• Chỉ có 46% hoạt động nuôi trồng thủy sản trên thế giới được chứng nhận sinh thái
    Chỉ có 4,6% sản lượng nuôi trồng thủy sản thế giới được chứng nhận bởi bên thứ ba, chẳng hạn như Global GAP, Chứng nhận Thực hành nuôi tốt nhất (BAP) và Hội đồng Nuôi trồng thủy sản (ASC).

    Trong thực tế, Liên minh Nuôi trồng thủy sản toàn cầu (GAA) cho biết số lượng trang trại nuôi tôm được chứng nhận thực sự giảm vào năm ngoái, do tác động của hội chứng tôm chết sớm (EMS) tại Thái Lan.

    Sự lây lan của EMS đã khiến sản xuất tôm của Thái Lan giảm từ 640.000 tấn trong năm 2010 xuống còn 200.000 tấn trong năm ngoái. Năm nay, sản lượng sẽ thấp hơn 200.000 tấn.

    Trên thực tế, GAA là một bộ phận của nhóm phát triển một tiêu chuẩn quản lý khu vực mới cho các trang trại, nhằm hạn chế sự lây lan và bùng nổ dịch bệnh. Điều này có thể kết thúc khi được chứng nhận BAP 5 sao, đây là cấp chứng nhận mới cao nhất của GAA.

    Về mức độ chứng nhận thấp trong nuôi trồng thủy sản, Châu Á là điển hình. Châu Á là nhà sản xuất lớn thủy sản nuôi, ví dụ trong  sản xuất cá chép ở Trung Quốc, nhưng từ nông dân đến người tiêu dùng đều không quan tâm đến chứng nhận.

    Các chuyên gia thường chỉ trích nuôi trồng thủy sản dùng nhiều thức ăn từ cá biển hơn để sản xuất nuôi trồng thủy sản, hay còn gọi là tỷ lệ Fish-in/fish-out (FIFO).

    Ngành thủy sản đang từng bước giải quyết vấn đề phát triển bền vững và phúc lợi, thông qua các dự án cải thiện ngành thủy sản (FIPs).

    Source: Nguyễn Hà, VASEP
    (Theo Undercurrentnews)
  • Năm 2014, Indonesia đẩy mạnh xuất khẩu tôm chế biến sang Mỹ
    Indonesia đang tận dụng tối đa cơ hội đẩy mạnh XK tôm chế biến sang Mỹ, bù đắp phần thiếu hụt từ nguồn cung Thái Lan. Indonesia đã trở thành nước cung cấp tôm lớn nhất cho Mỹ trong 8 tháng đầu năm 2014 với NK tôm thịt chế biến từ nước này vào Mỹ tăng tới 110% về giá trị và 56% về khối lượng.

    Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp Mỹ, 8 tháng đầu năm 2014, Mỹ NK 350.627 tấn tôm các loại từ các thị trường, trị giá 4,1 tỷ USD, tăng 41% về giá trị và 12% về khối lượng so với cùng kỳ năm 2013. Trong đó, Indonesia dẫn đầu về cung cấp tôm cho Mỹ trong thời gian này với 65.492 tấn, trị giá 857 triệu USD, tăng 67% về giá trị và 29% về khối lượng.

    Trong nhóm sản phẩm tôm NK Indonesia vào Mỹ, tôm thịt nguyên liệu đông lạnh (HS0306170040) và tôm thịt chế biến đông lạnh (HS1605211030) chiếm tới trên 63% tổng giá trị. Đáng chú ý NK tôm thịt chế biến đông lạnh là mặt hàng có sức tăng mạnh nhất trong nhóm sản phẩm tôm chính XK sang Mỹ, từ 4.521 tấn, trị giá 48 triệu USD năm ngoái lên 7.171 tấn, trị giá 101 triệu USD. Đây chính là mặt hàng XK chủ lực của Thái Lan sang Mỹ nhưng lại đang trên đà giảm bởi “khủng hoảng nguyên liệu” mà nước này đang phải đối mặt do Hội chứng tôm chết sớm (EMS) gây ra. NK tôm thịt chế biến đông lạnh từ Thái Lan vào Mỹ trong 8 tháng qua giảm 18% về KL, từ 16.908 tấn xuống còn 13.901 tấn.  

