• Sign In
  • Create Account
Sign In
Create Account
Vietnam Aquaculture Network
  • News Feed
  • Hot Topics
  • Top Rated
  • Categories
    • Everything (882)
    • Aquaponics (8)
    • Công nghệ Bioflocs (23)
    • Bệnh học thủy sản (158)
    • Nuôi trồng thủy sản (72)
    • Động vật thủy sinh (258)
    • Sản xuất giống thủy sản (71)
    • Dinh dưỡng thủy sản (47)
    • Sinh lý cá và giáp xác (34)
    • Quản lý chất lượng nước (38)
    • Thuốc & hóa chất thủy sản (52)
    • Sự kiện thủy sản (1)
    • Thực vật thủy sinh (19)
    • Khai thác, chế biến, xuất khẩu (36)
    • Chuyên mục khác (61)
  • Members
  • Thành phần sinh hóa của quần thể động vật nổi trong ao đất nước ngọt: Sự liên qu...
    Nghiên cứu này được tiến hành nhằm thu được cơ sở dữ liệu mô tả giá trị dinh dưỡng của quần thể động vật nổi trong môi trường nước ngọt để mở rộng việc sử dụng cho ấu trùng cá và phát triển trong việc ương nuôi cá nước ngọt.

    Thành phần các chất dinh dưỡng của động vật nổi hỗn hợp được thu từ 6 ao đất có bón phân được phân tích protein, lipid, carbohydrate và chất tro và các hàm lượng này biến động lần lượt là 73-79%, 10,79-14,55%, 3-4,79% và 3,20-10,07% được tính dựa trên vật chất khô (DM). Thành phần các amino acid cho thấy có sự hiện diện của tất cả 10 amino cid thiết yếu với hàm lượng methionine thấp. Hàm lượng các acid béo no (SAFA), các acid béo đơn phân tử chưa no (MUFA) và các aid béo đa phân tử chưa no (PUFA) dao động lần lượt từ 64-81%, 7-15% và 6-20% trên tổng các acid béo. Các acid béo có hàm lượng cao hơn đó là SAFA (16:0), MUFA (18:1n-9), PUFA như là acid linoleic (LA 18: 2n-6) và acid linolenic (LNA 18:3n-3). Trong số các Vitamin thì acid ascorbic (15-40,01µg/gDM) ít hơn so với nhu cầu của cá, đặc biệt là cá giai đoạn ấu trùng, vitamin A (13,61-63,95 µg/gDM) và vitamine E (218-348 µg/gDM) thì nhiều hơn so với nhu cầu của cá. Hàm lượng khoáng chất và các yếu tố vi lượng gồm có P, Ca, Fe, Cu, Zn và Mn.

    Biến động theo mùa của tất cả các thành phần sinh hóa đã được đánh giá trong nghiên cứu. Vitamin E cùng có sự tương quan mạnh mẽ (r1 = 0,72; r2 = 0,88; r3 = 0,83; r4 = 0,86; r5 = 0,36 và r6 = 0,88) với sự biến động theo mùa của hàm lượng lipid của động vật nổi ở các ao khác nhau và biến động ngược lại với sự gia tăng nhiệt độ. Hàm lượng enzyme của quần thể động vật nổi hỗn hợp gồm có protease (6,21-7,92 µg leucine/mg protein/h), lipase (25,82-39,1 µg α-naphthol/mg protein/h) và men amylase (100-226,1 µg maltose /mg protein/h), hàm lượng enzyme này có thể được sử dụng như là nguồn enzyme tiêu hóa ngoại sinh cho cá và nhóm shellfish trong suốt giai đoạn phát triển. Không có sự hiện diện của hoạt chất l-gulonolactone γ-oxidase cho thấy động vật nổi không có khả năng tổng hợp acid ascorbic (AA). Trọng lượng khô trung bình của động vật nổi ở các ao khác nhau dao động từ 1,2-4,2 mg/l và các loài động vật nổi xuất hiện trong các ao đó là Moina (Moina dubia); Daphnia (Daphnia lumholtzi, Daphnia carinata); Cyclops (Mesocyclops hyalinus, Mesocyclops leuckarti); Diaptomus (Heliodiaptomus viddus, Neodiaptomus handeli); Rotifer (Brachionus).

    Kết quả này cho thấy thành phần sinh hóa và giá trị dinh dưỡng của động vật nổi đã được xác định về mặc di truyền học và bị ảnh hưởng bởi giai đoạn thành thục và loại thức ăn của chúng. Các dữ liệu này có thể giúp cho việc tham khảo và chuẩn bị công thức thức ăn để tìm ra giá trị dinh dưỡng của động vật nổi nước ngọt trong quá trình ương nuôi cá nước ngọt giai đoạn ấu trùng và tiền trưởng thành.

    Người dịch: Ths. Nguyễn Thị Kim Liên (ntklien@ctu.edu.vn), BM Thủy sinh học ứng dụng, Khoa Thủy Sản, Trường Đại học Cần Thơ.
    Nguồn tin: Gopa Mitra, P.K. Mukhopadhyay, S. Ayyappan. 2007. Biochemical composition of zooplankton community grown in freshwater earthen ponds: Nutritional implication in nursery rearing of fish larvae and early juveniles. Aquaculture, Volume 272, Issues 1-4, 26 November 2007, Pages 346-360.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 0 likes
    • 9 minutes ago
  • Ảnh hưởng của độ mặn lên sinh sản và tỉ lệ sống của Copepod, Pseudodiaptomus ann...
    Ảnh hưởng của nồng độ muối lên sinh sản, vòng đời, tỉ lệ sống và ngưỡng chịu đựng việc sốc độ mặn của copepoda Pseudodiaptomus annandalei Sewell được nghiên cứu dưới điều kiện kiểm soát của phòng thí nghiệm. Tất cả các cá thể đều được cho ăn tảo Platymonas subcordiformis.

    Tổng số con non có nhiều nhất ở độ mặn 15‰, tiếp đến là 10‰ trong 7 độ mặn thí nghiệm trong suốt 10 ngày. Tỉ lệ sống của ấu trùng đạt cao nhất là 98,33% ở độ mặn 15‰ khi ấu trùng được nuôi cho đến khi có một vài con trưởng thành ở 4 độ mặn (5,10,15 và 20‰). Sức sinh sản tổng cộng cao nhất là 334 ± 171.6 ấu trùng/con cái và số con non trung bình mỗi ngày là 22 ± 6.4 ấu trùng/con cái thu được ở độ mặn 15 ‰ trong suốt giai đoạn thí nghiệm. Độ mặn tốt nhất cho sinh sản và tỉ lệ sống của ấu trùng là 15 ‰. Sức chịu đựng độ mặn của con cái tốt hơn con đực thông qua việc so sánh tỉ lệ sống ở nhiều độ mặn gây sốc và khoảng chịu đựng độ mặn này ở con cái và con đực lần lượt là 4,5–40,5 ‰ và 12,9–38,7 ‰ trong suốt 48 giờ.

    Người dịch: Ths. Dương Thị Hoàng Oanh (hoangoanh@ctu.edu.vn), BM Thủy sinh học ứng dụng, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
    Nguồn tin: Qingxiang Chena, Junqing Shenga, Qiang Lina, Yongli Gaoa and Junyi Lv. Aquaculture, Volume 258, Issues 1-4, 31 August 2006, Pages 575-582.
    • By Admin
    • 0 comments
    • 1 like
    • 12 hours ago
    • Ba Tôm
  • Kỳ giông Axolotl trở thành ngôi sao ở bể cá Úc
    Loài kỳ giông Axolotl salamander có lý do để mỉm cười sau khi nó được du khách chào đón như một ngôi sao ở công viên Aquaria Fun ở Úc. Không giống họ hàng của mình, nó không bị kiệt sức trốn tránh ô nhiễm ở quê nhà Mexico hoặc bị bắt làm thí nghiệm ở các phòng lab nơi chúng bị săn đuổi sát sao để làm mẫu vật nghiên cứu.

    Chúng hầu như bị quét sạch khỏi tự nhiên vì ô nhiễm và vì chúng được xem là một món đặc sản ở nhiều nơi. Sách đỏ IUCN liệt kê chỉ còn hai hồ được biết là có những cá thể loài này.

    Trong điều kiện nuôi nhốt, chúng cũng nổi tiếng – nhưng không giống cá thể may mắn này – chúng chủ yếu được nuôi ở những phòng thí nghiệm nơi chúng được khen ngợi là có khả năng mọc lại các chi mới.

    Điều được xem là một sự ngạc nhiên thú vị về mặt y khoa khi các nhà khoa học phát hiện Axolotl không những có khả năng mọc lại đầy đủ các chi mà còn các cơ quan bên trong, gồm cả xương sống và một phần bộ não. Các nhà khoa học tin rằng loài này có thể nắm giữ chìa khóa của việc tái tạo tay chân con người.

    Loài Axolotl này không phải là loài động vật duy nhất thích nở một nụ cười. Với nụ cười kỳ dị và thân thể mờ đục, con cá đuối lưng gai có nụ cười rất ma quái. Bộ phận cứ ngỡ là mắt hóa ra là khe mang, dùng để thở. Mắt thật của nó là trên đỉnh thân. Cá đuối lưng gai là loài rất thường thấy ở các vùng nước Anh Quốc và có thể dài đến 4 feet. Lưng chúng phủ đầy gai.

    Nguồn: Viết bỡi Tara Brady, Bản tiếng Việt Blog Biển và Người.
    • By Trieu Phu
    • 0 comments
    • 2 likes
    • 17 hours ago
    • Thuy Loan Tran and
    • Ba Tôm
  • Cá nóc hòm sừng đuôi dài - Longhorn Cowfish
    Cá nóc hòm sừng đuôi dài có tên khoa học là Lactoria cornuta, thuộc giống Lactoria, họ cá Ostraciidae. Cá nóc hòm sừng đuôi dài phân bố rộng ở các vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới như Hồng Hải, Đông Phi, đông Indonesia, phía Bắc đến phía Nam Nhật Bản, miền nam Hàn Quốc, phía nam Australia và Đảo Lord Howe.

    Con cá này có tên như vậy vì nó giống một con trâu có gai dài nhô ra trên đầu (chúng còn có tên là hải ngưu). Chiếc gai này có thể mọc lại khi bị gãy. Chúng có thể có màu khác và thường có những chấm trắng trên thân. Thịt nó có độc và biến chúng trở thành một loài cá không hấp dẫn mấy với những kẻ đi săn. Chúng là những tay bơi chậm và dễ dàng bị bắt và nổi tiếng là tạo ra âm thanh lạ thường.

    Môi trường sống chính của nó là các rạn san hô, trên những bãi đá ngầm. Cá lớn thường sống đơn độc quanh các rạn san hô, trong khi con nhỏ thường sống thành đàn tập trung ở các rạn san hô Acropora. Cá nóc hòm sừng đuôi dài thường sống ở độ sâu là 3,3-148 ft (1-45 m, có thể lên đến 100 m). Chúng có thể dài đến 20 inch. Cá nóc hòm sừng đuôi dài hiện đang được nuôi phổ biến làm cảnh.

    © Triệu Thanh Tuấn, www.aquanetviet.org.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 3 likes
    • 20 hours ago
    • Admin
    • Thuy Loan Tran and
    • Ba Tôm
  • Kỹ thuật nuôi tép kiểng
    Trào lưu chơi tép kiểng tại TP Hồ Chí Minh đang “thịnh”. Đặc biệt là những loại tép ngoại với những cái tên rất “oách” như: Reb cherry Shrimp, Caridina sp Tiger (tép cọp), Crytal Red Shrimp (tép ong đỏ), tép Sulawesi…

    1. Thú chơi tép kiểng giá ngàn đô

    Đáng nói là giá của những loại tép này cũng không “dễ xài”, từ vài chục USD đến hơn 100 USD. Đặc biệt, loại tép ong đỏ chỉ bằng đầu tăm nhưng có giá đến 1.000 USD/con. Theo anh Lê Đức Huy (quận Phú Nhuận) người chơi tép lâu năm thì loại tép này xuất xứ từ Nhật Bản, có màu trắng, trên đỉnh đầu có chấm màu đỏ, giống biểu tượng của lá cờ Nhật nên tại nước này, loại tép ong đỏ rất quý hiếm và được ưa chuộng. Đây cũng là loại tép khó nuôi vì đòi hỏi môi trường nước tinh khiết, giống của nó đột biến nên khả năng thích ứng với môi trường kém, sinh sản khó nên giá thành rất cao.

    2. Thể tích bể nuôi tép kiểng

    - Thể tích cần của bể nuôi tép chỉ đóng vai trò thứ yếu. Ngay cả với bể 12 L người ta có thể nuôi được tốt một bầy tép nhỏ.

    - Tất nhiên ở những bể lớn hơn sẽ giảm thiểu hậu quả những sai phạm hay xẩy ra: cho ăn quá nhiều, thay nước không đều đặn, vì thế thể tích nhỏ nhất được khuyên cho bể nuôi tép từ 54 L trở lên, cũng là kích thước phổ biến dễ tìm mua của bể làm sẵn trên thị trường. Trở lên trên không có giới hạn tối đa, người viết cũng thỉnh thoảng mơ tưởng đến bể có dung tích lít… bốn năm số, nhưng đó lại là chuyện khác rồi.

    3. Nền bể nuôi tép kiểng

    - Dù bằng cát hay sỏi, đen hay trắng, mỗi người có thể thiết kế theo ý mình. Tép kiểng không “quan tâm” đến nhiều lắm. Tuy nhiên cần chú ý không dùng nền đá sỏi quá lớn, thức ăn thừa có thể lọt xuống bên dưới, hư thối làm ô nhiễm nước.

    - Thêm một điểm nhỏ: trước khi chọn nền cho bể, cần biết sẽ nuôi loại tép kiểng nào để chọn màu. Tép kiểng đỏ trên nền sáng thường không nổi bằng nền có màu sẫm hơn.

    4. Lũa trong bể nuôi tép kiểng

    Nếu có thể, bố trí vài khúc gỗ lũa cho bể. Không phải là bắt buộc nhưng tép kiểng rất thích trèo lên lũa tìm tòi thức ăn bám lên. Cũng cần chú ý không dùng gỗ lũa chất lượng xấu, còn thải ra nhiều tạp chất, sẽ ảnh hưởng đến tép kiểng.

    5. Cây thủy sinh

    - Cũng có thể chọn theo ý thích. Đặc biệt nên bố trí những góc trồng Moos bám trên lũa (Javamoos, Vesicularia dubyana, Pellia, Monosolenium tenerum), đây là những nơi rút vào cho tép kiểng khi thay vỏ và là nơi sống, tìm thức ăn an toàn cho tép kiểng con.

    - Trong bể quá ít cây, đôi khi tép kiểng không tìm được nơi trú ẩn cho quá trình thay vỏ. Trong trường hợp xấu, chúng sẽ bị chính đồng loại tấn công do vỏ còn mềm, tép kiểng còn yếu. Đó cũng là lý do khi tép kiểng rút lui lên tầng trên của bể, bám bất động ở điểm nào đó vì không tìm được nơi trú ẩn trong quá trình thay vỏ.

    - Khi mua, chọn tép kiểng, không để bị choáng trước những cái tên mỹ miều hấp dẫn của người bán đặt cho. Cũng vì lý do tép là lĩnh vực chưa được tìm hiểu, nghiên cứu cặn kẽ nên những nơi nhập, buôn bán tép lớn hay dễ dãi với tên gọi. Đã có nơi bán loại Crystal Cherry? Xui xẻo cho người mua chưa có thông tin cơ bản ví dụ mua lầm Red Fire(Cherry) dưới tên Red Crystal với giá đắt hơn thực sự.

