Với việc đã nghiên cứu quá trình nó được kích hoạt, các nhà khoa học tiếp tục tạo ra một hệ thống mà protein UnaG sẽ kết hợp với bất kỳ sắc tố bilirubin nào có trong mẫu máu, và sẽ khiến nó phát sáng lên. Các nhà khoa học hy vọng nếu mọi thứ hoàn hảo thì hệ thống này có thể được sử dụng rộng rãi, đặc biệt là ở những nước đang phát triển.
Bên cạnh giá trị về y học, các nhà khoa học cũng hy vọng rằng giá trị mới của loài lươn Anguilla japonica sẽ thúc đẩy các nỗ lực bảo tồn loài này – vì hiện tại nó đang gặp nguy hiểm ở Nhật Bản.
Nguồn: tinhte.vn (Theo: Gizmag).-
By
Trieu Thanh Tuan - 1 comment
- 4 likes
-
Trieu Thanh Tuan Con này giá khá đắt nhưng ăn rất ngon. Một phần cơm + một khút thịt có giá khoảng 2000 yên. Hôm nọ đi ăn có chụp hình lại nè, https://fbcdn-sphotos-b-a.akamaihd.net/hphotos-ak-ash3/578983_523968407641604_418120451_n.jpg
-
By
-
Đủ điểm vào học ngành xã hội học của Đại học Quốc gia Singapore cách đây 6 năm nhưng cô thiếu nữ xinh đẹp Chelsea Wan lại ở nhà giúp gia đình nuôi ếch và bán ống dẫn trứng.
Trại ếch Jurong rộng 1,2ha do cha cô, một cựu kỹ sư giàn khoan dầu khí, gây dựng từ những năm 1970 khi chính phủ bắt đầu chính sách xóa bỏ trại nuôi heo và khuyến khích thú nuôi khác phù hợp với điều kiện vệ sinh môi trường và thổ nhưỡng của Singapore.
Trả lời phỏng vấn báo The Sunday Times, cô Wan cho biết thời gian đầu khởi nghiệp thu nhập của cha cô không đủ để gia đình sống thoải mái vì thịt ếch không phải là mặt hàng chính của thị trường thực phẩm. Năm 1999, gia đình cô bắt đầu bán ống dẫn trứng ếch, được gọi là Hashima, một món ăn bổ dưỡng tráng miệng được nhiều người dân châu Á ưa chuộng mà Singapore vẫn thường nhập từ Trung Quốc.
Khi đó, cô Wan tranh thủ thời gian sau giờ học đi giới thiệu và thuyết phục các tiệm thuốc Bắc nhận bán sản phẩm Hashima khô đóng gói. Sự từ chối hay nghi ngại của các tiệm thuốc Bắc vẫn không làm cô nản lòng và đến vòng tiếp thị thứ ba, 15 tiệm đã chấp nhận mỗi tiệm bán 10 gói dưới hình thức ký gửi. Tuy nhiên, phải đợi đến năm 2011 sau nhiều vòng thuyết phục, cô mới bắt đầu có đơn đặt hàng, đầu tiên là các tiệm thuốc Bắc, sau đó là các nhà hàng nơi thực khách đã dùng thử.
Theo báo The Sunday Times, nếu như trước đây các tiệm thuốc Bắc hay nhà hàng trên đảo Sư tử hay nhập Hashima từ Trung Quốc, nay bắt đầu chuyển sang đặt mua hàng sản xuất tại Singapore vì các nhà cung cấp Trung Quốc tăng giá và có khi chất lượng sản phẩm không đều.
Ông Amos Pech, chủ tiệm thuốc Bắc Nam Huat Lee ở vùng Choa Chu Kang phía Tây Bắc Singapore, cho biết 80% nguồn hàng Hashima hiện nay của ông là “made in Singapore”. Năm ngoái, giá một lạng (37,5g) Hashima từ Trung Quốc đã tăng từ 70 đôla Singapore (SGD) lên 100SGD, trong khi giá sản phẩm cùng loại của trại nuôi ếch Jurong chỉ khoảng 40-60SGD/lạng. Các nhà cung cấp Trung Quốc nói với ông Peck giá tăng vì nhu cầu tiêu thụ Hashima ngày càng tăng. Ông cho rằng nếu mua ở Singapore sẽ rẻ hơn, chất lượng đảm bảo và dễ điều chỉnh khi cần.
Theo nhiều chủ tiệm thuốc Bắc, người Singapore nay đã hiểu hơn về công dụng của thức ăn bổ dưỡng Hashima và có người gọi đây là nước yến ngân nhĩ rẻ tiền, điều này có ý nghĩa quan trọng cho DN nuôi ếch của cô Wan. Doanh số bán hàng của trại nuôi ếch Jurong đã tăng mạnh trong năm ngoái với 2.000 gói Hashima khô và 3.000 hộp ăn liền. Theo dự kiến, Hashima đóng hộp ăn liền sẽ có mặt ở hệ thống siêu thị Fairprice vào cuối năm nay.
Cô Wan cho biết đang triển khai sản xuất Hashima có hàm lượng đường thấp, đồng thời tăng sản lượng ếch nuôi và mở rộng diện tích trại ếch. Mỗi ngày cô Wan dành thời gian trông coi trại, nhận đơn mua hàng và thỉnh thoảng phải tham gia việc lột da và móc ruột ếch. Cô tiết lộ rằng lương hàng tháng của cô khoảng 3.000SGD, thấp hơn một ít so với lương kỹ sư mới ra trường. Mọi so sánh thật ra chỉ là khập khiễng, nhưng cô Wan cho biết cô làm công việc này với niềm say mê và điều thích thú là cô có thời gian thảnh thơi để trồng khoai lang hay nuôi cá tilapia.
Nguồn: Báo Sài Gòn Đầu Tư Tài Chính.-
By
Truong Huynh Nhu - 0 comments
- 3 likes
-
By
-
Nghiên cứu được thực hiện bởi Nelson Peña Navarro thuộc trường đại học Costa Rica (UCR) đã cho thấy một số sản phẩm tự nhiên có thể thay thế cho thuốc kháng sinh trong kiểm soát dịch bệnh của tôm nuôi. Những lựa chọn thay thế tự nhiên này cũng có thể tăng sản lượng, tối đa hóa lợi nhuận và cũng thích hợp cho nuôi tôm sinh thái.