    Trên thị trường Mỹ hiện nay có lẽ Indonesia là nước có khả năng cạnh tranh cao nhất bởi nhiều yếu tố thuận lợi cả trong sản xuất lẫn XK tôm.

    Về sản xuất, ngành tôm Indonesia không bị EMS tấn công như nhiều nước khác. Sản lượng tôm của nước này đã tăng khả quan, thậm chí Indonesia đặt ra mục tiêu đầy tham vọng là trở thành nước sản xuất tôm lớn nhất trên thế giới.

    Năm 2013, sản lượng tôm của Indonesia đạt 600.000 tấn, tăng 44,5% so với 415.000 tấn năm 2012 và chỉ đứng sau Trung Quốc với sản lượng đạt khoảng 1,1 triệu tấn. Năm 2014, sản lượng tôm của nước này dự kiến sẽ đạt trên mức năm ngoái. Ngoài ra, Indonesia cũng là một trong số ít nước hiện nay trên thế giới còn nuôi và XK tôm sú với khối lượng lớn.

    Về XK sang Mỹ, tôm nước này không phải chịu thuế chống bán phá giá như Việt Nam, Thái Lan hay Ấn Độ. Ngoài ra, ngành tôm Indonesia dường như không vấp phải nhiều rào cản từ phía Mỹ như các nước khác. Năm 2013, Indonesia vẫn còn đứng sau Ấn Độ và Thái Lan về cung cấp tôm cho thị trường này và nhanh chóng lên vị trí dẫn đầu năm 2014.

    Năm 2014, NK tôm Indonesia vào Nhật Bản giảm sút một phần do nhu cầu NK tôm từ thị trường này giảm và một phần không nhỏ do Indonesia đang tận dụng tối đa thế mạnh của mình trong XK tôm sang Mỹ. Từ nay đến cuối năm, Indonesia sẽ tiếp tục duy trì được vị trí dẫn đầu về cung cấp tôm cho Mỹ.

    Source: Nguyễn Bích, VASEP
  • GOAL 2014 hướng đến sự bền vững và có trách nhiệm
    Hội nghị nuôi trồng thủy sản toàn cầu dành cho giới lãnh đạo năm 2014 (GOAL 2014) được tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh từ 7-10/10/2014.

    Đây là lần thứ 2 Hội nghị Goal được tổ chức tại Việt Nam sau lần đầu tiên vào năm 2005. Trong 4 ngày, GOAL 2014 chủ yếu bàn về tình hình sản xuất, nuôi thủy sản và phân tích các chuỗi giá trị của ngành thủy sản. Điểm nổi bật của Hội nghị lần này là các chuyên gia tập trung phân tích và đánh giá các dữ liệu về sản xuất và đưa ra các dự báo về ngành thủy sản toàn cầu.

    Chế biến thức ăn thủy sản cũng cần phải bền vững

    Ngành NTTS toàn cầu sẽ “không còn đường ra” nếu cứ mãi luẩn quẩn tìm kiếm nguồn nguyên liệu cá tự nhiên để chế biến thức ăn phục vụ cho NTTS, bà Dawn Purchase, chuyên gia cao cấp của Hội đồng Quản lý Biển (MSC) đưa ra cảnh báo tại Diễn đàn Thức ăn thủy sản (TĂTS) bền vững, buổi họp đầu tiên của Hội nghị GOAL 2014 Theo ông Andrew Mallison, Tổng Giám đốc Tổ chức Bột cá - Dầu cá quốc tế (IFFO), phát triển NTTS luôn ảnh hưởng đến môi trường, nguồn nước và đặc biệt là làm suy giảm nguồn lợi cá tự nhiên do phải cung cấp nguyên liệu cho ngành chế biến TĂTS. Vài năm gần đây, nhờ những tiến bộ trong nghiên cứu và phát triển các công nghệ mới, tỷ trọng nguyên liệu cá tự nhiên trong chế biến TĂTS đã có xu hướng giảm xuống, tuy nhiên việc quản lý và giám sát vấn đề này không vì thế mà được phép buông lỏng.