    6. Chọn mua tép kiểng

    - Người mua cần chú ý đến biểu hiện khỏe mạnh của tép, cơ động bơi tới lui trong bể và chân trước nhặt tìm thức ăn không ngừng.

    - Bộ giáp cần mầu sắc đều đặn, không có điểm lạ như chấm nâu đỏ hoặc mầu lạ không đặc trưng của loại tép đó, thủng lỗ hoặc nổi bọc, mụn.

    - Người bán càng vất vả, mồ hôi mồ kê chảy càng nhiều, mặt mũi càng đỏ tưng bừng bao nhiêu khi vớt tép bán càng tốt. Tép khỏe mạnh di chuyển, trốn nhanh như chớp, người vớt phải cần nhiều khéo léo và cử động mới mong tóm được chúng. Những con di chuyển chậm chạp lờ đờ hoặc đứng yên bất động, chúng ta nên để chúng… đứng luôn tại đó, không đưa về nhà.

    - Hầu hết tép là loại sống theo bầy. Nếu ai chỉ cho chúng có một, hai “bạn chơi”, có lẽ chẳng có mấy cơ hội nhìn thấy chúng rời khỏi nơi ẩn nấp. Đặc biệt ở những bể thả nhiều cá kích thước tương đối lớn. Điều này thay đổi tức khắc khi chúng hợp được thành bầy, ít nhất từ mười con trở lên. Hầu như sự nhút nhát ở chúng biến mất hoàn toàn.

    - Đáng tiếc rằng chỉ riêng số lượng vẫn chưa là điều kiện đủ để chúng rời khỏi nơi ẩn nấp trong nhiều trường hợp. Trong bể của người viết thời gian bắt đầu nuôi tép, chỉ một con cá Phượng hoàng duy nhất trong bể đã đủ làm hai mươi chú tép Amano nấp kỹ lưỡng sau đống lũa. Tình hình thay đổi ngay trong ngày đầu tiên khi PH được dời sang bể khác, chú tép đầu tiên đã lò dò khỏi lô cốt. Đến ngày thứ hai cả bầy đã liên tục tuần tra khắp bể.

    - Lại có thông tin tép dạo chơi đường hoàng trong bể có nuôi cá Ali hoặc Discus. Những thông tin trái ngược nhau đó làm chúng ta trước mắt có thể bỏ qua việc lập list loại cá nào thích hợp, không thích hợp, ít thích hợp nuôi chung với tép. Nhưng trong mọi trường hợp không thể ít hơn hai, ba con trong một bể. Số lượng được khuyên nên thả từ đầu để có được đàn tép khỏe mạnh phát triển về sau không nên ít hơn năm con, hoặc hơn vài đôi càng tốt.

    7. Dinh dưỡng thức ăn cho tép kiểng

    - Ngay cả khi tép có tiếng là ăn rêu, chúng không là loài chỉ ăn thực vật. Từ ăn tạp có lẽ thích hợp hơn và như vậy, không cần loại bỏ thức ăn gốc động vật khỏi thực đơn cho chúng. Nhưng phải tránh nguồn Protein động vật với số lượng lớn. Kết quả những nghiên cứu cho thấy, quá trình lột vỏ tăng cao và chúng chết rất nhanh.

    - Trong bể nuôi chung với nhiều cá thực ra không cần cho chúng ăn, thức ăn thừa của cá rơi xuống luôn đủ cho chúng. Thực đơn của tép có thể là viên khô, thức ăn công nghiệp, đồ sống hoặc đông lạnh, Spinat, dưa leo, đậu Hà Lan… luôn được chúng đón chào nồng nhiệt. Người viết đã thu được kết quả tốt khi sử dụng viên thức ăn chứa lượng Spirulina cao.

    - Lượng thức ăn cần được tiêu thụ hết trong một giờ. Phần còn thừa hút, đưa ra ngoài, vì làm ô nhiễm nước nếu để lâu.

    - Ngoài bữa chính, tép còn nhặt nhạnh rêu, vi sinh vật quanh bể nên trong những bể đã ổn định nếu không cho chúng ăn vài ngày cũng không có chú nào chết đói cả.

    - Trong vài trường hợp có thể tép nảy ra ý định ngông cuồng gặm cả Moos mềm như Riccia,Pellia, nhưng chỉ xẩy ra ở những bể lớn nhân giống tép với số lượng lớn. Bình thường chúng ta không cần lo lắng đến cây trồng, chúng chỉ gặm đi những phần đã hư hỏng trên cây.

    - Để thực đơn cho tép thêm phần phong phú, chúng ta có thể trong khi đi dạo nhặt ít lá khô, rửa sạch nhúng qua nước sôi rồi cho vào bể. Các bạn sẽ thấy tép đổ xô đến tìm tòi thức ăn trên lá, và qua thời gian lá sẽ được gặm bớt đến khi chỉ còn lại cuống. Lá khô có tác dụng tốt làm ổn định quá trình lột vỏ của tép, nhả acidhumin giảm pH, chống nấm, mầm bệnh trong bể và là sân chơi ưa thích của tép.

    8. Các loại tép kiểng đẹp

    - Cardinal Shrimp
    - Brown Camo Shrimp
    - Blue Tiger Shrimp
    - Blue Pearl Shrimp
    - Black Tiger Shrimp
    - Bee Shrimp
    - Bamboo Shrimp
    - Amano Shrimp
    - Blue Bee Shrimp

    Nguồn: Thế giới Sinh vật cảnh, www.arowana.com.vn.
    • By Trieu Phu
    • 1 comment
    • 1 like
    • 17 hours ago
    • Ba Tôm
    • Thuy Loan Tran Dẽ thương quá ^^
      • 0 likes
      • Like
      • Reply
      • 14 hours ago
  • Ảnh hưởng của việc kết hợp cho ăn tảo Nannochloropsis và Chlorella nước ngọt lên...
    Một hệ thống nuôi luân trùng liên tục được bố trí để tìm hiểu về ảnh hưởng của việc kết hợp cho ăn hai loài tảo Nannochloropsis oculata (N) mật độ cao và Chlorella nước ngọt cô đặc (FC) lên thành phần acid béo của luân trùng Brachionus plicatilis kích thước lớn (L-type) khi được nuôi liên tục.

    Việc cung cấp tảo vào bể nuôi đựoc tiến hành theo 3 bước kế tiếp nhau: cho ăn N → cho ăn N+FC→ cho ăn FC. Luân trùng được nuôi ở nhiệt độ 24oC và độ mặn 25-27ppt trong các bình 2lít với 50% lượng nước được thay hàng ngày. Sự kết hợp cho ăn hai loài tảo N+FC có hiệu quả làm tăng mật độ luân trùng. Luân trùng ăn N+FC có nhiều lipid không cực (non-polar) hơn là lipid có cực và nó tương tự như luân trùng chỉ ăn tảo N và ngược lại với luân trùng chỉ ăn tảo FC. Luân trùng ăn N+FC có hàm lượng 16:2, 18:2n-6 (linoleic acid [LA]) và 20:2n-6 cao hơn nhưng hàm lượng 18:1, 20:4n-6 (arachidonic acid), 20:5n-3 (eicosapentaenoic acid [EPA]) và 22:5n-3 (docosapentaenoic acid [DPA]) lại thấp hơn so với luân trùng chỉ ăn N trong khi đó luân trùng ăn N+FC có hàm lượng 16:1n-7, EPA và DPA cao hơn nhưng hàm lượng 16:2 và LA lại thấp hơn luân trùng chỉ ăn FC. Thêm nữa luân trùng ăn N+FC có nhiều DPA trong lipid có cực hơn trong lipid không cực. Tỷ lệ Σn-6/Σn-3 trong luân trùng ăn N+FC là 0.9-1 và tỷ lệ này khác biệt có ý nghĩa so với luân trùng chỉ ăn N (0.4) và chỉ ăn FC (6.6-8.4). Vì vậy có thể suy luận rằng thành phần acid béo của luân trùng nuôi với tảo N+FC trong hê thống nuôi liên tục bị ảnh hưởng bởi cả hai loại tảo N và FC và việc kết hợp cho ăn cả hai loại tảo này sẽ có hiệu quả trong việc điều chỉnh tỷ lệ n-3/n-6 ở luân trùng được nuôi liên tục.

    Người dịch:Ths. Nguyễn Thị Hồng Vân (nthvan@ctu.edu.vn), TT Ứng dụng và chuyển giao công nghệ TS, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
    Nguồn tin: Takayuki KOBAYASHI, Toshiya NAGASE, Akinori HINO và Toshio TAKEUCHI. 2008. Effect of combination feeding of Nannochloropsis and freshwater Chlorella on the fatty acid composition of rotifer Brachionus plicatilis in a continuous culture. Aquaculture Nutrition 2008.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 2 likes
    • 23 hours ago
    • Ba Tôm and
    • Nguyễn Hồ
  • Sử dụng protein phát quang xanh lục làm dấu trong việc giám sát vi khuẩn hữu ích...
    Để giám sát vi khuẩn hữu ích Bacillus S11 (BS11) trong cơ thể sống, các tế bào gốc chưa thuần (wildtype) được cấy vào protein phát quang xanh lục (GFP) biểu hiện trong huyết tương ký hiệu là pAD44-12, protein này mang một đọan gen với tên gfpmut3a chứa đọan gen họat hóa UW85 cấu thành vi khuẩn Bacillus cereus và huyết tương bình thường không được cấy protein phát quang của loại vi khuẩn này. Các tế bào được biến đổi pAD44-12 (BS11-GFP) và không biến đổi (đối chứng, BS11-pAD) biểu hiện khả năng phát quang nhưng với mức độ không cao.

    Sự đề kháng Chloramphenicol (BS11-GFP, BS11-pAD) và việc sử dụng vi khuẩn biến đổi (BS11-GFP) làm dấu cho thấy rằng sự lưu giữ trong huyết tương là khỏang 78-79% đối với cả hai loại tế bào BS11-GFP và BS11-pAD sau khỏang 50 thế hệ sinh trưởng mà không có các sàng lọc về kháng sinh. Khi trộn chúng vào trong thức ăn tôm với liều lượng 10^5 CFU/g, thể vùi của vi khuẩn được biến đổi có thể tồn tại được trong thức ăn này. Sau khi cho tôm ăn 3 lần/ ngày ở các bể xi măng 400L trong 9 tuần, không thấy có sự khác biệt về trọng lượng trung bình cũng như số lượng vi khuẩn BS11 trong nước cũng như trong ruột tôm giữa hai loại thức ăn có chứa BS11-GFP, BS11-pAD và hoặc là BS11.

    Điều này cho thấy rằng sự biểu hiện của gen gfpmut3a không có bất kỳ ảnh hưởng nào đối với các đặc tính của BS11 cũng như tăng trưởng của tôm. Các xét nghiệm mô học ở hệ tiêu hóa của tôm sau khi cho ăn thức ăn chứa BS11-GFP đã chứng minh vi khuẩn BS11-GFP có thể sông trong thức ăn và bám vào bề mặt ruột tôm vì vậy nó có tiềm năng tốt trong việc sử dụng như một loại marker (dấu) sinh học cho các thí nghiệm ngắn hạn.

    Người dịch: Ths. Nguyễn Thị Hồng Vân (nthvan@ctu.edu.vn), Trung tâm Ứng dụng và CGCN, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
    Nguồn tin: S. Rengpipat; N. Wongtangprasert v T. Palaga, Department of Microbiology, Faculty of Science, Chulalongkorn University, Bangkok, Thailand. The use of green fluorescent protein as a marker for monotoring a probiotic Bacillus S11 in black tiger shrimp Penaeus monodon. Aquaculture Nutrition, Received 13 March 2008, accepted 9 April 2008.
    • By Admin
    • 0 comments
    • 1 like
    • 23 hours ago
    • Ba Tôm
  • Ảnh hưởng của sự oxy hóa NH3 lên giá trị BOD5
    BOD5 là một chỉ số đánh giá mức độ ô nhiễm cũng như đánh giá hiệu quả của một hệ thống xử lý chất thải. Giá trị này chỉ thị cho nhu cầu oxy sinh học bởi sự phân hủy vật chất hữu cơ. Tuy nhiên trong quá trình đo BOD5 thường bị ảnh hưởng bởi nhu cầu oxy cho quá trình nitrite hóa và kết quả BOD5 đo đạc được cao một cách bất thường khi so sánh với giá trị COD(Mn).

    Một thí nghiệm nhỏ được thực hiện để kiểm tra xu hướng biến động oxy và N-NOx trong chai ủ mẫu BOD. Kết quả đã cho thấy rằng:

    - Quá trình nitrite hóa xảy ra trong hai ngày đầu của quá trình ủ 5 ngày với sự tăng lên theo cấp số mũ của hàm lượng N-NO3- trong mẫu.
    - Giá trị BOD5 đo đạc được cao hơn giá trị COD, đôi khi cao gấp 3 lần.
    - Quá trình nitrite hóa trong chai ủ mẫu bị ảnh hưởng bởi hàm lượng N-NH3. Khi hàm lượng N-NH3 trong mẫu phân tích BOD5 cao, giá trị BOD5 đo được sẽ tỉ lệ nghịch với nồng độ NH3 trong mẫu và ngược lại. Khi bị ảnh hưởng bởi quá trình nitrite hóa, nó sẽ rất khó trong việc đánh giá hiệu quả của quá trình xử lý nước thải. Vì vậy việc đo các chỉ số ATU-BOD, N-NH3, N-NO2-, N-NO3- là rất cần thiết.

    Người dịch: Ks. Huỳnh Trường Giang (htgiang@ctu.edu.vn). BM Thủy sinh học ứng dụng, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
    Nguồn tin:Nobuyuki Hayashi. Effect on BOD5 Value by Oxidation of N-NH3. Vol. 19 (1996), No.1 pp. 76-83. Journal of Japan Society in Water Environment.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 1 like
    • 23 hours ago
    • Ba Tôm
  • Thử nghiệm cảm nhiễm Macrobrachium rosenbergii nodavirus (MrNV) và extra small v...
    Tính nhạy cảm của 3 loài tôm biển đối với Macrobrachium rosenbergii nodavirus (MrNV) và extra small virus (XSV) được kiểm tra bằng cách cho ăn và tiêm vào cơ.

    Kết quả cho thấy những loài tôm biển này không nhạy cảm với 2 loài virus và 2 loài virus này cũng không gây chết tôm biển. Phân tích RT-PCR cho thấy sự hiện diện của MrNV và XSV ở những cơ quan khác nhau như: mang, cơ bụng, dạ dày, ruột và máu của 3 loài tôm biển được tiêm virus. Những loài virus này cũng được tìm thấy trên những mô khác nhau của tôm gây cảm nhiễm bằng cách cho ăn cơ của tôm nhiễm bệnh, nhưng không tìm thấy ở những nhóm cho ăn cơ của tôm không nhiễm bệnh. Thực hiện tiêm nhắc bằng cách dùng dịch tiêm của MrNV và XSV trích từ những loài tôm biển mà những virus này gây chết 100% trên tôm càng xanh giống và những tôm giống gần chết đều cho kết quả dương tính khi kiểm tra bằng RT-PCR.

    Kết quả cho thấy khả năng tôm biển là nguồn cung của MrNV và XSV và duy trì độc lực của virus trong cơ tôm biển.