Costa Rica là một nhà sản xuất và xuất khẩu tôm chân trắng (Litopenaeus vannamei), loài tôm được nuôi trong các ao nước lợ ở những nơi khác nhau trên đất nước và tập trung chủ yếu là ở bán đảo Nicoya.
Nuôi tôm với hình thức bán thâm canh chiếm đa số tại Costa Rica và được thực hiện bởi các cá nhân và các doanh nghiệp bé nhỏ. Những người nuôi và doanh nghiệp này thường thiếu nguồn lực và cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh để thực hiện việc quản lý kỹ thuật một cách đầy đủ.
Sự ô nhiễm của các ao nuôi làm cho tôm rất dễ bị tấn công bởi vi khuẩn và virus, nguyên nhân chính gây ra ra tình trạng chết tôm hàng loạt. Điều này tạo ra tình trạng nghiêm trọng cho người nuôi vì phần lớn trong số họ đểu phải vay ngân hàng để nuôi tôm.
Hiện nay, người nuôi đang sử dụng kháng sinh thương mại để tăng cường hệ thống miễn dịch của tôm và để giảm tỷ lệ chết. Tuy nhiên các sản phẩm này không chỉ đắt tiền mà còn gây hại cho môi trường.
"Ý tưởng của dự án này là nhằm đạt được các giải pháp trung và dài hạn bằng cách sử dụng kỹ thuật tự nhiên để cải thiện hệ thống miễn dịch của tôm, đạt được mức tăng trọng lượng tốt hơn và hệ số chuyển đổi thức ăn thấp, qua đó làm tăng năng suất và lợi nhuận cho người nuôi", ông Peña nói.
Nghiên cứu được hỗ trợ bởi các công ty và các tổ chức như Công viên biển Thái Bình Dương (Pacific Marine Park), Liên doanh quốc gia các nhà sản xuất muối (National Cooperative Salt Producers - CONAPROSAL), Dịch vụ xét nghiệm thú y quốc gia (National Veterinary Services Laboratory - LANASEVE) và một số đơn vị nghiên cứu của UCR
THAY THẾ KHÁNG SINH
Các nhà nghiên cứu, những người sẽ tốt nghiệp để trở thành kỹ sư nông học, tiếp cận dự án như là một phần của đề tài tốt nghiệp trường chăn nuôi của UCR.
Ý tưởng là phát triển một sản phẩm thay thế cho việc sử dụng quá nhiều thuốc kháng sinh bằng cách sử dụng các sản phẩm tự nhiên thân thiện với môi trường nhằm tăng cường hệ thống miễn dịch của tôm và có sẵn trên thị trường với giá cả phải chăng cho người nông dân.
Các nghiên cứu sử dụng tôm từ các trang trại nằm trong bán đảo Nicoya. Các mẫu được chia thành bốn nhóm, ba trong bốn nhóm được cho ăn Mannan-oligosaccharides, tỏi và một hợp chất chiết xuất thực vật bổ sung vào thức ăn với các liều khác nhau.
Sau một thời gian nhất định, vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus, một trong những vi khuẩn nguy hiểm và gây thiệt hại nghiêm trọng nhất cho nghề nuôi tôm được tiêm vào tôm ở các lô thử nghiệm.
Phân tích xác định rằng Mannan-oligosaccharides và tỏi làm việc có hiệu quả chống lại vi khuẩn thông thường, giảm tỷ lệ chết và cải thiện tốc độ tăng trưởng tốt hơn.
Các hợp chất thực vật ít hiệu quả. Tuy nhiên, trong cả ba trường hợp đều cho kết quả tốt hơn so với lô đối chứng.
"Thí nghiệm chỉ ra rằng ảnh hưởng của độc tố gây tổn thương tế bào tôm do vi khuẩn tiết ra bị triệt tiêu, tuy nhiên nhiều trường hợp, bệnh đã không xảy ra khi sử dụng tỏi hoặc Mannan-oligosaccharides. Cả hai đều cho kết quả tốt, nhưng tỏi thì tốt hơn nhiều", ông Peña nói.
Nghiên cứu đã chứng minh rằng việc sử dụng các sản phẩm tự nhiên trong nuôi tôm có thể làm tăng đáng kể trọng lượng của chúng và đạt được đáp ứng miễn dịch tốt hơn, và mang lại thu nhập cao hơn cho người nuôi.
Trong thực tế, nhiều người nuôi trong khu vực Vịnh Nicoya hiện đang nuôi tôm sinh thái cung cấp cho thị trường quốc tế và họ đang sử dụng các sản phẩm tự nhiên theo khuyến cáo của ông Peña.
Đây là nghiên cứu đầu tiên của loại hình này được thực hiện ở trong nước và mặc dù kết quả mang lại rất quan trọng nhưng ông Peña thừa nhận rằng vẫn còn nhiều việc khác cần được nghiên cứu thêm.
TẦM QUAN TRỌNG VỀ MẶT KINH TẾ
Sinh vật dưới nước đã trở thành nguồn thực phẩm quan trọng và mang lại việc làm ở Costa Rica. Theo Tổ chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc (FAO), trong năm 2008, năng suất tôm thẻ chân trắng ở khu vực châu Mỹ chiếm đến 80% sản lượng của riêng loài này trên toàn cầu.
Theo Tập đoàn Thương Mại Nước Ngoài (Foreign Trade Corporation - PROCOMER) của Costa Rica, cả nước xuất khẩu tổng cộng 5 triệu USD tôm trong năm 2011, vượt hơn 28% so với năm trước, và trong tháng 8 năm 2012 đạt trên 3 triệu đô la, vượt 12% so với cùng kỳ năm ngoái. Đức và Hoa Kỳ là các thị trường chính của Costa Rica.
Tuy nhiên, bệnh do vi khuẩn như vi khuẩn Vibrio trong nuôi trồng thủy sản đã tạo ra thiệt hại kinh tế đáng kể.