    “Chúng ta nhận thấy tỷ lệ bột cá trong thức ăn cho cá hồi Na Uy gần đây đã giảm chỉ còn khoảng 10% trong thành phần nguyên liệu và thay vào đó là các thành phần protein có nguồn gốc thực vật. Tỷ lệ này cũng được ghi nhận ở thức ăn cho các loài khác như tôm và cá rô phi, cụ thể là năm 2000 có khoảng 10% bột cá trong TĂTS, đến năm 2012 tỷ lệ này chỉ còn khoảng 5%. Trong khi đó, ở các loài cá nước ngọt như cá tra, cùng khoảng thời gian trên cũng đã giảm từ 35% xuống còn khoảng 15% như hiện nay”, ông Mallison dẫn chứng.

    Bên cạnh việc kiểm soát nguồn nguyên liệu bột cá-dầu cá, việc tìm kiếm các nguồn protein thay thế cũng là được xem là một giải pháp mang tính quyết định đến sự phát triển của ngành NTTS toàn cầu.

    “Liên minh NTTS với Đậu nành của Mỹ (SAA) hiện đang tích cực làm việc trên một số loài cá để phát triển tốt hơn nữa việc thực hành cho ăn theo chế độ dinh dưỡng có đậu nành. Hiện loại đậu này là nguồn protein thay thế số một cho TĂTS. Và trong thời gian không xa, chắc chắn đây sẽ không còn là sản phẩm thay thế nữa, vì sản lượng cung cấp cho các nhà máy thức ăn đã cao hơn gấp 3 lần so với lượng bột cá – dầu cá, ước tính khoảng 13- 15 triệu tấn đậu mỗi năm”, TS. Steven Hart, chuyên gia của SAA khẳng định.

    Ngoài những nghiên cứu mới về bột đậu, công nghệ nuôi và chế biến bột côn trùng (Insect-meal) và bột giun (Worm-meal) của 2 công ty AquaFude và Entofood cũng đã thực sự khiến cho nhiều chuyên gia tại Hội nghị GOAL rất quan tâm và hứng thú.

    Theo ông Ari Jadwin - thuộc Công ty AquaFude, bột côn trùng là nguồn protein thay thế rất tốt và sản xuất với chi phí rẻ hơn rất nhiều so với bột cá, dầu cá. Qua nhiều thí nghiệm, AquaFude nhận thấy loài ruồi Hermetia Illucens thích hợp nhất để đưa vào nuôi và sản xuất vì vòng đời ngắn và sinh sản nhanh, mạnh.

    “Đây là chủng côn trùng rất phù hợp cho sản xuất thức ăn chăn nuôi quy mô lớn vì ít dịch bệnh, vòng đời ngắn từ 30-40 ngày, thức ăn của chúng chính là các phụ phẩm, chất thải, chất hữu cơ trong quá trình sản xuất và ấu trùng của chúng có chất dinh dưỡng rất tốt cho TĂTS. Hiện chúng tôi đang nghiên cứu phát triển nuôi công nghiệp với công suất ước tính 5.000 tấn/ha/năm”, ông Ari Jadwin nhận định.

    Ngoài bột côn trùng, ông Franck Ducharne đến từ Công ty Entofood cũng giới thiệu bột giun với công nghệ nuôi và chế biến thành công từ loài giun đất. Tuy nhiên, để các sản phẩm có thể phát triển và thâm nhập được thị trường cũng còn khá nhiều khó khăn và thách thức phía trước. Đó là khó khăn trong thay đổi nhận thức của khách hàng, chi phí đầu tư lớn cho việc đổi mới công nghệ cũng như các ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường và xã hội trong việc nuôi và phát triển giun hay côn trùng.

    Dịch bệnh thủy sản luôn là thách thức số một

    Ngày thứ 2 của Hội nghị GOAL 2014, những khó khăn và thách thức mà ngành tôm thế giới đang phải đối mặt đã hâm nóng nghị trường cùng các diễn giả. Trong một cuộc khảo sát nhanh bên lề hội nghị, 48% các đại biểu tham dự đều đồng ý cho rằng vấn đề dịch bệnh đang và sẽ là thử thách hàng đầu cho sự phát triển của ngành NTTS toàn cầu.

    Ông George Chamberlain, chủ tịch GAA, đã có một báo cáo về những thách thức mà ngành tôm phải đối phó trong việc kiểm soát dịch bệnh. Sản lượng thủy sản nuôi toàn cầu đã giảm 4% vào năm 2013 do dịch bệnh tôm kéo dài.