    Người dịch: Ks. Trần Thị Mỹ Duyên (ttmduyen@ctu.edu.vn), BM. Sinh học và Bệnh thủy sản, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
    Nguồn tin: R. Sudhakaran, S. Syed Musthaq, P. Haribabu, S.C. Mukherjee, C. Gopal, A.S. Sahul Hameed. Experimental transmission of Macrobrachium rosenbergii nodavirus(MrNV) and extra small virus (XSV) in three species of marine shrimp (Penaeus indicus, Penaeus japonicus and Penaeus monodon). Aquaculture 257 (2006) 136–141.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 1 like
    • 23 hours ago
    • Ba Tôm
  • Cá sư tử - Lionfish
    Cá sư tử là một trong nhiều loài cá biển có nọc độc thuộc giống Pterois, Parapterois, Brachypterois, Ebosia hay Dendrochirus của họ Scorpaenidae. Trong đó, giống Pterois hiện xác định được 10 loài. Cá sư tử cũng có tên cá Thổ Nhĩ Kỳ, cá rồng, cá mao tiên hay cá bò cạp.

    Cá sư tử sống ở vùng biển nhiệt đới thuộc Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương, đông Đại Tây Dương và Caribe, nhưng một số loài có thể sống khắp nơi trên khắp thế giới. Cá sư tử có kích thước khoảng 6,2-42,4 cm, con trưởng thành trung bình đo được 38 cm và trọng lượng khoảng 480 g. Cá sư tử có thể sống khoảng 5-15 năm.

    Cá sư tử là một trong những con cá đẹp nhất của đại dương. Chúng có các tua dài, thân có nhiều sọc màu đỏ, vàng, da cam, nâu, đen hoặc trắng. Chúng có các gai lớn, tách biệt, tạo ra dáng vẻ tráng lệ tuyệt đẹp. Tuy nhiên, bạn nên cẩn thận đừng để vẻ đẹp của nó làm mờ mắt vì chúng là loài cá rất độc. Một vết chích từ cá sư tử không làm chết người, nhưng những độc tố cực mạnh từ chúng có thể gây đau đớn tộn cùng cho bạn.

    © Triệu Thanh Tuấn, www.aquanetviet.org.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 4 likes
    • 2 days ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Admin
    • Ba Tôm and
    • 1 other
  • Vaccine cho tôm, một hướng nghiên cứu đầy tiềm năng và gian khó
    Bệnh virus trên tôm đang là một thảm họa cho nền sản xuất nuôi trồng thủy sản cho Việt Nam và thế giới. Hiện tại các loại virus gây bệnh trên tôm sú đang phổ biến tại Việt nam là virus gây hội chứng đốm trắng (WSSV – White spot syndrome virus), hoại tử (IHHNV – Infectious hypodermal and haematopoietic necrosis virus), bệnh còi (MBV – Monodon baculovirus), đầu vàng (YHV – Yellow-head virus), v.v… Theo ước tính của Bộ Thủy sản, thất thoát do bệnh virus gây ra cho tôm sú vào khoảng 30% – 50% sản lượng thu hoạch. Với sản lượng tôm sản xuất hàng năm vào khoảng 350.000 tấn, Việt Nam là nước sản xuất tôm lớn thứ hai thế giới sau Trung Quốc (450.000 tấn). Việc nghiên cứu ngừa và phòng bệnh virus cho tôm đang là đề tài nóng bỏng cho các phòng thí nghiệm thế giới.

    Đối với tôm, cũng như các loài động vật không xương sống, hệ thống miễn dịch của chúng không giống như hệ thống miễn dịch của loài có xương sống. Tôm chỉ dựa trên hệ thống miễn dịch tế bào thông qua interferon là chính. Tôm có những hệ thống miễn dịch cơ thể nhưng theo cơ chế chưa thật rõ ràng. Do vậy việc tiêm vaccine cho tôm dưới dạng kháng nguyên như cho động vật máu nóng chưa mang lại kết quả. Do vậy các phương pháp khác để tăng khả năng miễn dịch ngắn hạn cho tôm đang được thử nghiệm.

    Hiện tại có hai nguyên lý tạo miễn dịch ngắn hạn cho tôm đang được các phòng thí nghiệm tích cực đầu tư, đó là: vaccine thụ động (passive vaccine) và vaccine bằng RNA sợi đôi.

    + Vaccine thụ động dựa trên nguyên tắc tạo kháng thể chống lại protein vỏ của virus trên động vật có xương sống, sau đó sử dụng kháng thể này bổ sung vào thức ăn cho tôm nhằm tăng khả năng kháng nhiễm bệnh virus cho tôm. Trên thế giới, Trung Quốc và Hàn Quốc đang thử nghiệm một chế phẩm IgY của trứng gà có tiêm protein P28 (protein vỏ của WSSV). Kháng thể kháng protein P28 này được cho tôm ăn và họ đã thu nhận được kết quả khả quan. Tôm ăn IgY kháng P28 đã sống sót nhiều hơn nhiều so với đối chứng khi nhiễm bệnh đốm trắng.

    + Phương pháp thứ hai là phương pháp gây miễn dịch bằng iRNA hay RNA sợi đôi. Những RNA sợi đôi có chứa trình tự tương đồng với các gene của virus đã làm tăng khả năng kháng bệnh của tôm lên một cách rất đáng kể. Việc tiêm những RNA sợi đôi đã làm tăng họat động của hệ thống nhận biết virus của tế bào tôm, làm giảm khả năng nhân lên của virus trong tế bào tôm. Nhóm nghiên cứu của Giáo sư Warr (Hoa Kỳ) đã công bố thí nghiệm (2005) bảo vệ được 90% tôm không chết sau 10 ngày gây nhiễm với virus đốm trắng. Trong khi đó, tôm đối chứng đã chết hơn 95% sau 5 ngày. Cũng trên nguyên lý đó, nhóm của giáo sư Vlac (Hà Lan, 2005) sử dụng siRNA (small interfering RNA) tiêm cho tôm cũng đạt được kết quả tương tự. Đó là hai hướng chính trong chiến lược tìm vaccine cho tôm.

    Ở Việt Nam, hướng nghiên cứu dùng vaccine thụ động đang được chú trọng. Để tạo được kháng thể kháng lại protein virus tôm, chúng ta có thể dùng protein vỏ của tôm hoặc virus tôm hoàn chỉnh. Muốn có virus tôm hoàn chỉnh, chúng ta cần số lượng virus đủ nhiều và nguồn virus ổn định. Muốn như vậy, cần phải có một hệ thống nhân virus tôm lên nhanh từ một mẫu ban đầu. Trong nỗ lực tìm nhân tố có thể nhân virus tôm lên trong tế bào nuôi cấy in vitro, TS. Văn Thị Hạnh (Viện Sinh học nhiệt đới – Viện Khoa học & Công nghệ Việt Nam) đã thành công trong việc dùng tế bào côn trùng để nhân các loại virus tôm. Khi nhân được các loại virus tôm, việc tạo kháng thể kháng lại các loại virus tôm trong gà hay thỏ có thể thực hiện được mộ cách đơn giản. Sử dụng các kháng thể đó để làm tăng khả năng kháng bệnh cho tôm là đề tài của Trung tâm CNSH TP. HCM đang triển khai kết hợp với TS. Văn Thị Hạnh.

    Song song với việc sử dụng virus nguyên, một số loại protein vỏ của virus tôm cũng đang được tổng hợp bằng con đường protein tái tổ hợp. Khả năng kháng virus của các kháng thể kháng protein vỏ virus này cũng đang được thử nghiệm. Đây là đề tài trọng điểm có thể mang lại những kết quả mang tính đột phá, song không thể nào không được nghiên cứu một cách thấu đáo. Việc nghiên cứu tìm ra vaccine cho tôm là một công việc còn nhiều ẩn số. Đó là cuộc chạy đua của các phòng nghiên cứu trên thế giới không chỉ vì tính kinh tế mà còn vì sự hiểu biết của khoa học.

    Nguồn: TS. Nguyễn Quốc Bình, hcmbiotech.com.vn.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 1 comment
    • 3 likes
    • 2 days ago
    • Trieu Phu
    • Ba Tôm and
    • Vu Nguyen Hoang
    • liemtran308 Tám Lúa đã đến nhà của Ts Văn Thị Hạnh rồi, dịp tới gặp Ts Hạnh hỏi xem vụ việc tiến triển như thế nào ...ka ka....

      Tám Lúa không bao giờ tin về vaccine trong nuôi trồng thủy sản.
      • 1 like
      • Like
      • Reply
      • 2 days ago
  • Chương trình chọn giống cá rô phi đỏ (Oreochromis sp.) đầu tiên tại Đồng Bằng Sô...
    Nghề nuôi cá rô phi đỏ (Oreochromis sp) ở nước ta tập trung và phát triển mạnh nhất ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, chất lượng cá giống hiện bị suy giảm, ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của nghề nuôi. Con giống có chất lượng (màu sắc đẹp, tăng trưởng nhanh, tỉ lệ sống cao) đang là một yêu cầu bức thiết của nghề nuôi cá rô phi đỏ tại Nam Bộ. Chọn giống dựa trên lý thuyết di truyền số lượng đã được chứng minh là cách thức khoa học và có hiệu quả nhất nhằm nâng cao các tính trạng mong muốn trên vật nuôi. Kết quả của chọn giống còn được tích lũy và duy trì qua từng thế hệ, do đó chất lượng con giống được ổn định và gia tăng theo thời gian.

    Chương trình chọn giống tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II bắt đầu với việc tạo quần thể ban đầu của cá rô phi đỏ tại Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có sử dụng các chỉ thị di truyền phân tử để đánh giá vật liệu di truyền. Sau đó phương pháp chọn lọc gia đình được áp dụng lên hai tính trạng quan trọng là màu sắc và tăng trưởng của cá. Cho đến nay, chương trình chọn giống cá rô phi đỏ đầu tiên tại Nam Bộ đạt được một số kết quả quan trọng.

    Tỉ lệ màu sắc được thị trường ưa chuộng đã được tăng lên gần gấp đôi chỉ sau một thế hệ, đạt 63,93%. Trọng lượng trung bình của cá có màu sắc được ưa chuộng không khác biệt có ý nghĩa thống kê (P>0,05) so với nhóm cá không ưa chuộng. Có thể chọn những nhóm cá có màu sắc được thị trường ưa chuộng (hồng hoặc cam hoặc đỏ và không có đốm) mà không ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng. Hệ số di truyền (heritability, h2) của quần thể cá rô phi đỏ F1 được ước tính sơ bộ là 0,23 ± 0,12. Cá phát tán từ chương trình chọn giống đã nhận được phản hồi tích cực từ người nuôi bè tại Mỹ Tho và Vĩnh Long về hai chỉ tiêu màu sắc và tăng trưởng.

    Những kinh nghiệm và kết quả hiện tại của chương trình chọn giống sẽ giúp hoạch định và phát triển chiến lược chọn giống dài hạn cho cá rô phi đỏ nuôi tại Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và có thể mở rộng ra toàn quốc nói chung.

    Nguồn: Trịnh Quốc Trọng, Trần Hữu Phúc, Phạm Đăng Khoa, Lao Thanh Tùng, Nguyễn Công Minh, Lê Trung Đỉnh. 2010. Chương trình chọn giống cá rô phi đỏ (Oreochromis sp.) đầu tiên tại Đồng Bằng Sông Cửu Long. Hội nghị CNSH Thủy sản Toàn quốc, TP. HCM, năm 2010.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 1 comment
    • 3 likes
    • 2 days ago
    • Trieu Phu
    • Ba Tôm and
    • Vu Nguyen Hoang
    • Vu Nguyen Hoang Chương trình có ý tưởng hay và thiết thực nhưng tiếc là cho đến nay vẫn chưa...mang lại lợi ích gì đáng kể cho người nuôi, chương trình chọn lọc giống cho cá tra trước đây cũng như vậy !
      • 0 likes
      • Like
      • Reply
      • 9 hours ago
  • Nghiên cứu sử dụng vi khuẩn sinh tổng hợp enzyme kitinase cao để tạo chế phẩm vi...
    Sự phát triển nghề nuôi tôm công nghiệp trong nhiều năm qua đã tạo áp lực lên môi trường nước và sự tự ô nhiễm môi trường ao nuôi. Bùn thải này nếu không được xử lý sẽ mang nhiều mầm bệnh và là nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm ao nuôi tôm. Trong nguồn thức cung cấp cho tôm và trong quá trình phát triển, tôm lột xác làm cho hàm lượng kitin trong môi trường ao nuôi tăng cao. Kitin không hoà tan trong nước nhưng khi được phân hủy bởi các enzym phân giải kitin sẽ tạo thành các sản phẩm hoà tan trong nước. Do vậy, hoạt động của nhóm VSV phân giải kitin trong môi trường rất quan trọng, sẽ giúp loại bỏ chất hữu cơ này trong bùn đáy ao nuôi tôm. Tuy nhiên, hầu hết các chế phẩm vi sinh vật sử dụng trong xử lý môi trường thủy sản được sản xuất trong nước hay nhập ngoại đều chưa quan tâm tới nhóm vi sinh vật này. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu phân lập và tuyển chọn được 2 chủng VK ST59 và BL75 từ các mẫu bùn ao nuôi tôm. chúng sinh trưởng tốt nhất và sinh tổng hợp enzym kitinaza mạnh nhất trong môi trường có nồng độ muối từ 0-3%.

    Sử dụng dịch nuôi cấy của 2 chủng vi khuẩn này để xử lý bùn ao nuôi tôm trong điều kiện phòng thí nghiệm cho thấy: Sau 20 ngày ủ trong mẫu thí nghiệm mật độ của vi khuẩn phân giải kitin cao hơn hẳn so với mẫu bùn ban đầu và mẫu đối chứng. Số lượng vi khuẩn Total coliform và vi khuẩn yếm khí trong mẫu thí nghiệm thấp hơn rất nhiều so với mẫu đối chứng do đó mùi thối cũng giảm hẳn. Các chỉ tiêu phân tích thành phần hóa học của bùn sau khi xử lý cũng cho thấy hàm lượng mùn trong mẫu thí nghiệm tăng 44,4%; K2O dễ tiêu tăng 12,7%; P2O5 dễ tiêu tăng 25,1%; tổng N hoà tan tăng 13,2% so với mẫu đối chứng. Vì vậy có thể sử dụng 2 chủng vi khuẩn trên để tạo chế phẩm sinh học dùng cho xử lý bùn ao nuôi tôm cao sản.

    Nguồn: Tăng Thị Chính, Hoàng Đại Tuấn. 2010. Nghiên cứu sử dụng vi khuẩn sinh tổng hợp enzyme kitinase cao để tạo chế phẩm vi sinh vật xử lý ao hồ nuôi tôm. Hội nghị CNSH Thủy sản Toàn quốc, TP. HCM, năm 2010.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 2 likes
    • 2 days ago
    • Trieu Phu and
    • Ba Tôm
  • Tăng đáp ứng miễn dịch không đặc hiệu và sức đề kháng bệnh ở cá rô-phi bằng các ...
    Sự ảnh hưởng của nước và hexan ly trích từ lá cây trên lên đáp ứng miễn dịch không đặc hiệu và sức đề kháng bệnh của cá rôphi được xác định bằng cách tiêm chúng riêng lẽ vào cá rô phi ở các nồng độ 0, 4, 40 và 400mg/kg trọng lượng cá và được ghi nhận sau 2, 4, 6, 8 và 10 ngày.