Dịch bởi: AHPNS, www.aquanetviet.org
Nguồn: http://www.thefishsite.com/articles/1695/natural-products-effective-against-shrimp-disease-suitable-as-antibiotic-replacement. Đăng ngày 17.6.2013.-
Trieu Thanh Tuan Hồi tối đang dịch bài này nhưng buồn ngủ quá đi ngủ luôn:). Cảm ơn [40319,AHPNS] nhiều nhé!
-
-
Nutreco has successfully completed its acquisition of 75 per cent of the shares in Gisis S.A., the shrimp and fish feed subsidiary of the Expalsa group.
The acquisition makes Nutreco one of the top three shrimp feed suppliers in the world.
Ecuador’s shrimp feed market is Latin America’s largest and the third largest in the world after China and Thailand, and it’s growing at around eight per cent annually.
Nutreco employs approximately 10,000 people in 30 countries with sales in over 80 countries. It is listed on the NYSE Euronext stock exchange in Amsterdam and reported annual revenues of almost $7 billion in 2012.
Since 1984, Expalsa has been the biggest shrimp farming operation in Ecuador. All of its production is organic and certified under several international standards.
June 17, 2013.
Information: Karen Beuk, Director Corporate Communication, Nutreco, P.O. Box 299, 3800 AG Amersfoort, The Netherlands (phone +31-(0)33-422-6165, mobile +31-(0)630-659-024, email karen.beuk@nutreco.com, webpage http://www.nutreco.com).
Information: Expalsa, Food Export S.A., Km 6.5 Via Duran Tambo, Guayaquil, Ecuador (phone 593-4-280-4200, email contact@expalsa.com, webpage http://www.expalsa.com/en/quienes_somos.php#).-
By
AHPNS - 0 comments
- 4 likes
-
By
-
ÚC - Tính khả thi của việc trồng rong biển để bổ sung cho nuôi trồng thủy sản và bảo vệ môi trường sẽ được kiểm chứng trong suốt các thử nghiệm trên biển. Thực nghiệm được thực hiện trong Vịnh Spencer vào cuối năm nay.
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Gail Gago cho biết dự án cho thấy nghiên cứu sáng tạo sẽ hỗ trợ ưu tiên chiến lược của Chính phủ như thế nào về Thực phẩm và Rượu chất lượng hảo hạng từ thương hiệu môi trường sạch của chúng tôi.
"Dự án này nhằm mục đích đảm bảo ngành công nghiệp cá ngừ vây xanh miền Nam và các loại “Cá vua” đuôi vàng (Yellowtail Kingfish - tạm dịch) có cơ hội phát triển mạnh mà không có tác động xấu đến môi trường", bà Gago nói.
"Nó cũng có thể báo trước sự bắt đầu của một ngành công nghiệp mới của Úc cho các sản phẩm có nguồn gốc từ rong biển, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng đối với thị trường trong nước và quốc tế."
Dự án 03 năm trị giá 1,1 triệu đô la Úc được tài trợ chủ yếu bởi Tập đoàn nghiên cứu và phát triển thủy sản của chính phủ Úc (Australian Government’s Fisheries Research and Development Corporation) , với sự đóng góp 189,000 đô la Úc từ Viện nghiên cứu và phát triển Miền Nam nước Úc (South Australian Research and Development Institute – SARDI), cũng như sự hỗ trợ của Đại học Adelaide và các tổ chức thương mại khác.
Nhà nghiên cứa của SARDI - Kathryn Wiltshire cho biết các thử nghiệm nhằm mục đích tìm kiếm loại tảo biển phù hợp và xác định sinh khối cần thiết để loại bỏ một cách tự nhiên và hiệu quả chất thải trong các mô hình nuôi cá vây mềm.
"Các thử nghiệm sẽ xác định các loài thích hợp nhất cho loại hình nuôi trồng thủy sản được biết đến với tên gọi là Nuôi trồng thủy sản kết hợp đa dạng các loại hình dinh dưỡng (tạm dịch – Intergrated Multi – Trophic Aquaculture)" Bà Wiltshire cho biết.
"Họ sẽ cung cấp kiến thức về lượng chất thải được loại bỏ bằng rong biển, và cũng hỗ trợ các cơ hội phát triển cho ngành nuôi trồng thủy sản"
Dự án sẽ cung cấp thông tin về sản xuất giống, độ sâu mô hình nuôi, bố trí trang trại và dữ liệu sơ bộ về thời gian tốt nhất trong năm để trồng và thu hoạch rong biển.
Bà Gago nói thêm rằng mức độ chất thải phụ được tạo ra bởi trang trại nuôi cá cần được giám sát chặt chẽ theo đạo luật Nuôi trồng thủy sản Nam Úc, Luật đã được ban hành năm 2011.
Điều này bao gồm các kiểm tra DNA hàng năm và được thực hiện SARDI vì lợi ích của các ngành công nghiệp để đánh giá sức khỏe của các sinh vật dưới đáy biển nhằm đảm bảo trang trại phát triển bền vững.
Giá trị thương mại của rong biển về mặt giá trị sử dụng như là phụ gia thực phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm chức năng, sản phẩm thảo dược, phân bón và thức ăn chăn nuôi bao gồm thức ăn cho bào ngư cũng sẽ được xem xét.
Dịch bởi: AHPNS, www.aquanetviet.org
Nguồn: The FishSite News Desk. http://www.thefishsite.com/fishnews/20504/aquaponics-to-boost-finfish-aquaculture-
By
AHPNS - 0 comments
- 5 likes
-
By
-
Bass là tên được chia sẻ bởi nhiều loài cá trong bộ cá vược thường được theo đuổi bởi những tay câu thể thao và người đánh bắt để ăn. Cá thuộc bộ cá vược là những loài cá có xương trông giống cá perch (cá vược) và thường có gai cứng dọc theo vây. Cá bass có thể sống ở nước mặn và nước ngọt, và nhiệt độ ưa thích của chúng từ vùng nước ấm tới ôn đới. Chúng nổi tiếng trong những tay câu vì chúng chống cự dữ dội hơn so với những loài khác, biến việc câu loài cá này là một hoạt động đầy thách thức.