    “Quá trình kiểm soát bệnh sẽ không bao giờ kết thúc”, ông Chamberlain nhận đinh, nhưng cho biết việc triển khai các giải pháp tối ưu về chẩn đoán, nuôi, sản xuất giống, trại nuôi và thức ăn chống lại các dịch bệnh như Hội chứng tôm chết sớm (EMS) đang bắt đầu đạt được kết quả tích cực.

    Chia sẻ về những kinh nghiệm trong việc quản lý sản xuất và kiểm soát dịch bệnh ở Việt Nam, TS. Trần Hữu Lộc thuộc trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh, kiêm Giám đốc phòng thí nghiệm Minh Phú Aquamekong ShrimpVet Lab, cho rằng người nông dân Việt Nam hiện nay đã có những thành công nhất định trong phòng chống và giảm thiểu tác động của EMS bằng cách thả cá rô phi chung trong ao tôm để làm sạch nước.

    “Họ chỉ thả cá rô phi và tôm chung trong khoảng một tháng, vì nếu hơn thì cá sẽ ăn tôm. Và người nông dân cũng được khuyến cáo là chỉ cho cá ăn “vừa đủ” để chúng còn ăn các mầm bệnh và các chất ô nhiễm khác trong ao”, TS. Lộc cho biết.

    43aIMG1967.JPG
    Thảo luận về Hội chứng tôm chết sớm tại GOAL 2014

    Đây đồng thời cũng là mô hình mà Công ty CP Tập đoàn Thủy sản Minh Phú đang áp dụng. Sự thành công bất ngờ của mô hình nuôi ghép này thực ra lại xuất phát từ một tai nạn trong quá trình nuôi tôm của Minh Phú.

    “Chúng tôi có một ao nuôi cá rô phi sát ngay bên cạnh ao nuôi tôm đang bị tấn công bởi EMS. Không thể cứu vãn tình thế, chúng tôi đã buộc phải chuyển số tôm bị EMS sang ao cá để làm thức ăn nuôi cá rô phi. Bất ngờ thay, số tôm đó không chết mà bỗng dưng hồi phục và khỏe mạnh. Từ đó, Minh Phú quyết định sử dụng chiến lược này để chống chọi với EMS”, ông Lê Văn Quang, Tổng giám đốc Minh Phú chia sẻ.

    Dựa trên các số liệu thống kê thủy sản toàn cầu những năm gần đây, ông James Anderson, chuyên gia của Ngân hàng Thế giới cũng đã đưa ra những phân tích tập trung vào sản lượng tôm và cá trên thế giới cũng như triển vọng trong thời gian tới. Theo ông Anderson, do sự bùng phát của dịch bệnh EMS, sản lượng tôm toàn cầu năm 2013 ước tính đã giảm 19% so với năm 2012 và sẽ tiếp tục giảm 8% trong năm 2014. Tuy nhiên, ông cũng đưa ra dự đoán năm 2015 và 2016 sản lượng tôm sẽ hồi phục và năm 2016, mức sản lượng sẽ quay về mốc của năm 2012.

    “Nếu chúng ta nhìn vào biểu đồ dự báo về xu hướng phát triển của ngành tôm đến năm 2016 trước khi có dịch bệnh EMS xảy ra, có thể dễ dàng nhận thấy do EMS mà chúng ta đã mất đi khoảng 3 triệu tấn tôm. Do đó phải nói rằng, EMS là một vấn đề liên quan đến cả tỷ USD chứ không phải nhỏ”, ông James Anderson nhận định.

    Tuy nhiên, với những thành công trong việc phát hiện và kiểm soát EMS, ông George Chamberlain cho rằng sản lượng tôm nuôi toàn cầu được dự kiến sẽ tăng gấp đôi trong thập kỷ tới, từ 4 triệu tấn lên 8 triệu tấn. Tương tự, ông Ragna Tveras thuộc trường Đại học Stavanger (Na Uy) cũng cho biết, sau hai năm chững lại thì sản lượng cá toàn cầu năm 2015 cũng sẽ có những sự hồi phục nhẹ và từng bước lấy lại đà tăng trưởng.