    Miễn dịch không đặc hiệu được đánh giá thông qua hoạt tính của lysozyme trong huyết thanh, sản phẩm oxy nguyên tử (ROS) và sản phẩm nitơ nguyên tử (RNS) được sinh ra từ các bạch cầu trong máu. Bên cạnh đó, tỉ lệ sinh tồn tương đối (RPS) cũng được ghi nhận khi cá được cảm nhiễm với vi khuẩn Aeromonas hydrophila. Kết quả thí nghiệm cho thấy, hoạt tính của lysozyme đều tăng ở các nồng độ tiêm của chúng. Đối với ROS, các nồng độ của nước ly trích đều làm tăng ROS trong mọi thời điểm của thí nghiệm, nhưng hexan chỉ xuất hiện từ ngày thứ 4 của thí nghiệm. Tiếp đó, sự tăng của RNS cũng được quan sát ở nước ly trích với nồng độ 400mg/kg cá trong ngày thứ 6 và 8, nhưng hexan chỉ ở liều 40mg/kg cá trong ngày thứ 6. Cuối cùng là RPS, nó đạt cao nhất ở nghiệm thức 400mg nước ly trích/kg cá (70.84%), kế đó là nghiệm thức 4mg hexan/kg cá (65.01%).

    Vì thế, các dịch chiết từ lá cây trên có thể được dùng để tăng sức đề kháng của cá trong nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, theo tác giả thì dịch chiết hexan là tốt hơn và có thể dùng cho việc phòng bệnh trong thủy sản.

    Người dịch: Ths. Đoàn Nhật Phương, BM Sinh học và Bệnh thủy sản, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
    Nguồn tin: M. Divyagnaneswari, D. Christybapita and R. Dinakaran Michael. 2007. Enhancement of nonspecific immunity and disease resistance in Oreochromis mossambicus by Solanum trilobatum leaf fractions. Fish and Shellfish immunology 23: 249-259 (2007).
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 2 likes
    • 2 days ago
    • Trieu Phu and
    • Ba Tôm
  • Bệnh virus trên cá da trơn (catfish)
    Dấu hiệu bệnh lý

    Cá bệnh sẽ có một hoặc nhiều dấu hiệu dưới đây, nhưng cũng có trường hợp cá nhiễm bệnh mà không có bất kỳ dấu hiệu bệnh lý nào đặc trưng.

    - Tỉ lệ chết cao ở cá hương và cá giống
    - Trướng bụng (bụng sưng lên do tích lũy các chất dịch)
    - Mắt cá bị phù
    - Xuất huyết bên trong cơ
    - Xuất huyết ở phần vây
    - Hoại tử ở phần mô kẽ của ống thận

    Tác nhân

    Bệnh virus trên cá da trơn (Channel catfish virus disease - CCVD) gây ra do tác nhân là herpesvirus (Ictalurid herpesvirus 1).

    Các loài cá có thể cảm nhiễm bệnh CCVD

    - Hiện những loài cá được biết cảm nhiễm virus CCVD là: cá nheo xanh (blue catfish* - Ictaluris furcatus), cá nheo (channel catfish* - Ictaluris punctatus) và cá nheo trắng (white catfish - Ictaluris catus). (* cảm nhiễm tự nhiên những loài cá khác cảm nhiễm trong điều kiện thí nghiệm).
    - Hiện diện ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
    - Điều ngạc nhiên là hiện tại chưa có báo cáo chính thức nào về bệnh do virus này ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương trong các chương trình quản lý dịch bệnh trên động vật thủy sản do NACA – FAO – OIE quản lý.

    Dịch tể học

    - Bệnh lây truyền theo phương ngang trực tiếp bởi nguồn nước hoặc từ các vật chủ mang mầm bệnh khác.
    - Lây truyền theo phương dọc được cho là phổ biến. Tuy nhiên, do không tìm thấy virus trên da hay các sản phẩm sinh dục trong quá tình sinh sản nên cơ chế này không được chứng minh.
    - Những ổ virus CCVD trên cá sẽ lây truyền khi tiếp xúc với cá khỏe.
    - Tính nhạy cảm với virus phù thuộc vào những loài cá datrown khác nhau.
    - Mặc dù cá lớn thường dễ bộc phát bệnh do CCVD, nhưng trong thực tế cá thường mắc bệnh trong khoảng dưới 1 năm tuổi, đặc biệt là giai đoạn cá dưới 4 tháng tuổi.
    - Tỉ lệ cá chết cao nhất khi nhiệt độ vượt quá 27°C, nhưng tỉ lệ chết bắt đầu giảm khi nhiệtđộ giảm xuống và cá ngừng chết khi nhiệt độ đạt 18°C.

    Chuẩn đoán bệnh

    Hiện chưa có phương pháp "chuyên sâu" để chuẩn đoán bệnh, chủ yếu là dựa vào dấu hiệu bệnh lý. Tuy nhiên, dấu hiệu bệnh lý tổng quát nêu trên cũng thường tìm thấy trong một số bệnh khác trên cá da trơn. Vì vậy, chỉ nên tham khảo dấu hiệu bệnh chứ không thể khẳng định chính xác bệnh do CCVD dựa vào dấu hiệu bệnh lý.

    Thu mẫu

    Bởi vì không chắc chắn trong việc xác định bệnh dựa vào dấu hiệu tổng quát, và cũng không chắc là bệnh này có thể lây sang người hay không, bạn không nên tự mình thu mẫu cá bệnh trừ khi bạn đã qua đào tạo. Do đó, khi quan sát thấy cá có dấu hiệu bệnh lý bạn nên báo cho các trung tâm quản lý dịch bệnh động vật thủy sản để họ cho bạn lời khuyên nên làm thế nào để xử lý và thu mẫu như thế nào.

    © Triệu Thanh Tuấn, www.aquanetviet.org.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 2 likes
    • 2 days ago
    • Trieu Phu and
    • Ba Tôm
  • Cá than - Sablefish
    Cá than có tên khoa học là Anoplopoma fimpria, là một trong hai loài cá thuộc họ Anoplopomatidae và là loài duy nhất trong giống Anoplopoma. Cá than có rất nhiều tên gọi khác nhau tùy theo nước mà nó sinh sống, chúng được gọi là cá bơ (butterfish) ở Mỹ và Úc hoặc cá tuyết đen (black cod) hay cá nến (candlefish) ở Anh, hoặc cá than (coal-fish) ở Canada.

    Cá than được tìm thấy tại các đáy nhiều bùn của khu vực bắc Thái Bình Dương ở độ sâu từ 300 tới 2.700 m, chúng là loài cá có giá trị kinh tế quan trọng tại Nhật Bản và được bán với giá khá cao. Cá than có tuổi thọ rất cao, nhiều báo cáo cho thấy chúng có thể sống đến 75 năm. Kích thước lớn nhất của cá than được ghi nhận là 122 cm (4 feet).

    Cá than là loài cá dữ ăn động vật, do đó chúng thường ăn những con cá hoặc động vật khác nhỏ hơn. Thức ăn của chúng thường là cá minh thái (Pollock), cá eulachon, sand lance, herring. Chúng cũng ăn sứa và mực.

    Cá than được xem là loài cá ngon và giàu giá trị dinh dưỡng. Khi chế biến với ít dầu, chúng được xem là món ăn bổ dưỡng, vì chúng có hàm lượng mỡ cao. Thịt cá than chứa nhiều axít béo omega 3 chuỗi dài có lợi cho sức khỏe như EPA và DHA, hàm lượng các axít béo này tương tự như ở cá hồi hoang dã. Thịt cá than cũng rất giàu vitamin A và D rất tốt cho sức khỏe. Chúng cũng chứa ít thủy ngân, điều này rất quan trọng vì hiện nay nhiều người lo lắng về mức độ thủy ngân tích lũy trong thịt hải sản.

    © Triệu Thanh Tuấn, www.aquanetviet.org.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 2 likes
    • 3 days ago
    • Trieu Thanh Tuan and
    • Ba Tôm
  • NAFIQAD cảnh báo về tảo độc Dinophysis caudate tại Kiên Giang
    Ngày 3/5/2013, Cục Quản lý Chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản Nam Bộ (NAFIQAD-SRA) đã gửi thông báo cảnh báo về việc phát hiện mật độ tảo độc Dinophysis caudata vượt quá giới hạn cảnh báo tại vùng thu hoạch Bà Lụa, tỉnh Kiên Giang.

    NAFIQAD-SRA yêu cầu Chi cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản Kiên Giang thực hiện lấy mẫu tăng cường (mẫu nước để phân tích tảo độc Dinophysis caudata và mẫu nghêu lụa, sò lông để phân tích độc tố Lypophylic) với tần suất 3 ngày/lần và tăng số điểm lấy mẫu gấp đôi.

    Các doanh nghiệp chế biến nhuyễn thể 2 mảnh vỏ phải kiểm tra độc tố Lypophylic (DSP) đối với lô hàng nghêu lụa và sò lông hoặc có thành phần nghêu lụa và sò lông có xuất xứ từ vùng thu hoạch nhuyễn thể 2 mảnh vỏ Bà Lụa, tỉnh Kiên Giang kể từ ngày 20/4/2013 cho đến khi có thông báo kết quả kiểm tra an toàn vệ sinh vùng thu hoạch đạt yêu cầu. Chỉ những lô hàng có kết quả kiểm tra độc tố đạt yêu cầu mới được đưa ra thị trường tiêu thụ hoặc xuất khẩu.

    Các Trung tâm Chất lượng Nông lâm sản thủy sản vùng 1-6 phải giám sát việc thực hiện của doanh nghiệp đối với yêu cầu nêu trên trong quá trình kiểm tra lô hàng và cấp chứng thư.

    Nguồn: Ngọc Hà, VASEP.
    • By Trieu Phu
    • 0 comments
    • 2 likes
    • 3 days ago
    • Trieu Thanh Tuan and
    • Ba Tôm
  • Loài hoa lớn nhất thế giới có mùi giống như mùi xác chết - Titan Arum
    Một trong những loài hoa lớn nhất và cổ nhất thế giới đã nở ở Ohio ngày 17/5/2013: hoa Titan Arum cực hiếm. Cây hoa, được trồng bỡi Nhà Khoa học Sinh học tại Đại học Ohio, là loài đặc hữu của rừng nhiệt đới Sumatra, nơi nó được phát hiện lần đầu năm 1878. Ngày nay, nó mang tên kỳ lạ là “hoa xác chết” vì mùi thối kinh khủng, giống như mùi thịt đang thối rữa.

    Thành tựu hôm thứ tư qua là một phần nỗ lực đang được tiến hành để cứu loài hoa quý hiếm này, một phần được dẫn đầu bỡi nhà sinh học gien phân tử Joan Leonard, người trồng hạt giống cho cây hoa hiện giờ nặng 49 pound từ năm 2001. Trên toàn thế giới, loài này đã nở hoa ít hơn 150 lần kể từ khi được phát hiện cách nay hơn 100 năm, theo Sandi Rutkowski, giám đốc thông tin của trường Nghệ thuật và Khoa học thuộc OSU cho biết.

    Vì sự bùng nổ dân số, môi trường sống của hoa xác chết giảm xuống. Khoảng 70% môi trường sống đặc hữu ở rừng mưa nhiệt đới Sumatra đã bị phá hủy, Leonard nói.

    Hôm thứ tư, khu nhà kính của bang Ohio lại trở thành một trong số ít nơi được chứng kiến sự nở hoa của một loài hoa rụt rè, hiếm thấy. Để cứu loài này, các nhà bảo tồn phải làm cho bông hoa thối của cây này nở hoa, vì đó là cách duy nhất mà các nhà thực vật học có thể thu được và chia xẻ phấn hoa và hạt giống để nhân giống, Rutkowski nói.

    “Quần đảo Sumatra có dân số đang bùng nổ, vì thế để nuôi sống dân chúng, người ta đang dọn sạch nơi sinh sống của Titan Arum. Nơi sinh sống của nó sẽ biến mất nhanh chóng, và nó chỉ mọc ở một nơi trên thế giới. Cách duy nhất để cứu nó là các nhà sinh học thực vật và các nhà bảo tồn bảo vệ nó. Đó là lý do tại sao các nhà thực vật học và các nhà bảo vệ môi trường khắp thế giới đang cố trồng nó,” cô nói.

    Mặc dù sự nở hoa ngày hôm qua đã đóng lại, nhiều bông hoa khác sẽ nở sớm, theo cô Leonard.“Việc nở hoa đã kết thúc, chúng tôi đã lấy phấn của nó ngày hôm qua, và chúng tôi sẽ lấy phấn đó để thụ phấn cho lần nở tới. Hôm nay chúng tôi có nụ thứ hai, và nó sẽ nở trong 10 ngày nữa.” IUCN phân loại loài hoa này là “sắp nguy cấp”, có nghĩa chỉ dưới nguy cấp một mức.

    Nguồn: Viết bỡi Eric Franco, Blog Biển và Người
    • By Trieu Phu
    • 0 comments
    • 2 likes
    • 3 days ago
    • Trieu Thanh Tuan and
    • Ba Tôm
  • Kháng sinh mới an toàn cho một số bệnh phổ biến trên cá da trơn
    Một đại diện từ công ty chịu trách nhiệm cung cấp kháng sinh đầu tiên được Cơ quản Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA - Food and Drug Administration) chấp thuận cho dùng trong thức ăn cho nuôi trồng thủy sản ở Mỹ trong hai thập niên đã nói chuyện với khán giả về sản phẩm gần đây trong chương trình "Fish Farming Trade" ở Greenville, bang Mississippi.

    Palma Jordan (giám đốc tiếp thị cao cấp), Schering Plough (global aquaculture) cho rằng Aquaflor là an toàn cho cộng đồng và môi trường, nó đặc biệt hiệu quả trong việc chống lại bệnh nhiễm trùng huyết đường ruột (ECS - enteric septicemia), kết hợp với Edwardsiella ictaluri trên cá, mà không có bất kỳ tác dụng phụ tiêu cực rõ ràng được ghi nhận.

    Jordan nói rằng, dựa trên dữ liệu nghiên cứu sâu rộng, Aquaflor là kháng sinh chủ lực và quan trọng trên thị trường "vì thuốc có tác dụng rất nhanh và giảm tỉ lệ cá chết một cách rõ rệt, điều này cho phép người nuôi giảm tỉ lệ thả giống lại và giảm chi phí đáng kể".

    Theo số liệu từ USDA, bệnh cá da trơn (catfish) gây thiệt hại nhiều nhất là các bệnh liên quan đến ruột, nhiễm trùng huyết và culminatus, với tổng thiệt hại lên đến gần 50 triệu USD hàng năm.

    Trong khi các nhà nghiên cứu Plough vẫn chưa bắt đầu nghiên cứu để xem liệu Aquaflor có thể ngăn chặn được bệnh culminatus hay không, Jordan cho biết các nhà nghiên cứu đều có xu hướng nghĩ rằng nó sẽ hiệu quả.

    Việc tìm ra thuốc để ngăn chặn chỉ một mình bệnh ECS là đủ cho ngành công nghiệp nuôi cá vực dậy và phát triển. Hugh Warren, chủ tịch hội nông dân nuôi cá da trơn của Mỹ, đã gọi Aquaflor là một "bước đột phá cho ngành công nghiệp nuôi cá".

    "Aquaflor là một kháng sinh thế hệ mới, an toàn và có sẵn cho người nông dân nuôi cá da trơn, nó là một công cụ cần thiết để cải thiện lợi nhuận trong khi vẫn đảm bảo cung cấp một sản phẩm an toàn, lành mạnh cho sức khỏe người tiêu dùng", Warren nói.

    Các nhà nghiên cứu Plough tự hào cho rằng, không giống như các thuốc sulfa, tetracycline, Aquaflor được phát triển đặc biệt để sử dụng ở các loài nuôi dùng làm thực phẩm cho con người. Sự hình thành và phát triển Aquaflor được hỗ trợ bởi các nhà khoa học làm việc tại Trung tâm Quốc gia Nuôi trồng thủy sản Nước ấm Thad Cochran (Thad Cochran National Warmwater Aquaculture Center) ở Stoneville, bang Mississippi, và đặc biệt là nhà khoa học Patricia Gaunt.