Moronidae là họ cá bass sống ở vùng nước ôn đới, và có thể phát hiện ở sông hay cửa biển. Thành viên nổi tiếng nhất của nhóm này là striped bass (cá bass sọc), một trong những con cá câu thể thao nổi tiếng nhất mọi thời đại. Loài cá bass sống ở vùng nước ôn đới có gai trực tiếp sau mang, hai vây lưng, và một vây đuôi chia thùy. Chúng có thể lớn đến 70 inch (180 cm), và là cá thương mại ở một số nơi trên thế giới.
Cá bass sống ở vùng nước ôn đới có khuynh hướng di cư cao, thỉnh thoảng di chuyển một quãng đường rất xa. Tất cả chúng sinh sản trong vùng nước ngọt trong mùa xuân, và ăn các loài cá nhỏ hơn cùng với tôm và giáp xác khác. Một số loài cũng được nuôi thương mại, và ngư dân cũng có thể lợi dụng trữ lượng cá nuôi, thường được thả vào các khu vực nước có trữ lượng bị tàn phá.
Họ Centrarchidae gồm những loài cá bass sống vùng nước ấm, và thỉnh thoảng được gọi là sunfish, perch hay bream. Chúng là loài bản địa của Bắc Mỹ, và thường được phát hiện ở các sông suối dọc theo phần phía đông của Mỹ. Những loài cá này có đặc điểm là vây nhiều tia và gai, có thể gây đau đớn cho những ngư dân lơ đễnh.
Loài cá bass nước ấm nổi tiếng nhất có lẽ là cá bass miệng rộng (largemouth bass), được gọi như vậy vì miệng nó kéo dài ra phía sau mắt, cho phép nó có thể nuốt những con mồi lớn. Cá thuộc loài này thường có màu xanh bùn, và thích ẩn nấp bên dưới những cây cỏ hay những cấu trúc nhân tạo để rình mồi.
Nhiều loài cá bass là các loài cá câu thể thao, điều này có nghĩa là, sau khi bị bắt, chúng được thả ra, mặc dầu một số loài cũng được ăn thịt. Nhiều khu vực có những hạn chế về loài và kích thước cá có thể bắt, và những tay câu phải làm quen với những quy định này trước khi khởi hành một chuyến câu cá. Cá bass là các loài được quản lý rất chặc chẽ, và dường như không bị rủi ro tuyệt chủng vì có những chế độ duy trì trữ lượng phù hợp.
Một số loài như cá bass Chi lê (Chilean sea bass) được gọi chung là các bass, mặc dù thực tế chúng không thuộc một họ cá vuợc nào. Đa số những loài cá này có chung phần thịt màu trắng chắc vỡi lượng dầu tối thiểu, và mượn tên vì mục đích tiếp thị.
Nguồn: Viết bỡi S.E. Smith, Bản tiếng Việt của Blog Biển và Người.-
By
Truong Huynh Nhu - 0 comments
- 6 likes
-
By
-
Một nhóm nghiên cứu đa ngành của Brazil mới đây đã phát triển một loại cảm biến sinh học giúp đo hàm lượng thuốc trừ sâu trong thực phẩm, nước và đất. Công nghệ hiện vẫn đang trong giai đoạn phát triển nhưng nếu trở thành một sản phẩm thương mại, công nghệ có thể mang lại một giải pháp di động, giá cả phải chăng để giám sát loại hóa chất độc hại này.
Cảm biến sinh học nói trên là kết quả từ quá trình nghiên cứu của sinh viên tốt nghiệp Izabela Gutierrez de Arruda tại Viện vật lý São Carlos (IFSC), bang São Paulo dưới sự trợ giúp của tiến sĩ Romildo Jerônimo Ramos đến từ đại học liên bang Mato Grosso (UFMT), tiến sĩ Nirton Vristi Silva Viera (IFSC) và giáo sư Franciso Eduardo Gontijo Guimarães (IFSC). Cơ chế hoạt động của cảm biến dựa trên phương pháp ức chế enzyme để phát hiện sự hiện diện của một loại hóa chất thuộc nhóm lân hữu cơ có tên methamidophos.
Nhóm nghiên cứu đã sử dụng enzyme acteylcholinesterase (AChE) - một loại enzyme hoạt hóa cao có trong các nút giao thần kinh cơ và khớp thần kinh não cholinergic của nhiều loài côn trùng, động vật như lươn, cá, động vật có vú và kể cả não người. Enzyme AChE hoạt động với chất dẫn truyền xung thần kinh acetylcholine (ACh) liên quan đến các chức năng nhận thức như suy nghĩ và ghi nhớ. Khi tiếp xúc với phân tử methamidophos, hoạt động của enzyme AChe bị ức chế khiến nó sản sinh ra ít proton hơn so với bình thường. Sự chênh lệch về lượng proton sẽ được hiển thị trên một thiết bị nhỏ được tích hợp một tấm phim siêu mỏng có chức năng phóng to tín hiệu, qua đó cho biết hàm lượng thuốc trừ sâu.
Gutierrez cho biết: "Thiết bị trông giống như dụng cụ thường dùng để đo nồng độ đường trong máu. Do có kích thước nhỏ bé, những người nông dân có thể thực hiện các phép đo và lấy kết quả ngay. Hiện tại, người ta thường dùng các phép đo ghi sắc hay đo phổ để kiểm tra hàm lượng thuốc trừ sâu nhưng các kỹ thuật này đòi hỏi tính chuyên môn và trang thiết bị đắt tiền, thêm vào đó là không thể lấy ngay kết quả đo."
Ý tưởng phát triển cảm biến sinh học đo hàm lượng thuốc trừ sâu nảy sinh từ các vấn đề sức khỏe do methamidophos gây ra cho con người, cụ thể là tại bang Mato Grosso nơi sản xuất lúa gạo lớn nhất Brazil và cũng là quê nhà của Gutierrez. Mặc dù methamidophos đã bị cấm tại nhiều quốc gia bao gồm cả các nước EU nhưng chúng vẫn được sử dụng rộng rãi ở Mato Grosso, đe dọa trực tiếp đến nguồn nước ngầm với nguy cơ ô nhiễm hóa học.
Ngộ độc methamidophos có thể gây mất trí nhớ, lo lắng, rối loạn tâm thần và theo các nhà khoa học, nó có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh Alzheimer.