    Đầu tư và khuyến khích sản xuất thủy sản quy mô nhỏ

    Trong 2 năm gần đây, “nhu cầu thị trường lớn và việc hợp tác với các đối tác chủ chốt” đã mang lại khoảng 200.000 tấn cá tra Việt Nam được chứng nhận với các tiêu chuẩn bền vững, chiếm khoảng 20% tổng sản lượng XK. “Khối lượng sản xuất cá tra với đủ loại các chứng nhận cũng như việc đưa sản phẩm bao phủ khắp các kênh bán lẻ trên thế giới hiện nay có thể xem như cá tra đã đến gần điểm tới hạn”, ông Ted van der Put, chuyên gia của Tổ chức Sáng kiến Thương mại Bền vững Hà Lan (IDH) nhận định.

    Tuy vậy, cá tra và tôm lại khác nhau. Trong nuôi tôm, hầu hết người nuôi là các nông hộ quy mô vừa và nhỏ, do đó cơ hội tiếp cận với các tiêu chuẩn chứng nhận là hết sức khó khăn. Trong khi cơ quan chứng nhận và người mua liên tục gây áp lực lên các nhà sản xuất, NTTS quy mô lớn nhằm điều khiển cuộc chơi và kiểm soát chuỗi cung ứng của họ, thì vẫn còn đó số đông các nhà sản xuất quy mô nhỏ bị lãng quên.

    “Khoảng 70 - 80% sản lượng tôm nuôi được sản xuất bởi nông dân quy mô nhỏ, những người đã từ lâu không có vai trò trong việc thúc đẩy ngành phát triển hoặc không có cơ hội để tìm hiểu hoặc áp dụng các “Thực hành NTTS tốt nhất” (BAP), ông Anton Immink thuộc tổ chức Quan hệ Đối tác Nghề cá Bền vững (SFP) nhận định.

    Để thực sự có được bất kỳ thay đổi đáng kể nào cho ngành, các nông hộ này phải được nâng cấp theo các tiêu chuẩn hiện có. Để thực hiện được thì cần thiết phải có cách tiếp cận từng bước, đầu tiên là thu hút nông dân quy mô nhỏ và sau đó là nâng cao dần các tiêu chuẩn để cải thiện sản xuất, bà Lisa Goche thuộc Công ty Surefish nói.

    Ông Jeff Sedacca, chủ tịch Ủy ban Tôm của Hiệp hội Thủy sản Mỹ (NFS), nhấn mạnh tầm quan trọng của việc không làm tổn hại đến các nông hộ quy mô nhỏ trong quá trình đưa họ tiếp cận dần với các tiêu chuẩn BAP. Mục đích của việc này là để mang lại lợi ích trực tiếp cho nông dân, làm cho mục tiêu dài hạn của phát triển bền vững hấp dẫn hơn bằng cách cung cấp những lợi ích kinh tế ngắn hạn. Phân nhóm các nông hộ nhỏ này có nghĩa là chi phí cho từng bước tiếp cận các tiêu chuẩn chứng nhận đã “giảm xuống mười lần”, cộng với việc đầu tư các công nghệ liên quan cũng được thực hiện từng bước chứ không phải làm hết 1 lần từ đầu.

    Ông Anton Immink cho rằng mô hình này hoàn toàn có thể được áp dụng với các ngành khác, khi phần lớn khối lượng vẫn được sản xuất theo quy mô nhỏ và hoạt động chưa được hiện đại hóa.

    “Xu hướng hợp nhất đang đến trong ngành thủy sản” ông Jeff Sedacca nói “nhưng ngành cá tra không giống như vậy. Đây không phải là kiểu một vài công ty mua lại các hộ nông dân nhỏ, mà mô hình này có nghĩa là người nông dân không bị mất quyền tiếp cận thị trường và không bị mất thu nhập. Họ có cơ hội để được là một phần trong ngành cá đang dần được cải thiện”.

    Bên cạnh đó, giám đốc cấp cao ngành hàng thịt và thủy sản của Tập đoàn Walmart cũng cho biết, Walmart có kế hoạch sẽ đầu tư 1 tỷ USD để làm việc với nông dân quy mô nhỏ vào năm 2015. “Hãy tưởng tượng tiềm năng sản xuất của các trang trại nhỏ sẽ lớn đến thế nào nếu bạn hướng dẫn cho họ sản xuất có hiệu quả hơn, cũng như giới thiệu cho họ “Thực hành NTTS tốt nhất” và áp dụng chúng vào sản xuất để được cấp giấy chứng nhận”, ông nói, “Walmart hy vọng sẽ tăng thu nhập của nông dân ít nhất 10% vào cuối năm 2015”.