    Nghiên cứu được tiến hành tại cả hai trung tâm nghiên cứu Stoneville và trung tâm khảo sát địa chất ở Wisconsin đã xác định rằng Aquaflor không ảnh hưởng đến khả năng bắt mồi (tính ngon miệng) và tỷ lệ tử vong thấp khi trộn vào thức ăn cá da trơn.

    Jordan nói rằng trong một nghiên cứu khả năng bắt mồi, Aquaflor đạt số điểm 19,5/20. "Và ở khu vực thí nghiệm với cá được cho ăn cao hơn 10 lần liều lượng đề nghị cùng với cá không được điều trị bằng Aquaflor cho thấy không có sự khác biệt". "Những lợi thế đó giúp giảm thiểu tỷ lệ tử vong trong khi cá sử dụng thức ăn có chứa kháng sinh và bạn sẽ tối đa hóa lượng kháng sinh," Jordan nói.

    Jordan cho biết cũng có nhiều "yếu tố tiện lợi" để xem xét áp dụng Aquaflor trong điều trị bệnh cá: "Nó rất ổn định ở nhiệt độ cao và khá bền, dể sử dụng khi trộn vào trong thức ăn nổi, bạn có thể theo dõi thức ăn của bạn và lượng kháng sinh trong thời gian điều trị".

    Một loại kháng sinh khác cũng tương tự Aquaflor được phát triển bởi Plough, được gọi là Nuflor (florfenicol), đã được chứng minh để điều trị bệnh hô hấp ở gia súc. Bởi vì điều này được phân loại bởi FDA, nó là cần thiết rằng để các nông dân nuôi cá da trơn có được một toa thuốc của Aquaflor từ một bác sĩ thú y được cấp phép.

    Jordan cho biết Aquaflor đã chứng tỏ là một thành công lớn với người nuôi cá ở châu Âu và châu Mỹ La tinh trong khoảng 15 năm. Cán bộ Công ty có kỳ vọng tương tự ở thị trường nuôi trồng thủy sản Mỹ. "Lần đầu tiên được cấp phép tại Nhật Bản và Na Uy, bây giờ được sử dụng trong nuôi trồng thủy sản trên khắp thế giới. Nó có một thành tích tuyệt vời đã được chứng minh" Jordan nói.

    © Triệu Thanh Tuấn, www.aquanetviet.org.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 4 likes
    • 3 days ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Admin
    • Ba Tôm and
    • 1 other
  • Câu chuyện về cá hồi
    Chuyện cá hồi bắt đầu bằng một cái chết, khi con cái, kiệt sức vì bơi ngược dòng sông có thể kéo dài trong vài tuần và vượt qua hàng trăm dặm, vảy mất màu, thân co lại, đẻ hàng vạn trứng ở hàng loạt vị trí dưới đáy sông. Khi những con đực cũng kiệt sức không kém ấp những trứng này, con cái lấp chúng lại bằng bùn và sỏi, và bảo vệ chúng cho tới khi chết, cũng như cha của chúng.

    Chẳng bao lâu sau, trứng bắt đầu nở. Ban đầu chúng chỉ là cá bột, nhỏ xíu, ngoằn ngèo như những con giun, sau đó chúng tự ngụy trang bằng những vạch sọc, khi đó chúng được gọi là parr. Sau vài tháng hay vài năm, chúng phát triển thành smolt và bơi xuôi dòng để đến vùng nước lợ nơi những con sông hòa vào biển. Dần dần, cơ thể cá điều chỉnh theo độ mặn lạ lùng, cho tới khi chúng hướng về đại dương, và biến mất.

    Nhiều năm sau đó, có hồi trở lại. Chúng sẽ bơi hàng ngàn dặm băng qua đại dương, đó là trường hợp của cá hồi Đại Tây dương sống ở vùng nước lạnh ngoài khơi bờ biển phía tây Greenland. Nhưng bất cứ con cá hồi nào còn sống sót đều làm như vậy trong chính dòng sông mà chúng sinh ra. Từ lâu con người rất thích thú điều này, và điều này cho đến nay vẫn còn hiểu mù mờ. Một số cho rằng cá hồi tìm ra được dòng suối bằng cách sử dụng lực hút từ trường của trái đất, hoặc khứu giác của cá hồi nhạy đến nỗi chúng có thể nhận ra các vật trong dòng nước mà con người không thể nhận ra.

    Dù chúng làm cách nào, thì chúng trở về với cơ thể béo tốt – và ăn ngon nhất – và bắt đầu bơi chầm chậm ngược dòng nước. Chúng sử dụng năng lượng của chính mình rất hiệu quả, bao tử của chúng bị hủy hoại khi chúng vào nội địa, không có thời gian nào để nghỉ ngơi vì dòng nước luôn tuôn vào chúng bằng những chất ô nhiễm, đập thủy điện và những kẻ săn mồi. Hàm của con đực cong và hơi méo, dường như làm cho nó hấp dẫn hơn đối với con cái, và da chúng đổi màu. Cuối cùng khi chúng về đến nơi chúng được nở ra, chúng đẻ trứng, chăm sóc trứng, và hầu như không có ngoại lệ, chúng chết. Giả sử không có những trở ngại mà con người tạo ra cho cá hồi, ít hơn một phần ngàn cá hồi thực hiện trọn vẹn chuyến trở về của chúng.

    Tất cả cá hồi sống ở bán cầu bắc: bất kỳ con “cá hồi” nào họ phục vụ cho bạn ở Melbourne hay Cape Town phải là cá được nhập khẩu hoặc một loài cá khác hoàn toàn. Thái Bình dương có khoảng một tá loài cá hồi, chất lượng thịt của chúng rất khác nhau. Cá hồi bạc (silver salmon ) hay soho ở miên tây Canada rất ngon. Loài cá hồi nhiều nhất ở Thái Bình Dương, được đặt tên một cách tầm thường và xấu là cá hồi chó (dog salmon), chỉ để dùng trong ngành đồ hộp.

    Chỉ một loài cá hồi dũng cảm còn lại ở Đại tây dương, Salmo Salar. Là loài cá hồi ngon nhất, chúng đã từng phân bố từ bờ biển nam Bồ Đào Nha lên tận phía bắc đến Na-uy, qua Greenland và phía nam đến sông Hudson. Nó là loài cá chính của những người trung niên Âu Châu, nướng và hầm, kho rim, làm patê và ướp bỏ hũ, ướp muối và xông khói.

    Những người Mỹ bản địa sống gần bờ biển Đại tây Dương xẻ cá và nướng trong các bữa ăn ngoài trời. Hiện nay, khó mà có con cá hồi Đại Tây Dương nào tồn tại. Số lượng của chúng giảm tới 80% kể từ đầu những năm 1980, chúng bị tàn phá nặng nề so với trước đó. Hiện nay, cá này nằm trong sách đỏ của tổ chức Greenpeace là loài cực kỳ nguy cấp.

    Nhưng tất nhiên lúc nào chúng ta cũng ăn chúng. Người Anh chén một bữa cá hồi mỗi ngày. Trên toàn cầu, ngành công nghiệp nuôi cá hồi đạt trị giá 11 tỷ đô la vào năm 2007, gấp 10 lần so với năm 1982. Hai mươi lăm năm trước, ngành nuôi cá hồi chỉ đạt sản lượng quá nửa số lượng cá hồi Đại Tây Dương sản xuất trên toàn thế giới. Hiện nay, cá hồi nuôi chiếm 99,8% thị trường. Cá hồi là loại thực phẩm xuất khẩu lớn nhất của Scotland, và từ khi Trung hoa xung đột với Na-uy vào năm ngoái, người Scots đã tìm ra một thị trường có lợi nhuận tiềm năng khổng lồ.

    Cá hồi nuôi cũng có tiếng xấu như nuôi gà bằng năng lượng và nuôi heo trong thùng gỗ. Một nghiên cứu khoa học vào năm 2004 phát hiện cá hồi nuôi (đặc biệt là ở Scotland) có chứa hàm lượng chlorine cao, và nghiên cứu tiếp theo vào năm sau tiết lộ cá từ trại nuôi cá hồi có chứa gấp 10 lần mức thuốc trừ sâu, dioxin, và PCB. Nghiên cứu này kết luận rằng “ người tiêu dùng không nên ăn cá hồi nuôi từ Scotland, Na-uy và đông Canada nhiều hơn 3 lần một năm”.

    Các trại nuôi cá hồi làm tăng phát tán động vật ký sinh và bệnh dịch như rận biển (sea lice) và bệnh thiếu máu do cá hồi nhiễm bệnh, điều này có thể gây hủy hoại toàn bộ sản lượng chỉ trong vòng vài ngày. Các kim loại nặng như đồng và kẽm tích tụ bên dưới trại nuôi cá hồi trong điều kiện không có dòng nước mạnh để cuốn chúng đi. Những con cá hồi sổ lồng (600 ngàn lồng chỉ tính ở Scotland vào năm 2004) có thể phối giống với cá tự nhiên làm hủy hoại nguồn gene và lây thêm bệnh. Để nuôi cá hồi, người ta dùng một số lượng bột cá khổng lồ, việc này góp phần tàn phá trữ lượng các loài cá tự nhiên. Những gì tạo áp lực cho những người thích cá hồi như chúng ta, là giá cá hồi thu hoạch tự nhiên. Chi phí môi trường của thực phẩm không nên bỏ qua, nhưng người ta cũng không nên từ bỏ một trong những loại thực phẩm ngon nhất của tự nhiên. Thật đáng buồn, câu chuyện khó sửa chữa này lập lại quá thường xuyên trong thực phẩm và nông nghiệp, chưa có giải pháp rõ ràng và tương lai sáng sủa. Ngay cả loại cá hồi nuôi màu vàng cam đậm nhất, nhiều mỡ nhất và rẻ nhất có thể cũng rất ngon nếu được chế biến đúng cách. Tôi thừa nhận tôi miễn cưỡng từ chối ăn cá hồi nuôi một vài lần, vì tôi nghi ngờ đa số những người thích ăn cá thỉnh thoảng sẵn sàng hy sinh đạo đức vì vòm miệng.

    Dĩ nhiên cá hồi có thể được nấu thành quá nhiều món, không những là món cá xông khói ngon nhất (loại ngon nhất tôi từng ăn do hãng Jon Ross sản xuất) mà còn kết hợp tốt với hầu hết những thực phẩm khác và đa số những gia vị tuyệt vời. Thịt nhiều mỡ của cá rất thích hợp với chanh và giấm cũng như dưa leo Anh, và hợp màu sắc với loại trái cây nhiều dầu nhất, lê tàu. Có lẽ tôi thích nhất là ăn cá hồi với củ cải đường, vị ngọt lạ của nó phù hợp cực kỳ với loại protein cá hồng hồng.

    Nguồn: Bản tiếng Việt từ Blog Biển và Người.
    • By Trieu Phu
    • 2 comments
    • 3 likes
    • 3 days ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Admin and
    • Ba Tôm
    • liemtran308 Cá Hồi(Salmon) có 2 loại:

      - Cá hồi Thái Bình Dương gồm có Nga, Mỹ(Alaska, Washington và Oregon) và Canada, sau 4 năm rong chơi ngoài biển, chúng trở về nguồn theo dòng sông lên SUỐI NGUỒN đẻ xong rồi chết, thân xác rả ra biến thành rong rêu là thức ăn sau này cho cá hồi con, đặc tính của cá hồi là sanh ra từ dòng sông nào thì chúng trở về dòng sông đó.

      Ở bang Washington, trường Đại Học Seattle (cách nhà Tám Lúa 18km)là trung tâm nghiên cứu về cá hồi mà ông Vũ Thế Trụ đang làm việc ở đó, Ts Trụ đã vang bóng một thời viết sách CÙI BẮP về Kỹ Thuật nuôi tôm đã tái xuất bản ở VN năm 90 của thế kỷ trước.

      Cái link nghiên cứu cá hồi ở đại Seattle:

      http://www.vietlinh.com.vn/vietlinh/2012_UW_hatchery_vi.asp

      Cá hồi Đại Tây Dương(Âu Châu), cũng 4 năm trở về nguồn đẻ, cá bố mẹ không chết vẫn sống nhăn răng và trở ra biển.
      • 1 like
      • Like
      • Reply
      • 3 days ago
  • Nghiên cứu bảo quản tinh trùng tôm sú (Penaeus monodon Fabricius, 1798) trong ni...
    Nghiên cứu này nhằm xác định một số đặc điểm sinh học của tinh trùng tôm sú và đánh giá khả năng sử dụng các chất chông đông: DMSO (dimethyl sulfoxide), methanol và glycerol để bảo quản tinh trùng tôm sú trong nitơ lỏng.

    Kết quả quan sát cho thấy tinh trùng của tôm sú gồm hai phần: phần đầu hình oval có đường kính theo trục dọc là 4,57- 5,00 μm, đường kính theo trục ngang là 4,35-4,85 μm; phần gai nhọn (spkike) có chiều dài 4,10- 4,75 μm. Trong 3 loại chất chống đông trên thì DMSO cho kết quả tỷ lệ sống của tinh trùng đạt 76,4±2,2%, cao hơn so với 2 chất còn lại; tỷ lệ dị hình của tinh trùng sau bảo quản là thấp nhất: 17,8±7,1%. Sử dụng DMSO với nồng độ 5% sẽ cho kết quả tỷ lệ thụ tinh (67,3±10,4) và tỷ lệ nở (56,7±9.9) cao hơn so với DMSO 10%.

    Nguồn: Nguyễn Văn Minh, Ngô Đăng Nghĩa, Đặng Thúy Bình. 2010. Nghiên cứu bảo quản tinh trùng tôm sú (Penaeus monodon Fabricius, 1798) trong nitơ lỏng. Hội nghị CNSH Thủy sản Toàn quốc, TP. HCM, năm 2010.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 3 likes
    • 3 days ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Admin and
    • Ba Tôm
  • Phòng bệnh đốm trắng (WSSV) trên tôm sú bằng phương pháp cho ăn vacxin
    Hội chứng virus đốm trắng xảy ra khắp nơi trên thế giới, là nguyên nhân gây tỉ lệ tôm chết cao và ảnh hưởng nghiêm trọng đến ngành nuôi tôm công nghiệp. Hiện tại, chưa có phương pháp nào chống lại virus này được phổ biến.

    Thông thường, động vật không xương sống như tôm không có hệ thống đáp ứng miễn dịch như ở những loài động vật có xương sống. Tuy nhiên, thí nghiệm đã chỉ ra rằng những tôm sống sót sau khi bị nhiễm WSSV sẽ có tỉ lệ sống cao hơn khi tái cảm nhiễm. Chúng tôi nghiên cứu khả năng của vacxin cho tôm thông phương pháp cho ăn, vacxin này chứa protein vỏ của WSSV. Tôm sú (Penaeus monodon) được cho ăn thức ăn viên áo bên ngòai 1 lớp vi khuẩn không họat động biểu hiện 2 lọai protein vỏ của WSSV là VP19 và VP28. Vacxin chứa VP28 cho thấy tỉ lệ chết của tôm thấp hơn có ý nghĩa khi so sánh với lô đối chứng (vi khuẩn chỉ chứa vector rổng) thông qua phương pháp ngâm (tỉ lệ sống 61%), trong khi đó vacxin chứa VP19 không thể hiện sự bảo vệ nào. Để xác định sự tấn công và thời gian bảo vệ của vacxin, thí nghiệm cảm nhiễm được thực hiện sau khi sử dụng vacxin 3, 7 và 21 ngày.