Nhóm nghiên cứu cho biết mặc dù cảm biến sinh học vẫn đang trong giai đoạn nghiên cứu nhưng nó có thể được điều chỉnh để đo hàm lượng nhiều loại thuốc trừ sâu khác thuộc họ lân hữu cơ và carbamate. Dự án của Gutierrez được khởi động vào năm 2011 và một bằng sáng chế về cảm biến sinh học cũng đã được đệ trình. Bước tiếp theo là tìm kiếm một công ty quan tâm đến công nghệ và sẵn sàng đưa loại cảm biến sinh học này trở thành một sản phẩm thương mại. Nhóm nghiên cứu ước tính chi phí sản xuất cảm biến sẽ vào khoảng từ 46 đến 92 USD.
Nguồn: tinhte.vn (Theo: Gizmag)-
By
Admin - 0 comments
- 5 likes
-
By
-
Giới khoa học phát hiện, ở một số động vật trong tự nhiên, con cái đã tìm cách lưu trữ tinh dịch của con đực suốt thời gian dài, thậm chí tới vài năm trước khi thụ tinh cho trứng, dù xung quanh luôn có các bạn tình tiềm năng.
Trường hợp khó lý giải ở cá bảy màu
Một nghiên cứu mới phát hiện, 1/4 số cá bảy màu đực trong tự nhiên ở Trinidad và Tobago ra đời từ tinh trùng của những người bố đã chết. Một số tinh trùng thậm chí được lưu trữ lâu đến 2 thế hệ.

Theo các nhà nghiên cứu, sau khi giao phối, cá bảy màu cái sẽ dự trữ "con giống" trong một khoang chuyên dụng ở buồng trứng, nuôi dưỡng chúng bằng một lượng đường nhỏ cho đến khi thụ tinh cho trứng. Hành vi lạ này bắt nguồn từ một thực tế, các con cái thường sống lâu hơn con đực ít nhất 1 năm. Do đó, việc dự trữ tinh trùng từ nhiều bạn tình khác nhau mang đến cho con cái khả năng lựa chọn những gen tốt nhất cho các con tương lai.
Do các cá bố không có bất kỳ động thái chăm sóc nào với hậu duệ ngay cả khi còn sống (chắc vì lẽ đó, cá mẹ cũng không chăm non con sau khi sinh) nên cái chết cũng không ngăn cản chúng được trở thành cha, theo nghiên cứu đăng tải trên tạp chí Proceedings of the Royal Society B.
Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu thuộc Trường École Normale Supérieure (Pháp) không biết liệu chất lượng tinh trùng của cá bảy màu có bị hủy hoại theo thời gian hay không, mặc dù "con giống" dự trữ rõ ràng có thể thụ tinh một số trứng. Ngoài ra, họ cũng chưa lý giải được tại sao, các cá cái vẫn tiếp tục lưu trữ tinh trùng của con đực đã chết dù có nhiều bạn tình tiềm năng xung quanh, có khả năng cung cấp tinh dịch tươi mới hơn.
Hiện tượng không hiếm
Việc dự trữ tinh trùng dường như không phải là hiện tượng hy hữu trong thế giới tự nhiên. Nhiều động vật khác cũng được phát hiện có hành vi này, kể cả gà nhà. Năm 2011, các nhà nghiên cứu đến từ Đại học North Carolina và Đại học Georgia khám phá ra rằng, loài rắn đuôi chuông phương Đông, danh pháp khoa học là Crotalus adamanteus, đã lưu trữ tinh trùng trong một thời gian dài bất thường.

Rắn đuôi chuông phương Đông cũng dự trữ tinh trùng. Ảnh: NatGeo
Kết luận trên được rút ra khi một con rắn đuôi chuông hoang dã bị bắt ở Florida năm 2005 bất ngờ sinh nở năm 2010 bất chấp việc nó bị nuôi nhốt tách xa những con rắn khác. Ban đầu, các nhà khoa học cho rằng đây là một ví dụ của hiện tượng "trinh nữ đẻ con", một dạng sinh sản vô tính, trong đó các con cái cung cấp cả 2 bộ nhiễm sắc thể cho hậu duệ của chúng. Nhưng phân tích gen hé lộ, đây là sản phẩm của 1 cặp rắn bố mẹ.
Câu hỏi đặt ra là: Con cái buộc tinh trùng phải thực thi chức năng của chúng vào một thời điểm nhất định như thế nào? Thông qua nghiên cứu loài bạch tuộc phổ biến, có danh pháp khoa học Octopus vulgaris, nhà sinh vật học Anna DiCosmo đến từ Đại học Napoli Federico II (Italia) và các cộng sự đã kiểm nghiệm giả thuyết lý giải rằng, con cái đã tiết ra các chất hấp dẫn hóa học.
Con đực của nhiều loài động vật có thể cảm nhận và tìm ra các chất hóa học này. Nhóm của DiCosmo nhận thấy, khi con cái của các loài khác liên quan đến bạch tuộc phóng thích trứng vào trong nước, con đực sẽ bị hấp dẫn trước các chất hóa học trong trứng. Con đực sẽ bơi theo dấu hóa học và "thả" tinh trùng.
Mặc dù bạch tuộc thụ tinh trứng ở bên trong, bà DiCosmo hoài nghi liệu loài này có dùng chất hấp dẫn khoa học để đánh thức tinh trùng khỏi trạng thái ngủ đông. Nghiên cứu rốt cuộc hé lộ, loại protein có tên Octo-SAP trong trứng của bạch tuộc đã kích hoạt trạng thái bơi của tinh trùng và các "con giống" đã bơi tới nơi tập trung lượng Octo-SAP cao hơn.

Bạch tuộc dự trữ tinh trùng có thể vì ít có cơ hội giao phối thường xuyên.
Nhà nghiên cứu DiCosmo đã có một số giả thiết về hành vi lưu trữ tinh trùng ở bạch tuộc. Đó có thể do sự bất cân xứng về thời gian để một trứng của con cái đạt tới độ chín với tốc độ sản sinh tinh trùng nhanh chóng ở con đực. Chẳng hạn như, con cái có thể không có sẵn trứng trưởng thành khi giao phối với con đực, một hoạt động dường như không diễn ra thường xuyên.