    Tôn vinh những nét nổi bật của thủy sản Việt Nam

    Trong khuôn khổ Hội nghị GOAL năm nay, Liên minh GAA cũng đã tổ chức 2 sự kiện nhằm tôn vinh những thành tựu của thủy sản Việt Nam.

    Đầu tiên, đó là lễ trao giải thưởng “Thành tựu Trọn đời” cho PGS.TS. Nguyễn Hữu Dũng, một trong những nhà lãnh đạo có trình độ, tầm nhìn và đầy tâm huyết trong việc thúc đẩy sự phát triển của ngành thủy sản Việt Nam.

    IMG21102.JPG
    GAA trao giải thưởng “Thành tựu Trọn đời” cho PGS. TS. Nguyễn Hữu Dũng

    “Niềm đam mê của ông Dũng đối với nuôi trồng thủy sản và cách tiếp cận chân thành, không mệt mỏi và tận tâm đã tôn vinh hình ảnh của Việt Nam và cả ngành NTTS nói chung. Chúng tôi rất xúc động khi được trao tặng giải thưởng này cho ông Dũng tại Hội nghị GOAL 2014”, Chủ tịch GAA George Chamberlain khẳng định.

    Bên cạnh đó, buổi hội thảo với chủ đề “Tôn vinh lãnh đạo thủy sản Việt Nam – Celebrating Leadership in Vietnam’s Aquaculture Industry” cũng đã được GAA xem là một “sự kiện đặc biệt” nhằm hướng tới mục tiêu xây dựng nhận thức về sự cần thiết của việc tăng cường các hoạt động có trách nhiệm giúp các trại nuôi thủy sản có quy mô vừa và nhỏ ở Việt Nam dễ dàng thâm nhập thị trường.

    Các diễn giả chính đại diện cho 2 lĩnh vực của ngành, đó là hoạt động trong nuôi và hoạt động trên thương trường với các dự án đang thực hiện cũng như các cơ hội cho các dự án trong tương lai như: Trại nuôi quy mô nhỏ và đa dạng sinh học thuộc Dự án Quản lý tích hợp vùng ven biển ICMP của tổ chức GIZ Việt Nam, Vai trò của mô hình Hợp tác xã trong nông nghiệp và thủy sản (Trung tâm ICAFIS), Các cơ hội hợp tác công tư (IDH Việt Nam), Trại nuôi quy mô nhỏ và Chứng nhận bên thứ ba (WWF Việt Nam), Xây dựng các thị trường ở nước ngoài cho cá tra và tôm (VASEP), Xúc tiến thương mại cho cá tra (VPA)…

    Nhân dịp này, ông Carson Roper, đại diện GAA cũng đã trao giải thường “Commitment to Excellence Award” (Cam kết sự hoàn hảo) cho đại diện Công ty CP Thủy sản & Thương mại Thuận Phước vì những cố gắng của công ty trong việc hoàn thành chứng nhận “Thực hành NTTS tốt nhất” (BAP) với cấp độ 4 sao.

    Với chủ đề “Tôn vinh lãnh đạo thủy sản”, Hội nghị GOAL 2014 đã thành công trong việc khẳng định tầm quan trọng của công tác lãnh đạo và định hướng trong phát triển thủy sản bền vững. Hơn 400 đại biểu là các học giả, chuyên gia, nhà quản lý… đến từ các nước trên thế giới đã cùng nhau thảo luận, phân tích, đánh giá các thách thức, cơ hội và cùng cam kết hành động chung cho sự phát triển của thủy sản toàn cầu. Hội nghị GOAL 2014 kết thúc sau 4 ngày thảo luận sôi nổi. Hẹn gặp lại hội nghị GOAL 2015 tại Vancouver, Canađa vào năm sau.

    Source: Trần Duy, VietFish
  • Trang trại nuôi tôm đầu tiên của Công ty Quốc Việt nhận chứng nhận ASC
    Các trang trại nuôi tôm đầu tiên của Công ty Quốc Việt vừa mới nhận được chứng nhận nhãn sinh thái ASC. Tiêu chuẩn chứng nhận ASC (Aquaculture Stewardship Council – Hội đồng Quản lý Nuôi trồng Thủy sản) được thành lập vào năm 2009 bởi Quỹ Bảo Tồn Động vật hoang dã Thế giới (WWF) và Tổ chức Sáng kiến Thương mại bền vững Hà Lan (IDH).