    Tỉ lệ sống cao hơn có ý nghĩa được quan sát sau khi tôm sử dụng vacxin 3, 7 ngày (64% và 77%), nhưng sự bảo vệ đã giảm sau 21 ngày (tỉ lệ sống 29%). Trái với những hiểu biết hiện tại, động vật không xương sống không có hệ thống đáp ứng miễn dịch nhưng kết quả này cho thấy đáp ứng miễn dịch đặc hiệu và khả năng bảo vệ có thể tạo ra ở P. monodon. Các thí nghiệm trên mở ra con đường mới phòng WSSV mang lợi ích cho công nghiệp nuôi tôm.

    Người dịch: Ths. Bùi Thị Bích Hằng (btbhang@ctu.edu.vn), BM Sinh học và Bệnh thủy sản, Khoa Thủysản, Đại học Cần Thơ.
    Nguồn tin: Jeroen Witteveldt, Carolina C. Cifuentes, Just M. Vlak, and Marie¨lle C. W. van Hulten. Protection of Penaeus monodon against White Spot Syndrome Virus by Oral Vaccination. JOURNAL OF VIROLOGY, Feb. 2004, p. 2057–2061 Vol. 78, No. 4
    • By Admin
    • 0 comments
    • 2 likes
    • 3 days ago
    • Trieu Thanh Tuan and
    • Ba Tôm
  • Sự kháng thuốc trong nuôi thuỷ sản
    Với nổ lực tăng nhanh sản lượng thuỷ sản và kim ngạch xuất khẩu, các nước đang phát triển rất chú trọng tới nuôi trồng thuỷ sản. Ðể đạt được sản lượng và lợi nhuận cao nhất, nhiều ngư dân hiện đang áp dụng các phương thức nuôi thâm canh. Nhưng các vật nuôi lại bị ảnh hưởng nhiều hơn bởi những áp lực và bệnh tật dẫn đến những vụ dịch bệnh gây chết hàng loạt. Ở đây tác giả sẽ trình bày về cơ chế kháng thuốc kháng sinh hình thành trong vi sinh vật và một số quan điểm về phương pháp kiểm soát nhằm giảm thiểu mối nguy này.

    Trong số các bệnh của thuỷ sản thì nguyên nhân chủ yếu là do vi khuẩn gây ra với những vụ dịch bệnh có qui mô lớn. Thông thường, người ta sử dụng thuốc kháng sinh để kiểm soát các vi khuẩn gây bệnh. Do việc sử dụng không đúng cách và quá nhiều các loại thuốc kháng sinh nên đã gây ra hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc (antibiotic resistence) và tích tụ dư lượng thuốc kháng sinh trong thịt thuỷ sản. Một nguyên nhân khác gây ra hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc là việc sử dụng các loại kháng sinh với hàm lượng nhỏ trong thức ăn của thuỷ sản như một chất kích thích sinh trưởng.

    Mặc dù thuốc kháng sinh đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc chống lại nhiều bệnh tật cho con người và các loài động vật thuỷ sinh, nhưng việc sử dụng bừa bãi trong nuôi trồng thuỷ sản có thể gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng như gây độc, biến đổi hệ vi khuẩn của người tiêu dùng hoặc làm cho người tiêu dùng cũng bị kháng thuốc.

    Hiện tượng kháng thuốc kháng sinh là khả năng mà một sinh vật có thể chịu được tác động của các loại kháng sinh. Các gen kháng thuốc thường có sẵn trong các loài vi sinh vật tạo ra kháng sinh (antibiotic - producing -bacteria) nhằm bảo vệ chúng khỏi tác động của thuốc kháng sinh này. Những gen này có thể được hình thành trong các loài vi khuẩn khác thông qua sự trao đổi gen với một vi khuẩn tạo ra kháng sinh, do vậy chúng có khả năng tạo ra cơ chế làm trung hoà hoặc phá huỷ các loại thuốc kháng sinh.

    Các loại thuốc kháng sinh sử dụng trong nuôi trồng thuỷ sản

    Các loại kháng sinh được sử dụng thông dụng nhất trong nuôi trồng thuỷ sản là:

    - Nhóm Sulfonamid: bao gồm các tác nhân kháng khuẩn có tác dụng kìm hãm hoạt động của axit folic và có thể hình thành tác dụng hiệp đồng (synergism). Các kháng sinh nhóm sulfonamid kết hợp trimethoprim được sử dụng rộng rãi trong nuôi trồng thuỷ sản.

    - Nhóm Tetracycline : là một nhóm gồm nhiều kháng sinh chủ yếu có tác dụng kìm hãm vi khuẩn có trong tự nhiên. Chúng làm ảnh hưởng đến quá trình tổng hợp protein trong cả các vi khuẩn Gram âm (-) và vi khuẩn Gram dương (+). Những kháng sinh này được sử dụng rộng rãi trong nuôi trồng thuỷ sản.

    - Nhóm Quinolone : Chúng có tác dụng mạnh đối với các vi khuẩn Gram (+) và được sử dụng nhiều tại Nhật Bản. Tác dụng kháng khuẩn bao gồm cả tác dụng kìm hãm và tiêu diệt vi khuẩn do chúng có thể gây ảnh hưởng đến cấu trúc xoắn của ADN trong vi khuẩn.

    - Erythromycin : được sử dụng rộng rãi trong nuôi cá hồi, nó là loại thuốc rất hiệu quả để chữa những bệnh do vi khuẩn gây ra.

    - Chloramphenicol : được sử dụng rộng rãi tại Hoa Kỳ và Pháp. Việc sử dụng chúng trong nuôi trồng thuỷ sản là rất hạn chế tại nhiều nước bởi vì nó là một loại thuốc dùng để chữa bệnh cho người.

    Rất khó có thể có được những số liệu đáng tin cậy về tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong nuôi trồng thuỷ sản. ở Nauy, trong năm 1990, có khoảng 50 loại kháng sinh được sử dụng trong nuôi trồng thuỷ sản và gần gấp đôi số lượng thuốc được sử dụng cho con người trong năm đó. Tình hình cũng diễn ra tương tự đối với các nước đang phát triển.

    Cơ chế của sự kháng thuốc

    - Một số loài vi sinh vật có sẵn khả năng chịu được một số loại kháng sinh nhất định. Sự kháng thuốc kháng sinh có thể coi như là đặc tính vốn có hoặc có thể được hình thành của các vi sinh vật này. Có nhiều cách khác nhau gây ra sự kháng thuốc của vi sinh vật.

    + Một số loại kháng sinh nhất định, chẳng hạn như penicillin chỉ tác dụng lên lớp vỏ tế bào nên có thể không có hiệu quả đối với những vi sinh vật không có vỏ tế bào (ví dụ như Mycoplasm không có một lớp vỏ tế bào đặc trưng).
    + Những sinh vật không cho phép một số loại kháng sinh nhất định ngấm vào bên trong, do vậy làm mất tác dụng của kháng sinh đó (ví dụ như một số vi khuẩn Gram âm không cho phép penicillin ngấm vào nên chúng có khả năng kháng penicillin).
    + Một số vi sinh vật có khả năng làm biến đổi thuốc kháng sinh làm cho nó mất hoạt tính (Ví dụ : vi khuẩn Staphylococcus sinh b -lactum làm gãy vòng b -lactum của hầu hết các penicillin và làm chúng mất hoạt tính).
    + Các vi sinh vật có thể thay đổi cách thức trao đổi chất bị một loại kháng sinh kiềm chế, do vậy chúng có thể kháng lại loại kháng sinh đó.
    + Các vi sinh vật cũng có thể đào thải một loại kháng sinh ra khỏi tế bào, do vậy nó trở nên có khả năng kháng loại kháng sinh đó.

    - Sự kháng thuốc kháng sinh gián tiếp trong vi sinh vật có thể hình thành thông qua các gen nhiễm sắc thể hoặc thông qua các plasmit (cấu trúc tự sao chép mang gen trong tế bào chất).

    Sự kháng thuốc hình thành gián tiếp thông qua các gen nhiễm sắc thể (Chromosomal genes).

    Có thể dễ dàng phân lập trong phòng thí nghiệm các vi khuẩn kháng thuốc trong môi trường mẫn cảm kháng sinh. Thông thường, hình thức kháng thuốc là do sự đột biến trong các gen nhiễm sắc thể. Tần số xuất hiện của loại đột biến này là rất thấp (từ 10-5 đến 10-7) và thường xuất hiện khi vi khuẩn chịu một hàm lượng kháng sinh nhỏ hơn mức có thể tiêu diệt được chúng. Hình thức kháng thuốc tương tự có thể xẩy ra trong môi trường thuỷ sinh khi vi khuẩn chịu một lượng kháng sinh nhỏ hơn mức có thể tiêu diệt chúng do việc sử dụng kháng sinh không đúng cách và những kháng sinh bị tan ra từ những thức ăn có trộn thuốc. Dưới những điều kiện trên, sự kháng thuốc được hình thành là do sự thay đổi hoạt tính ban đầu của thuốc hoặc làm giảm sự hình thành các enzyme chủ chốt, do vậy làm giảm tác dụng của thuốc. Sự kháng thuốc kháng sinh được hình thành gián tiếp qua các gen nhiễm sắc thể của vi sinh vật không dễ dàng được di truyền lại.

    Sự kháng thuốc hình thành gián tiếp thông qua thể R-plasmit (R-plasmid-mediated-resistance)

    Plasmit là các vòng ADN ngoài nhiễm sắc thể của vi khuẩn. Các R.plasmit có các gen được mã hoá theo các enzym mới làm mất hoạt tính của thuốc. Các R-Plasmit có thể làm trung gian cho sự kháng một hay nhiều loại thuốc kháng sinh thông qua các gen mã hoá theo cơ chế bất hoạt hoá một hay nhiều loại kháng sinh. Hình thức kháng thuốc gián tiếp thông qua R-plasmit có khả năng di truyền.

    Kiểm soát sự kháng thuốc

    Vi sinh vật có thể hình thành khả năng kháng đối với bất cứ loại thuốc kháng sinh nào nếu có những điều kiện thích hợp như hàm lượng thuốc, thời gian tiếp xúc với thuốc .v.v... Biện pháp kiểm soát vấn đề này có thể theo 2 cách:

    - Tìm ra những loại thuốc mới

    Có hai xu hướng nghiên cứu các loại thuốc kháng khuẩn mới. Thứ nhất là tạo ra loại tương tự với những thuốc kháng khuẩn hiện có nhưng dễ làm hơn và hiệu quả hơn. Lý do là những hợp chất mới được làm nhại lại theo những hợp chất cũ và có thể đoán trước được tác dụng của nó. Trong nhiều trường hợp những thông số như tính tan và ái lực có thể được thay đổi bằng cách biến đổi cấu trúc hoá học của nó mà không làm thay đổi vị trí kháng thuốc. Những hợp chất mới có thể có tác dụng mạnh hơn những hợp chất ban đầu.

    Xu hướng thứ hai là hình thành các loại thuốc kháng khuẩn mới. Rất khó đồng nhất hoá được do chúng ta phải phân lập chúng từ các nguồn trong tự nhiên hoặc là phải tự tổng hợp được với số lượng lớn. Những thuốc mới được sản xuất như vậy phải có tác dụng với những cấu trúc vi khuẩn cụ thể và đối với những vi sinh vật cụ thể, phải ít độc với những sinh vật cao cấp hơn, đồng thời về mặt cấu trúc không được giống với những hợp chất hiện tại. Bằng cách này có thể loại trừ được hiện tượng kháng thuốc hiện tại.

    - Biện pháp quản lý

    Ðây là cách tiếp cận mang tính quản lý nhằm giúp tránh sự hình thành khả năng kháng đối với các loại kháng sinh hiện đang sử dụng. Việc sử dụng cẩn trọng và có hệ thống các loại kháng sinh sẽ giải quyết được một nửa các vấn đề gây ra hiện tượng kháng thuốc kháng sinh. Nên sử dụng các kháng sinh với liều lượng cao hơn một chút để cho toàn bộ hệ vi sinh vật bị giảm xuống trước khi những đột biến có cơ hội xảy ra. Ðiều này rất khó thực hiện trong các hình thức nuôi thuỷ sản thâm canh, bởi vì việc thay đổi nước sẽ diễn ra thường xuyên làm loãng nồng độ thuốc kháng sinh. Vấn đề cũng có thể được giải quyết bằng cách kết hợp hai loại kháng sinh khác nhau có hình thức tác dụng khác nhau lên vi sinh vật. Lý do là các vi sinh vật rất ít có khả năng kháng được cả hai loại kháng sinh khác nhau.

    Kết luận

    Khi kiểm soát việc lây nhiễm khuẩn thì cần phải duy trì được những điều kiện sống thích hợp trong các đầm nuôi tôm và cá, đồng thời cũng phải áp dụng những biện pháp phòng bệnh như sử dụng vắc xin và các chất kích thích miễn dịch. Khi tiến hành nuôi trồng thuỷ sản, chỉ nên sử dụng các loại kháng sinh khi không còn phương cách nào khác để kiểm soát những vụ dịch bệnh, bởi vì việc sử dụng bừa bãi các kháng sinh sẽ dẫn đến việc hình thành hệ vi sinh vật kháng thuốc kháng sinh, đồng thời làm huỷ diệt hệ vi sinh vật tự nhiên vốn là nguồn gốc ban đầu của chu trình dinh dưỡng và sự khoáng hoá của vật chất hữu cơ. Việc sử dụng kháng sinh sẽ làm xáo trộn sự cân bằng vốn rất mong manh của môi trường thuỷ sinh, làm cho các sinh vật nuôi phải chịu nhiều điều kiện khắc nghiệt hơn.

    Nếu buộc phải dùng kháng sinh thì chúng phải có nồng độ cao hơn một chút và trong một thời gian đủ dài. Nếu có thể, nên kết hợp các loại kháng sinh khác nhau. Thức ăn có trộn kháng sinh cần phải được làm thành dạng viên. Những biện pháp trên không chỉ giúp cho việc loại trừ các vi sinh vật gây bệnh mà còn giảm nguy cơ hình thành các vi sinh vật kháng thuốc trong các hệ thống nuôi trồng thuỷ sản.

    Nguồn: Trần Ðăng Ninh (dịch), International Infofish.
    • By Admin
    • 0 comments
    • 2 likes
    • 3 days ago
    • Trieu Thanh Tuan and
    • Ba Tôm
  • Khảo sát hoạt tính enzyme amilase và khả năng tiêu hóa in vitro tinh bột của cá ...
    Kết quả nghiên cứu về đặc điểm enzyme tiêu hóa tinh bột của các cơ quan tiêu hóa cá tra ở 3 kích cỡ 50g, 300g và 600g/con. Bằng phương pháp phân tích sinh hóa và điện di PAGE đã xác định alpha amilase được tìm thấy ở cả bốn cơ quan (gan, tụy, ruột, dạ dày), trong đó hoạt độ alpha amylase tại dạ dày < ruột < tụy < gan và có hoạt độ cao nhất tại gan ở giai đoạn 600g (37,77 U/mg protein). Ngoài ra, hoạt độ amylase tối ưu được xác định tại vùng có pH trung tính.

    Nghiên cứu tiêu hóa in vitro tinh bột đối với bột khoai mì, cám gạo và một số loại thức ăn thương mại cho thấy mức độ thủy phân tinh bột tăng dần theo trọng lượng cá và đạt giá trị cao nhất sau 6 giờ thủy phân. Mức tiêu hóa in vitro tinh bột của cá ở các giai đoạn phát triển đối với nguyên liệu dao động từ 0,92 – 1,02 cm và các loại thức ăn từ 0,87 – 0,94 cm.