"Do bạch tuộc là động vật cô độc nên chúng không có nhiều cơ hội để gặp gỡ bạn tình. Vì lí do này, lưu trữ tinh trùng là một trong những chiến lược hữu hiệu để duy trì nòi giống. Thụ tinh ngay lập tức hoặc thụ tinh bên ngoài có thể dẫn tới sự thất bại", bà DiCosmo nói.
Nguồn: Tuấn Anh (Theo NatGeo), vietnamnet.vn-
By
Truong Huynh Nhu - 0 comments
- 5 likes
-
By
-
The predatory sea slug Pleurobranchaea californica approaches & tries to eat a stinging Spanish shawl (Flabellina iodinea). The Spanish shawl stings the predator & begins a frenetic dance of escape, but Pleurobranchaea quickly learned to get away.
-
By
Admin - 0 comments
- 4 likes
-
By
-
Nhằm mục đích cải tiến tính ổn định về kỹ thuật sản xuất đại trà luân trùng nước lợ Brachionus, cũng như làm giảm công lao động và không gian sản xuất, hệ thống nuôi liên tục tự động hóa đã được phát triển cho ứng dụng thực tế. Hệ thống này bao gồm thiết bị lọc, các bể nuôi và thiết bị thu hoạch. Trong hệ thống này, nước và thức ăn với tỉ lệ đã được điều chỉnh trước được cung cấp vào bể nuôi luân trùng liên tục và cùng lúc lượng nước nuôi cũng được chuyển vào bể thu hoạch luân trùng với sinh khối lớn.
B. rotundifomis (được gọi là loài S) và B. plicatilis (được gọi là loài L) được sản xuất đại trà thành công từ hệ thống này với những điều kiện cần duy trì như 30oC cho loài S và 24oC cho loài L, nước có độ mặn 20 ppt và được che tối hoàn toàn. Về thức ăn cho luân trùng, tảo nước ngọt thương mại Chlorella vulgaris cô đặc được sử dụng.
Tỉ lệ nước nuôi được pha loảng mỗi ngày được điều chỉnh lần lượt 60-70 %/ngày cho loài S và 25 %/ngày cho loài L. Trung bình khoảng 2,1 tỉ luân trùng loài S/ngày đạt được từ bể nuôi 1m3, trong đó mật độ luân trùng đạt được từ 3.000 đến 6.000 cá thể/mL. Mặt khác, trung bình khoảng 0,17 tỉ luân trùng loài L/ngày đạt được từ bể nuôi 500 lít, với mật độ đạt từ 1.100 đến 2.200 cá thể/ mL. Thời gian nuôi có thể kéo dài lâu nhất là 110 ngày. Hơn nữa, các nghiên cứu đã ứng dụng 5 kỹ thuật giàu hoá cũng đã chỉ ra rằng luân trùng từ hệ thống nuôi liên tục có thể dễ dàng được giàu hóa đủ dinh dưỡng như các hệ thống nuôi theo mẻ phổ biến.
Người dịch: Ks. Trần Tấn Huy, Khoa Thủy Sản, Đại Học Cần Thơ.
Nguồn tin: Yong Fu, Akio Hada, Takashi Yamashita, Yoshihiro Yoshida & Akinori Hino, 1997. Development of a continuous culture system for stable mas production of the marine rotifer Brachionus. Live food in aquaculture. Hydrobiologia (1997).-
By
Trieu Thanh Tuan - 0 comments
- 4 likes
-
By
-
Gregarine từ giống Nematopsis thường lây nhiễm trong ruột tôm chân trắng Litopenaeus vannamei nuôi ven bờ Thái bình dương ở Mexico. Sinh trưởng chậm và tử vong của tôm trắng thường đồng thời với lây nhiễm gregarine
Kiểm soát sự lây nhiễm bằng những phương pháp thực nghiệm thay vì kháng sinh đang ngày càng trở thành vấn đề quan trọng trong các trại nuôi tôm ở Mexico. Tuy nhiên chưa có công bố về phương pháp chữa trị có hiệu quả cho bệnh này. Mục đích của nghiên cứu này là đánh giá hiệu quả của việc sử dụng sodium monensin (Elancoban™) và sulfachloropyrazine (Avimix-ST™) trong việc tẩy bào tử Nematopsis trong ruột của tôm trắng bị nhiễm bệnh. Bốn thí nghiệm được thực hiện với những liều lượng thuốc khác nhau trên tôm bị nhiễm bệnh thông qua việc cho ăn thức ăn có trộn thuốc trong 5 ngày liên tục. Hệ thống thí nghiệm gồm có bể kính chứa 8-10 con tôm. Nồng độ kháng sinh biến động từ 2-8 g/kg (Elancoban™) và từ 2- 7 g/kg (Avimix-ST™). Sau 5 ngày, cả hai sản phẩm đã làm giảm đáng kể cường độ nhiễm của Nematopsis khi so sánh với nghiệm thức không dùng thuốc. Sử dụng Elancoban™ ở mức 5.5- 6.0 g/kg đã làm giảm 92 – 94% bào tử Nematopsis và Avimix-ST™ ở mức 2.5-3.5 g/kg đã làm giảm 83 – 85% bào tử Nematopsis. Không xảy ra hiện tượng tôm bị tử vong trong quá trình sử dụng các lọai thuốc nói trên. Thí nghiệm chứng tỏ hiệu quả của Elancoban™ và Avimix-ST™ trộn vào thức ăn để kiểm soát bào tử Nematopsis trên tôm trắng Litopenaeus vannamei.
Người dịch: Ts. Ngô Thị Thu Thảo - Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
Nguồn tin: Emma J. Fajer-Ávila, María Soledad Morales Covarrubias, Selene Abad-Rosales, Ana Roque, Pablo Meza-Bojórquez and Crisantema Hernández-González. 2005. Effectiveness of oral Elancoban™ and Avimix-ST™ against Nematopsis (Apicomplexa: Porosporidae) gametocyts infecting the shrimp Litopenaeus vannamei. Aquaculture, Volume 244 (1-4): 11-18.-
By
Trieu Thanh Tuan - 0 comments
- 4 likes
-
By
-
Suốt thập kỷ qua, siêu vi gây bệnh đã làm chết hàng loạt tôm nuôi ở hầu hết các vùng nuôi tôm chủ yếu trên thế giới. Ngoài ra, công nghiệp nuôi tôm toàn cầu đã bị phê phán vì ảnh hưởng xấu đến các môi trường ven biển.
Các công nghệ hiện nay bao gồm việc sử dụng tôm không nhiễm một bệnh đặc thù (SPF – Specific pathogen free) để nuôi đến cỡ tiêu thụ trong các hệ thống tuần hoàn dựa trên sự loại trừ mầm bệnh. Phương pháp nầy vốn cần sản xuất đàn bố mẹ SPF trong các điều kiện an toàn sinh học. Tuy nhiên, có sự thiếu thốn thông tin về biểu hiện sinh sản và tăng trưởng của đàn bố mẹ khi chúng được nuôi trong các hệ thống tuần hoàn. Nghiên cứu nầy so sánh biểu hiện sinh sản và tăng trưởng của tôm trong hai thử nghiệm khi tôm được nuôi từ cỡ thương mại (khoảng 20 g) đến cỡ bố mẹ (khoảng 40-60 g) trong một hệ thống nuôi thủy sản tuần hoàn so với một ao đất nước chảy. Trong thử nghiệm 1, tốc độ tăng trưởng trung bình con đực và cái trong hệ thống tuần hoàn tương ứng là 0,9 và 1,53 g/tuần, trong khi ở ao đất, con đực và cái tăng trưởng tương ứng là 1,24 và 1,78 g/tuần. Sự tăng trưởng chậm hơn trong hệ thống tuần hoàn được gán cho là thiếu sức sản xuất tự nhiên vốn cung cấp chất dinh dưỡng bổ sung cho tôm. Ngoài sự tăng trưởng, biểu hiện sinh sản của đàn bố mẹ nuôi trong hệ thống tuần hoàn cũng được so sánh với quá trình biểu hiện sinh sản của đàn bố mẹ nuôi trong ao đất. Số liệu về tỉ lệ sinh sản và sản xuất ấu trùng sống cho thấy không có sự khác nhau có ý nghĩa (P>0.05) giữa tôm nuôi trong hai hệ thống. Các kết quả nầy cho biết rằng tôm bố mẹ có thể được nuôi trong hệ thống tuần hoàn an toàn sinh học mà vẫn duy trì sự tăng trưởng và tỉ lệ sống tốt. Ngoài ra, biểu hiện sinh sản của đàn tôm bố mẹ nuôi trong hệ thống tuần hoàn thì không có bất lợi so với nuôi trong ao nước chảy thông thường.
Người dịch: Ts. Trương Trọng Nghĩa - Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
Nguồn tin: Otoshi C.A., S.M. Arce and S.M. Moss (2003) Growth and reproductive performance of broodstock shrimp reared in a biosecure recirculating aquaculture system versus a flow-through pond.-
By
Trieu Thanh Tuan - 0 comments
- 3 likes
-
By
-
Hepatopancreatic parvovirus (HPV) nhiễm trên tôm sú nuôi (HPV-mon) ở Thái Lan được công bố đầu tiên vào năm 1992 (Flegel et al., 1992). Virus HPV nhiễm trên tế bào gan tuỵ, ảnh hưởng đến vấn đề chậm phát triển và đa số đàn tôm nuôi có kích cỡ nhỏ. Điều này dẫn đến làm giảm lợi nhuận một cách đáng kể. Theo đề nghị của tác giả là cần kiểm tra mầm bệnh HPV trên tôm giống trước khi thả nuôi và sẽ loại bỏ khi giống tôm nhiễm virus HPV (Flegel et al., 1999).
Bằng phương pháp truyền thống phát hiện HPV là dựa vào việc quan sát đặc điểm của thể vùi khi nhuộm H&E (Lightner, 1996), nhưng có kỹ thuật phát hiện virus HPV nhanh hơn được phát triển trong thời gian gần đây đó là những kỹ thuật thuộc lĩnh vực công nghệ sinh học phân tử (Mari et al., 1995 & Lightner 2000, 2001) và những sản phẩm này được thương mại hoá bởi các công ty DiagXotics, Wilton, CT, USA. Những đoạn mồi và gen dò thương mại của HPV được tổng hợp dựa trên đoạn gen của HPV nhiễm trên Penaeus chinensis (HPV-chin). Sản phẩm khuyếch đại PCR của HPV-chin là 350 bp, trong khi đó của HPV-mon là 732 bp. Điều này cho thấy rằng HPV-mon có trình tự đồng dạng với HPV-chin là 70%. Vì vậy việc sử dụng cặp mồi thương mại và gen dò để phát hiện HPV-mon thì có độ nhạy thấp hơn so với việc phát hiện HPV-chin. Để cải tiến độ nhạy trong việc phát hiên HPV-mon thì nhóm nghiên cứu sử dụng trình tự ADN của sản phẩm khuyếch đại PCR 732 bp từ HPV-mon để tổng hợp cặp mồi (H441F - 5’GCA TTA CAA GAG CCA AGC AG 3’ và H411R - 5’ ACA CTC AGC CTC TAC CTT GT 3’) và gen dò đặc hiệu. Sử dụng cặp mồi vừa được tổng hợp có thể phát hiện HPV-mon với nồng độ ADN tinh khiết rất thấp là 1fg, và sản phẩm khuyếch đại PCR 441 bp gắn với digoxygenin trong việc phát hiện HPV-mon bằng kỹ thuật lai in situ, dot blot cho kết quả dương tính mạnh và đặc hiệu. Ngược lại không có kết quả đối với những loài virus gây bệnh có cấu trúc di truyền là ADN và ADN của tôm. Bằng kỹ thuật PCR, sử dụng dịch huyền phù được lấy từ vùng tổn thương, phân tươi của tôm, hoặc tôm giống nghiền trong 0,025% NaOH/0,0125% SDS làm mẫu thì có thể phát hiện được HPV-mon có lượng ADN ít khoảng 1pg. Bằng kỹ thuật dot blot có thể phát hiện ADN tinh khiết của HPV-mon tại nồng độ 0.01 pg, nhưng trong phân tôm thì cần nồng độ là 1 pg và tôm giống là 0.1 pg.