    Nguồn: Nguyễn Văn Nguyện, Nguyễn Văn Hảo, Phạm Duy Hải. 2010. Khảo sát hoạt tính enzyme amilase và khả năng tiêu hóa in vitro tinh bột của cá tra (Pangasianodon hyphothamus) đối với một số nguyên liệu và thức ăn. Hội nghị CNSH Thủy sản Toàn quốc, TP. HCM, năm 2010.

    Chú thích: in vitro là các nghiên cứu được thực hiện trong ống nghiệm; ngược lại, in vivo là các nghiên cứu được thực hiện ngay trên cơ thể sinh vật sống. In vitro và in vivo là tiếng Latin.
    • By Admin
    • 0 comments
    • 2 likes
    • 3 days ago
    • Trieu Thanh Tuan and
    • Ba Tôm
  • Nghiên cứu tác động của tinh chất nghệ chiết xuất bằng ethanol lên hoạt động khá...
    Kháng sinh đang mang lại nguy cơ lớn về an toàn sinh học và an toàn thực phẩm vì vậy mà càng ngày các loại kháng sinh càng bị hạn chế nồng độ và cấm sử dụng. Vì vậy mà thảo dược tự nhiên là câu trả lời đáng tin cậy và dài hạn cho việc ức chế vi sinh vật có hại và nâng cao đề kháng. Giống nghệ Turmeric (Curcuma longa Linn thuộc họ Zingiberaceae) được trồng chủ yếu ở Thái Lan từ lâu đã được dùng như một loại thảo dược quí trị được nhiều bệnh. Đã có rất nhiều nghiên cứu về tác dụng dược liệu của củ nghệ như: hoạt tính chống oxi hóa , ức chế ký sinh trùng , ức chế vi sinh vật , chống nhiễm độc , chống ức chế HIV , ngăn ngừa khối u , chống viêm , … và rất nhiều những khám phá mới về tính chất dược lý của nghệ và vẫn chưa có nghiên cứu nào liên quan đến tác động xấu từ việc sử nghệ như một chất phụ gia thực phẩm. Mục đích của nghiên cứu này là điều tra tác động của bột nghệ chiết xuất bằng cồn ethanol lên hoạt động của vi khuẩn Vibrio spp. Và tác động lên sự tăng trưởng, kích thích miễn dịch lên tôm thẻ chân trắng.

    Kết quả nghiên cứu

    1. Tác động và nồng độ ức chế tối thiểu của bột nghệ

    Trong thí nghiệm này bột nghệ đã cho thấy hiệu quả kháng khuẩn Vibrio Harvey, V. Cholera, V. parahymolyticus V. alginolytisus, V. vulnificus và V. fluialis. Khả năng ức chế vi khuẩn gây hại của bột nghệ cũng đã được nghiên cứu trước đây trên một số loài vi khuẩn như Bacillus cereus, B. coagulans, B. subtilis, Staphylococus aureus, Echerichia Coli and Pseudomonax aeruginosa . Kết quả này cũng tương tự như báo cáo của Supamattaya và cộng sự năm 2005 về tác dụng ức chế Vibrio spp. của bột nghệ chiết bằng ethanol.

    Nồng độ ức chế tối thiểu hoạt động của bột nghệ lên Vibrio Harvey, V. Cholera, V. parahymolyticus V. alginolytisus, V. vulnificus và V. fluialis lần lượt là 0.47 g/đĩa, 0.47 g/đĩa, 0.94 g/đĩa, 0.47 g/đĩa, 3.75 g/đĩa và 0.47 g/đĩa. Kết quả này đã bổ sung thông tin về hiệu quả ức chế nhiều loại vi sinh vật của bột nghệ.

    2. Hiệu xuất tăng trưởng của tôm sau khi sử dụng bột nghệ

    Bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ 4 khẩu phần thí nghiệm: 0, 3.5, 7.5, 15 g/kg thức ăn.

    • Hiệu suất tăng trưởng giữa các nhóm cho ăn có bột nghệ không có khác biệt đáng kể (p>0.05)
    • Nhưng có một sự khác biệt rõ rệt giữa nhóm sử dụng 15g/kg bột nghệ (74±4) so với nhóm đối chứ (48±6)

    Kết quả thử nghiệm đã cho thấy rằng bột nghệ trong chế độ ăn không làm tăng tỉ lệ chuyển đổi thức ăn nhưng đạt được trong trọng lượng cơ thể với liều lương 15g/kg thức ăn. Kết quả này cũng tương đồng với nghiên cứu thực hiện trên tôm càng xanh của Wanprapa năm 2004.

    Quản lý nước là yếu tố cơ bản quyết định thành sức khỏe tôm, vì vậy mà môi trường nước luôn được giữ ổn định trong suốt quá trình thử nghiệm. Với thông số kỹ thuật cụ thể như sau: nhiệt độ 26.93±0.27ºC; độ mặn: 10.68±0.33 ppt; pH: 7.07±0.07; DO: 7.03±0.05 ppm NH3: 0.18±0.07 ppm; NO2: 0.05±0.02 ppm. Chất lượng nước được giữ ổn định trong suốt quá trình nuôi.

    3. Ảnh hưởng của bột nghệ như một phân tử cảm ứng miễn dịch

    Sau 9 tuần, các nhóm tôm thử nghiệm được đo các chỉ tiêu về huyết tương tổng số, hoạt động của enzyme phenoloxidase và khả năng kháng khuẩn. Ghi nhận tỉ lệ sống của tôm sau 9 tuần ăn với bột nghệ nồng độ 15g/kg thức ăn bằng cách ngâm trong 1 giờ với Vibrio harveyi nồng độ 106cfu/ml. Kết quả cho thấy rằng:

    • Không có khác biệt đáng kể về nồng độ hemocyte giũa nhóm cho ăn với nghệ và nhóm đối chứng
    • Tuy nhiên có sự khác biệt rõ rệt (p<0.05) về hoạt động của enzyme phenoloxidase đối với nhóm cho ăn 15 g/kg so với 7.5g/kg và đối chứng. Hoạt động của enzyme phonoloxidase vô cùng quan trọng đối với khả năng miễn dịch của giáp xác , Vì vậy mà nhóm có hoạt động enzyme phenoloxidase cao nhất là nhóm có chế độ ăn 15g bột nghệ/kg thức ăn sẽ có hệ miễn dịch tốt nhất.
    • Huyết tương của tôm được điều trị có khả năng ức chế Vibrio Harvey, V. Cholera, V. parahymolyticus V. alginolytisus, V. vulnificus và V. fluialis. Kết quả cho thấy rằng nhóm cho ăn với chế độ 15g/kg có hoạt tính kháng khuẩn cao nhất.
    • Tỉ lệ sống của nhóm có chế độ ăn 15g/kg khi ngâm trong môi trường với Vibrio harveyi nồng độ 106cfu/ml cũng khác biệt đáng kể.

    Điều đó có nghĩa rằng, bột nghệ đóng một vai trò quan trọng với khả năng miễn dịch của tôm thẻ chân trắng và cũng có tác dụng tương tự trên tôm sú.

    Tinh chất nghệ có thể ức chế được hoạt động của vi khuẩn Vibrio Harvey, V. Cholera, V. parahymolyticus V. alginolytisus, V. vulnificus và V. fluialis với nồng độ ức chế tối thiểu là 0.47, 0.47, 0.94, 0.47, 3.75, 0.47g/ đĩa. Tỉ lệ tăng trưởng trung bình và trọng lượng tôm cũng tăng khi tôm thẻ được cho ăn với tỉ lệ 7g/kg và 15g/kg thức ăn. Ngoài ra, bột nghệ còn có tác tác dụng ức chế hoạt động của các dòng ki khuẩn Vibrio spp. và tăng cường hoạt động miễn dịch cho tôm.

    Thuy Loan Tran (Công ty Sitto Việt Nam).
    Nguồn: Ong-ard Lawhavinit, Pronchai Sincharoenpokai và Patcharee Sunthornandh. Phòng Vi sinh và Miễn dịch, khoa Dược phẩm Thú y, trường Đại học Kasetsart.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 1 comment
    • 6 likes
    • 4 days ago
    • Truong Huynh Nhu
    • Admin
    • Ba Tôm and
    • 3 others
    • Ba Tôm Thanks L. Hi vọng Loan sẽ đóng góp thêm nhiều bài viết hay!
      • 1 like
      • Like
      • Reply
      • 4 days ago
  • Cách chọn tôm bố mẹ
    Trong quy trình nuôi tôm, tôm bố mẹ quyết định đến chất lượng tôm giống. Vì vậy, việc chọn lựa tôm bố mẹ có ảnh hưởng lớn đến năng suất, hiệu quả.

    1. Tuyển chọn tôm bố mẹ

    Đối với tôm bố mẹ đánh bắt từ tự nhiên (tôm sú), việc chọn lựa được những cặp tôm bố mẹ hậu bị cho sinh sản sẽ quyết định đến sự thành công của trại giống cũng như chất lượng tôm giống. Bởi nguồn tôm bố mẹ khai thác ngoài tự nhiên rất khó kiểm soát mầm bệnh cũng như chất lượng và sự thành thục, thậm chí sức khỏe tôm vì trong quá trình đánh bắt khai thác, tôm bố mẹ bị ảnh hưởng rất lớn. Một số tiêu chuẩn để chọn lựa tôm bố mẹ cơ bản như sau: Trọng lượng: Chọn tôm cái >= 100 gr, với tôm đực >= 60 gr, màu sắc tươi sáng, bóng mượt, hình dáng ngoài không bị tổn thương, bộ phận sinh dục ngoài hoàn chỉnh.

    2. Chăm sóc

    a) Điều kiện môi trường nuôi tôm bố mẹ

    - Độ mặn : 28 - 34‰
    - Nhiệt độ : 28 – 30oC
    - Ôxy hòa tan 4 - 7mg/lít
    - pH : 7,6 - 8,2; giữ môi trường ổn định
    - Mật độ và tỷ lệ đực/cái: Bố trí mật độ hợp lý để tránh ô nhiễm, bệnh tật cũng như tiết kiệm được chi phí chăm sóc và tỷ lệ giao vỹ đạt cao. Bể nuôi vỗ bố trí mật độ 3 - 5 con cái/m2. Bể giao vỹ 2 - 4 con/m2 (tỷ lệ đực/cái là 1/1). Thường xuyên kiểm tra chọn những cá thể cái đang ở giai đoạn tiền lột xác chuyển sang bể giao vỹ.

    b) Thức ăn và chế độ cho ăn

    - Phối hợp nhiều loại thức ăn trong khẩu phần để đảm bảo dinh dưỡng cũng như phù hợp tập tính ăn của từng cá thể.
    - Loại thức ăn: Thức ăn tổng hợp, mực ống, hàu, nghêu, trai, giun biển, ốc càng và thịt bò.
    - Ngày cho ăn 3 lần: 8 giờ sáng, 17 giờ chiều và 23 giờ đêm.
    - Lượng cho ăn hàng ngày bằng 10 - 15% tổng trọng lượng cơ thể đàn tôm mẹ trong thời kỳ phát dục. Bằng 3 - 5% tổng trọng lượng cơ thể tôm mẹ trong giai đoạn lột xác.
    - Thay nước: Hàng ngày thay nước 2 lần, mỗi lần 100%, bảo đảm giữ nguồn nước nuôi sạch. Cân bằng độ mặn và nhiệt độ giữa nước cấp và nước trong bể nuôi.

    Nguồn: Lâm Du, thuysanvietnam.com.vn
    • By Trieu Phu
    • 0 comments
    • 4 likes
    • 4 days ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Truong Huynh Nhu
    • Ba Tôm and
    • 1 other
  • Hạn chế rủi ro trong nuôi tôm nước lợ
    Để hạn chế hiện tượng tôm chết mà một trong những nguyên nhân chủ yếu là do nắng nóng kéo dài, chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm cao, mực nước kém…, người nuôi tôm cần phải chú ý thực hiện tốt một số biện pháp kỹ thuật.

    Chuẩn bị ao

    Trước hết, bà con nuôi tôm phải có ao lắng chiếm 15-20% diện tích trại nuôi để xử lý nước cấp và diệt tạp trước khi đưa vào hồ nuôi, đồng thời đây cũng là nguồn nước dự trữ để bù đắp vào ao tôm khi mực nước trong ao bị cạn do nước bị bốc hơi khi nắng nóng. Kinh nghiệm cho thấy, một số bà con không sử dụng hóa chất để xử lý nước mà thả nuôi cá rô phi trong ao lắng ít nhất 15-20 ngày trước khi bơm nước vào ao nuôi.

    Trong khâu cải tạo ao nuôi, bờ ao cần phải được dầm nén kỹ hoặc lót bạt để chống xói lở và hạn chế rò rỉ nước. Bà con cũng cần chú ý chuẩn bị sẵn máy bơm nước để sử dụng khi cần thiết. Trang bị đầy đủ dụng cụ đo môi trường: pH, ôxy, NH3, NO3, độ mặn…

    Khi cấp nước từ ao lắng qua ao nuôi tôm thâm canh, bán thâm canh cũng cần phải cho qua nhiều lớp túi lọc bằng vải dày đến khi mực nước đạt từ 1,3-1,5m; mực nước trong ao tôm quảng canh cải tiến cần đạt ít nhất 0,6m - 0,8m.

    Trong quá trình nuôi luôn giữ mực nước trên ao nuôi tôm quảng canh từ 0,6m trở lên; trong ao tôm thâm canh và bán thâm canh từ 1m trở lên để môi trường ao tôm ít biến động theo sự thay đổi của thời tiết, nhằm tránh trường hợp tôm bị sốc, giảm rủi ro dịch bệnh.

    Vào những ngày nắng nóng cần chú ý tăng cường thời gian chạy quạt hoặc bố trí thêm hệ thống quạt cho ao nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh. Khi nhiệt độ nước ao tôm tăng lên trên 340C cần giảm thức ăn, bổ sung Vitamin C vào thức ăn, tăng thời gian chạy quạt nước hay sục khí.

    Quản lý ao nuôi

    Khi bước vào mùa nắng, các yếu tố môi trường nước ao tôm thường biến động nên bà con nuôi tôm cần thường xuyên kiểm tra các thông số môi trường ao tôm và theo dõi hoạt động của tôm để có biện pháp xử lý kịp thời. Bởi khi nhiệt độ nước quá cao (trên 32oC), tôm sẽ ít hoạt động, ngừng ăn, vùi mình xuống bùn, do đó tôm rất dễ bị bệnh đóng rong, đen mang.

    Trong những thời điểm nắng nóng, có sự chênh lệch rất lớn giữa nhiệt độ không khí với nhiệt độ môi trường nước nên lúc này người nuôi tôm tránh thực hiện những động tác gây sốc hoặc làm động tôm như: chài, mò bắt…, bởi khi đó tôm sẽ búng, nhảy lên mặt nước làm cong thân, gây ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của tôm.

    Cần cấp nước từ ao lắng vào ao tôm để bù vào lượng nước đã bốc hơi vào mùa nắng, bởi khi mực nước trong ao tôm thấp thì độ mặn thường tăng cao, độ trong thấp, rong tảo phát triển nhiều, pH dao động trong ngày lớn, ôxy giảm thấp vào ban đêm… dẫn đến tôm khó lột xác, chậm lớn, bị đỏ thân do thiếu ôxy…

    Khi cấp nước vào ao nuôi cần cấp từ từ, chỉ cấp thêm khoảng 10-15% lượng nước trong ao vào lúc trời mát (khoảng sau 19 giờ tối) để hạn chế sự thay đổi môi trường; nước cấp chỉ sử dụng từ nguồn ao lắng đã qua xử lý. Đồng thời, người nuôi tôm cũng nên sử dụng chế phẩm sinh học định kỳ để ổn định môi trường, hạn chế khí độc trong ao nuôi.