Người dịch: Ks. Phạm Trần Nguyên Thảo - BM Sinh học và Bệnh Thủy sản. Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
Nguồn tin: Jurairat Phromjai, Vichai Boonsaeng, Boonsirm Withyachumnarnkul, Timothy W. Flegel, 2002. Detection of hepatopancreatic parvovirus in Thai shrimp Penaeus monodon by in situ hybridization, dot blot hybridization and PCR amplification. Dis Aquat Org 51: 227-232, 2002.-
By
Trieu Thanh Tuan - 0 comments
- 3 likes
-
By
-
Các nhà khoa học thuộc Đại học Liverpool đã giải đáp bí mật về sự thích nghi quan trọng nhất trong thế giới loài vật: “Vì sao động vật biển có vú có thể dự trữ lượng oxy để thở dưới nước trong thời gian dài?”.
Các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu về myoglobin, một loại protein lưu trữ oxy trong các cơ của loài động vật biển có vú. Đó là một loại protein không dính.
Tiến sĩ Michael Berenkrink từ Viện Sinh học tổng hợp thuộc Đại học Liverpool cho biết: “Ở nồng độ cao, protein có xu hướng dính lại với nhau, vì vậy chúng tôi đang cố gắng tìm hiểu làm thế nào mà hải cẩu và cá voi trong quá trình tiến hóa có thể tập trung loại protein này ở cơ mà không làm mất đi chức năng của cơ”.
Myoglobin được lấy từ các cơ của loài động vật có vú, từ loài bò sống trên cạn, loài rái cá bán thủy đến cả loài chuyên lặn sâu như cá nhà táng. Kết quả cho thấy có sự thay đổi trong myoglobin ở loài động vật biển có vú lặn sâu này. Chất myoglobin ở chúng không dính trong quá trình tiến hóa 200 triệu năm qua.
Tiến sĩ Berenkrink giải thích thêm myoglobin của loài động vật biển có vú tích điện dương, tương tự các cực dương trong trong nam châm, nó sẽ đẩy nhau. Bằng cách này, nó có thể "đóng gói" các protein với nồng độ cao vào cơ bắp của mình, vì nó đẩy nhau nên không thể dính lại và ảnh hưởng đến việc tắc nghẽn các cơ bắp.
Giải mã bí mật đáng kinh ngạc này đã góp phần quan trọng trong lĩnh vực sinh học tiến hóa, từng biết hiểu rõ hơn cơ chế xảy ra trong cơ thể động vật có vú khi nó tiến hóa từ động vật trên đất liền tới loài sống gần nước, và trở thành sinh vật có “máy” thở sống trong các đại dương ngày hôm nay.
Nguồn: Trùng Dương (Theo BBC News), tuoitre.vn-
By
Truong Huynh Nhu - 0 comments
- 5 likes
-
By
-
Một khu du lịch nghĩ dưỡng ở Hàn Quốc được thiết kế giống một chiếc du thuyền sang trọng nằm trên ngọn đồi.
Thoạt nhìn nó có vẻ là một chiếc du thuyền đại dương hàng triệu bảng đã bị mắc cạn trên đá.
Khách sạn Sun Cruise ở Jeongdongjin, Hàn Quốc, rất tuyệt hảo cho những ai muốn được tận hưởng cuộc vui trên du thuyền nhưng bị say sóng!
Triệu Thanh Tuấn, www.aquanetviet.org-
By
Trieu Thanh Tuan - 0 comments
- 5 likes
-
By
-
Sự phát triển nhanh chóng của nghề nuôi thủy sản thâm canh (tôm, cá) trên thế giới làm nảy sinh nhiều vấn đề trở ngại, tác động xấu đến môi trường do việc nuôi đơn loài, đặc biệt là ở vùng nuôi tập trung cao độ hay vùng nuôi không thích hợp, quá tải. Những trở ngại môi trường chủ yếu là do nguồn dinh dưỡng và chất thải đổ ra vùng ven biển từ các hệ thống nuôi hở hay nuôi nội địa.
Trong xu hướng tiến tới quản lý nuôi thủy sản tốt nhất (BMP), nghề nuôi thủy sản vừa phải xây dựng những biện pháp thực hành tiên tiến và có trách nhiệm để tối ưu hoá hiệu quả và đa dạng hoá nghề nuôi, nhưng vừa phải cải thiện được các tác động xấu của hoạt động thâm canh này, đảm bảo môi trường lành mạnh. Để tránh làm xáo động các diễn thế tự nhiên vùng ven biển, bảo tồn là giải pháp thông thường lâu nay ở các nước Châu Á. Việc kết hợp nuôi các loài thủy sản có cho ăn (tôm, cá) với nuôi các loài thủy sản hấp thụ dinh dưỡng hữu cơ và vô cơ (rong biển, động vật hai vỏ), chất thải của đối tượng này sẽ làm nguồn thức ăn, dinh dưỡng cho đối tượng khác. Cách tiếp cận hệ sinh thái cân bằng như thế sẽ giúp tái sử dụng dinh dưỡng, có lợi chung cho các đối tượng nuôi trồng, đa dạng hoá nguồn thu nhập từ nhiều đối tượng nuôi kết hợp và nâng cao lợi nhuận chung trên một đơn vị sản xuất. Hiện nay, một số nước đang có chủ trương và hướng dẫn sử dụng các loài rong biển thích hợp làm nguồn hấp thu và tái tạo dinh dưỡng theo hướng sinh học như một phương cách sử dung hiệu quả chi phí sản xuất, giảm thiểu chi phí môi trường toàn cầu. Với phương pháp nuôi kết hợp đa loài, nghề nuôi thủy sản làm tăng khả năng chấp nhận về kinh tế, xã hội và môi trường, tạo nên một cấu thành bền vững và đầy đủ trong khuôn khổ phát triển chương trình quản lý tổng hợp vùng ven biển.
Người dịch: Ts. Trần Ngọc Hải, BM Hải sản, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
Nguồn tin: Chopin, T., A.H. Buschmmann, C. Halling, M. Troell, N. Kautsky, M. Neori, G.P. Kraemer, J.A. Z. Gonzaler, C. Yarish, and C. Neefus (2001). Integrating Seaweed into Marine Aquaculture Systems: A Key Toward Sustainability. Journal of Phycology, 37, 975-986.-
By
Trieu Thanh Tuan - 0 comments
- 4 likes
-
By