    Mặc dù mùa nắng nhưng đôi khi cũng xuất hiện những trận mưa trái mùa làm môi trường nước biến động mạnh. Do đó, bà con nuôi tôm cần theo dõi, quản lý ao nuôi để có những biện pháp xử lý thích hợp đề phòng tôm bị sốc, ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng và phát triển của tôm nuôi. Bà con nuôi tôm nên thả giống với mật độ vừa phải (15-30 con/m2 đối với tôm sú; 80-100 con/m2 đối với TTCT).

    Vào thời điểm trời nắng nóng kéo dài, độ mặn nước trong ao thường ở mức cao từ 35-40‰, trong khi phần lớn nước trong các bao tôm giống chỉ có độ mặn 25-28‰. Nếu thả ngay tôm giống vào ao nuôi thì tôm nuôi có thể bị sốc độ mặn dẫn đến bị hao hụt rất cao, thậm chí đến 100%. Do đó, khi thả tôm giống trong thời điểm này cần phải thuần hóa độ mặn tôm giống từ từ để tương đồng với độ mặn của ao nuôi.

    Nguồn: Kỹ sư Nguyễn Quang Trí, thuysanvietnam.com.vn
    • By Truong Huynh Nhu
    • 1 comment
    • 4 likes
    • 4 days ago
    • Truong Huynh Nhu
    • Trieu Phu
    • Ba Tôm and
    • 1 other
    • liemtran308 Viết bài chỉ rập khuôn, không có CÁ BIỆT SÁNG TẠO.


      - Nhà trường dạy bao nhiêu, thực hành bấy nhiêu
      - Người đi trước làm sao thì người đi sau làm theo như vậy (cái gì cũng hưởng ứng theo phong trào).

      Chết chổ này nè:

      Vào những ngày nắng nóng cần chú ý tăng cường thời gian chạy quạt hoặc bố trí thêm hệ thống quạt cho ao nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh. Khi nhiệt độ nước ao tôm tăng lên trên 340C cần giảm thức ăn, bổ sung Vitamin C vào thức ăn, tăng thời gian chạy quạt nước hay sục khí.


      Dùng cái đầu suy nghĩ đi....trước khi sủy nghĩ phải hít vào cho đầy buồng phổi.....đang suy nghĩ nữa chừng thiếu oxy là bị tẩu hỏa nhập ma rồi bị đột quỵ đó nghen.
      • 0 likes
      • Like
      • Reply
      • 3 days ago
  • Mazzetta khẳng định tính an toàn của tôm nhập khẩu sau khi SSA cố nêu lên mối lo...
    Tom Mazzetta, Tổng giám đốc công ty Mazzetta, gần đây đã gửi tới Bộ Thương mại (DOC), Bộ Nông nghiệp (USDA) và Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA), Mỹ một bức thư đề cập đến nghiên cứu mới đây của Tiến sĩ Lightner về dịch bệnh EMS ở tôm nhằm phản đối cáo buộc từ Liên minh tôm miền Nam (SSA) cho rằng việc nhập khẩu tôm nuôi sẽ gây nên rủi ro lớn.

    Dưới đây là đoạn trích trong bức thư của Mazzetta:

    “An toàn thực phẩm luôn là mối quan tâm hàng đầu của công ty chúng tôi, bằng chứng là những việc chúng tôi đứng đầu ngành về kiểm soát nội bộ và có quá trình lâu dài là công ty để đảm bảo chất lượng sản phẩm. Như trong thư của mình, Tiến sĩ Lightner cũng đã khẳng định rằng tôm chín thu mua từ các khu vực bị nhiễm bệnh không tiềm ẩn bất kỳ mối đe dọa nào đến sức khỏe con người.

    Thứ hai, chúng tôi cũng phải đặt dấu hỏi về động cơ cùa lá thư SSA đưa ra ngày 24-4. Trước đây, SSA đã tận dụng mọi cơ hội để dấy lên lo ngại đối với tôm nhập khẩu bằng cách gây áp lực nhằm thay đổi chính sách hoặc tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng. Việc đưa ý kiến của Đoàn đại biểu Hạ viện vùng Vịnh vào nội dung bức thư và gửi tới một số công ty truyền thông cho thấy dường như họ đang lặp lại những mánh khóe cũ.

    Tuy nhiên, đây là vấn đề liên quan đến khoa học.

    Tiến sĩ Lightner cho biết nguyên nhân dịch bệnh EMS đã được xác định. Hơn nữa, tôm đông lạnh nhập khẩu hoàn toàn không có nguy cơ truyền bệnh cho nguồn lợi tôm tự nhiên. Như đã đề cập ở trên, tôm được chín cũng không gây nguy hiểm cho sức khỏe con người,

    Lệnh cấm được ban hành tại một số nước khác là do các nước này nhập khẩu tôm giống về để nuôi. Tuy nhiên, Mỹ hoàn toàn không nằm trong trường hợp này.

    Ngày 6-5, tiến sĩ Lightner đã công bố phát hiện mới liên quan đến một chủng vi khuẩn là tác nhân gây ra dịch bệnh EMS. Đó là vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus, thường tìm thấy ở các vùng nước lợ ven bờ trên toàn thế giới.

    Việc xác định được vi khuẩn gây nên dịch bệnh EMS đã đưa ra những bằng chứng khoa học về việc tôm nhập khẩu đông lạnh không gây nguy hiểm tới sức khỏe con người. Chỉ 1-2% trong số các chủng vi khuẩn V. parahaemolytics tự nhiên trên thế giới có khả năng gây bệnh cho con người, trong số đó không có chủng mà tiến sĩ Lightner đã xác định là nguyên nhân gây dịch bệnh EMS.

    Nghiên cứu gần đây nhất của tiến sĩ Lightner đã phản bác lại tuyên bố tôm đông lạnh nhập khẩu ẩn chứa nguy cơ gây hại cho tôm nuôi hoặc tôm khai thác nội địa. Bệnh dịch lan tràn là do xuất phát từ các trại tôm đã bị nhiễm bệnh hoặc việc di chuyển tôm sống nhiễm bệnh, nhất là tôm giống. Nhóm nghiên cứu của tiến sĩ Lightner cũng đã thử nghiệm và không thành công trong việc gây nhiễm EMS thông qua sử dụng các mẫu tôm đông lạnh hoặc rã đông, tức là việc cấp đông sẽ tiêu diệt các vi khuẩn gây bệnh. Tôm nhập khẩu vào Mỹ đều dưới dạng tôm đông lạnh. Do đó, hoàn toàn không có nguy cơ lây lan dịch bệnh từ các sản phẩm này.

    Tom Mazzetta, Người sáng lập và Tổng giám đốc

    Nguồn: Seafoodnews, vietfish.org
    • By Truong Huynh Nhu
    • 0 comments
    • 4 likes
    • 4 days ago
    • Truong Huynh Nhu
    • Thuy Loan Tran
    • Ba Tôm and
    • 1 other
  • Cá phổi - Lungfish
    Cá phổi là một trong các loài cá thuộc phân lớp có danh pháp khoa học là Dipnoi. Cá phổi là loài cá cổ, chúng được biết đến nhờ các đặc trưng nguyên thủy còn giữ lại được trong lớp Cá xương (Osteichthyes), bao gồm khả năng hít thở không khí và các cấu trúc nguyên thủy trong lớp Cá vây thùy (Sarcopterygii).

    Cá phổi có mặt trên trái đất hơn 100 triệu năm trước, chúng có đặc điểm hình dạng nguyên thủy rất giống rắn. Tất cả các loài cá phổi đều có thể phát triển với kích thước rất lớn, cá phổi Châu Phi có thể dài hơn 2 m. Ngày nay, các loài cá phổi chỉ còn sống tại một số khu vực ở châu Phi, Nam Mỹ và Australia. Có ít loài trong nhóm cá phổi và hiện chỉ có 6 loài được biết, chia thành hai họ khác nhau. Họ Lepidosirenidae có 5 loài được phát hiện ở Châu Phi và Nam Mỹ. Họ còn lại là Ceratodidae chỉ có một loài duy nhất, đó là cá phổi Úc.

    Phổi giúp chúng sống ở các vùng nước có hàm lượng ô xy rất thấp mà các loài cá khác không thể sống được. Phổi chúng nằm ở vị trí rất giống phổi các loài thằn lằn cổ xưa. Các loài cá phổi châu Phi và Nam Mỹ có khả năng sống sót qua thời kỳ khô hạn theo mùa của môi trường sinh sống bằng cách giấu mình trong bùn và tồn tại trong cả mùa khô hạn. Nhiều nghiên cứu cho thấy, cá phổi Châu Phi có thể chịu đựng trong hai năm không có nước. Chúng không chọn cách làm tổ hay trốn dưới bùn mà bao phủ thân thể chúng bằng một chất bài tiết. Chất này là một loại da tự nhiên giống như cái kén con tằm giúp chúng giữ ẩm cho tới khi có nước. Các thay đổi trong các chức năng sinh lý cho phép cá phổi làm chậm lại quá trình trao đổi chất của nó tới mức chỉ còn không tới 1/60 của mức trao đổi chất thông thường và các chất thải gốc protein được chuyển hóa từ amonia thành dạng ít độc hại hơn là u rê (thông thường, cá phổi bài tiết chất thải gốc nitơ dưới dạng amonia trực tiếp vào trong nước).

    Cá phổi là loài cá ăn tạp và là một sát thủ săn mồi lợi hại. Chúng có thể ăn tất cả mọi thứ miễn vừa với cái miệng rất rộng của nó. Chúng ăn cả các dụng cụ trang trí trong bể cá cảnh, tuy nhiên thức ăn tự nhiên ưa thích của chúng là các loại cá tôm và những thứ khác mà chúng tìm ra.

    Các loài cá phổi ngày nay còn giữ một số các đặc trưng của dạng phôi thai như ở động vật bậc cao. Chúng cũng có bộ gen lớn nhất trong số các động vật có xương sống. Tất cả các loài cá phổi ngày nay đều có thân thuôn dài với các cặp vây ức và "vây khung chậu" tạo thành 4 "chân" giúp chúng di chuyển dưới nền đáy hay "đi bộ" trên cạn, cùng với một vây đuôi thay thế cho các vây lưng, đuôi và vây hậu môn như ở các loài cá khác.

    © Triệu Thanh Tuấn, www.aquanetviet.org
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 3 likes
    • 4 days ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Trieu Phu and
    • Ba Tôm
  • Bio-floc: công nghệ mới ứng dụng trong nuôi trồng thủy sản
    Bio-flocculation hay viết tắt là bio-floc (bông cặn sinh học) được nghiên cứu và ứng dụng trong nuôi trồng thủy sản trong thời gian gần đây (Conquest and Tacon, 2006), bio-floc là phức hệ bao gồm: phiêu sinh vật, vi khuẩn dị dưỡng, nguyên sinh động vật, giun tròn, vi tảo, mùn bã hữu cơ; chúng thường chứa khoảng 35-50% hàm lượng đạm, 0,6-12% chất béo và 21-32% trọng lượng tro; theo Avnimelech (2006) bio-floc còn bao gồm các loại amino-acids thiết yếu, vitamins và khoáng vi lượng.

    Ích lợi chính của việc ứng dụng công nghệ bio-floc là tiết giảm được hàm lượng NH3 và NO3- sản sinh trong môi trường nuôi tôm cá, nên có thể giảm thiểu việc sử dụng hệ thống lọc sinh học để xử lý môi trường nước (Avnimelech, 2006). Để duy trì bio-floc trong hệ thống nuôi thường người ta sử dụng các nguồn cacbon rẻ tiền (mật đường, các loại bột, cám gạo…) để duy trì tỉ lệ C/N trong khoảng 20/1 (Animelech, 2009).

    Với hiệu quả thiết thực, công nghệ bio-floc đã được ứng dụng trong quy trình nuôi các đối tượng nước lợ mặn như tôm thẻ chân trắng, cá rô phi (Avnimelech, 2005, 2006; Crab et al., 2009), tôm sú (Wasielesky et al., 2006), đều cho thấy lợi ích kiểm soát các yếu tố môi trường, các nghiên cứu chỉ ra khả năng làm giảm thấp hàm lượng TAN xuống 0,01 mg/L, thấp hơn gấp nhiều lần so với các hệ thống nuôi thông thường (0,5-3,0 mg/L); bổ sung nguồn thức ăn có giá trị từ bio-floc và kết quả thí nghiệm chỉ ra rằng sau khi bổ sung nguồn bột/đường vào môi trường nuôi đã thúc đẩy việc sản xuất nguồn đạm vi khuẩn làm thức ăn cho tôm nuôi, nhờ đó làm giảm nguồn đạm trong thức ăn từ 40% xuống 25% mà không ảnh hưởng đến năng suất tôm nuôi. Thực tế khả năng sử dụng bio-floc làm thức ăn tùy thuộc tập tính dinh dưỡng của từng loài, giai đoạn phát triển của đối tượng nuôi, kích cỡ hạt bio-floc cùng mật độ hạt bio-floc trong môi trường nuôi.

    Ưu điểm chính của công nghệ bio-floc là giảm thay nước và không cần hệ thống xử lý nước phụ trợ (bên ngoài) cho hệ thống nuôi, công nghệ này có thể áp dụng cho các quy trình nuôi thâm canh hoặc quảng canh, giúp tăng năng suất lên 5-10%, tăng trọng của tôm nuôi cao hơn hệ thống thông thường, hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) thấp, dao động từ 1-1,3 và chi phí sản xuất giảm 15-20%, mặt khác vi khuẩn dị dưỡng trong hệ thống còn được quy cho có khả năng kiểm soát mầm bệnh trong ao nuôi và các kết quả nghiên cứu ban đầu trong phòng thí nghiệm cho thấy có sự hiện diện của chất poly-β-hydroxybutyrate (PHB) trong bio-floc và với sự hiện diện của PHB cho thấy khả năng làm giảm tác hại của vi khuẩn gây bệnh trong nuôi trồng thủy sản (Defoirdt et al., 2007; Halet et al., 2007 trích dẫn theo Crab et al., 2007). Tuy vậy việc ứng dụng công nghệ bio-floc đòi hỏi hệ thống nuôi phải trang bị sục khí với công suất 28 HP/ha, hệ thống ao nuôi cần trải bạt (HDPE), người nuôi cần được tập huấn đầy đủ các kỹ thuật để vận hành hệ thống có hiệu quả.

    Nguồn: PGs. Ts. Nguyễn Văn Hòa, Khoa Thủy Sản, Đại học Cần Thơ. Công ty UV-Vietnam.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 4 comments
    • 5 likes
    • 4 days ago
    • Truong Huynh Nhu
    • Thuy Loan Tran
    • Nguyễn Hồ and
    • 2 others
    • liemtran308 Pó tay với Ts Nguyễn Duy Hòa, giờ tới Ts Nguyễn Văn Hòa toàn đọc rồi nhại theo sách, chứ chả hiểu biết gì về Biofloc.

      - Thấy chữ viết theo

      - Nhìn hình vẽ theo

      Bà con ơi, đọc và học đi, xem có LỞ MÒM LONG MÓNG không cho biết.
      • 0 likes
      • Like
      • Reply
      • 3 days ago
    • 1 more comment
© Vietnam Aquaculture Network Privacy & Terms Facebook Twitter About Contact
  • Facebook
    Like us on Facebook!
  • Twitter
    Follow us on Twitter!
This text will display in the Announcement Box.
×