    Ông Ngô Quốc Tuấn, Phó Tổng Giám đốc Công ty Quốc Việt cho biết "Chứng nhận ASC mở ra một cơ hội mới cho việc xâm nhập vào các thị trường khó tính. Khách hàng của chúng tôi bây giờ có thể tự tin rằng tôm họ mua từ chúng tôi xuất phát từ các trang trại đáp ứng các tiêu chuẩn toàn cầu nghiêm ngặt nhất đối với sản xuất nông nghiệp có trách nhiệm."

    Trong năm 2013, Quốc Việt đã xuất khẩu 15.000 tấn tôm, và trong năm 2014 này, họ hy vọng xuất khẩu được 20.000 tấn tôm. Công ty đang triển khai mở rộng qui mô nhà máy chế biến để đáp ứng cho mục tiêu sản xuất 25.000 tấn tôm vào năm 2015.

    Các sản phẩm tôm của Công ty Quốc Việt được xuất khẩu sang các thị trường như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Liên minh châu Âu, Úc, Canada, Hàn Quốc và nhiều nước khác.

    Triệu Thanh Tuấn, www.aquanetviet.org
    Source: Shrimp News
  • Dầu cá Ranee tinh luyện từ cá tra ra mắt thị trường
    Sản phẩm được sản xuất tại Nhà máy tinh luyện Dầu cá Cao cấp Sao Mai thuộc Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Sao Mai (Sao Mai Group) tỉnh An Giang. Đây là Nhà máy đầu tiên trên thế giới sản xuất dầu thực phẩm từ mỡ cá tra làm nguyên liệu đầu vào cho thực phẩm và hóa phẩm.

    Tại Hội thảo khoa học Dầu cá & Sức khoẻ vừa diễn ra tại TP.HCM, Sao Mai Group đã chính thức công bố sản phẩm dầu thực phẩm dùng chiên xào, trộn xalad và dầu đặc nguyên liệu chế biến thực phẩm, dược phẩm được bán ra thị trường mang thương hiệu Ranee với slogan “Ngon cho chồng - Tốt cho con - Tuyệt vời cho cả gia đình".

    Sản phẩm được sản xuất tại Nhà máy tinh luyện Dầu cá Cao cấp Sao Mai xây dựng trên diện tích gần 4ha tại xã Bình Thành, huyện Lấp Vò (Đồng Tháp) với tổng kinh phí trên 500 tỷ đồng. Nhà máy được trang bị các thiết bị hiện đại nhập khẩu từ Châu Âu Desmet Dầu cá được sản xuất theo hệ thống quản lý chất lượng tiêu chuẩn quốc tế FSSC tự động hóa hoàn toàn và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, được khử sạch mùi tanh, giữ lại trọn vẹn các thành phần dinh dưỡng Omega 3,6,9 và Vitamin E tự nhiên...  

    Dự kiến, từ nay đến năm 2015, sản phẩm dầu cá cao cấp Ranee sẽ được sản xuất với công suất 100 tấn/ngày và sẽ nâng mức lên công quất 200 tấn/ngày (trong khoảng 2015 - 2016) và tới 300 tấn/ngày từ năm 2016 trở đi.

    Theo kết quả nghiên cứu của Viện dinh dưỡng Quốc gia, mỡ cá hay còn gọi là dầu cá thô không chứa cholesteron và có chứa nhiều các thành phần dinh dưỡng quý giá, tốt cho sức khỏe con người như: các a xít béo không no đơn nối đôi MUFA, đa nối đôi PUFA, bao gồm cả axít béo Omega 3, 6, 9, các nguyên tố khoáng vi lượng và vitamin E. Đặc biệt trong mỡ cá có chứa EPA, DHA - thành phần vô cùng quan trọng đối với sức khỏe con người.

    Nếu được sử dụng đúng mục đích như làm thực phẩm cho người và nguyên liệu ngành dược thì chắc chắn mỡ cá ĐBSCL sẽ có đóng góp tích cực trong nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho người Việt nói riêng và người tiêu dùng thế giới nói chung.

    Ông Lê Thanh Thuấn, Chủ tịch Sao Mai Group chia sẻ: Vùng ĐBSCL mỗi năm cung cấp ra thị trường sản lượng mỡ cá tra không dưới 140.000 tấn nhưng được dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thức ăn gia súc, sản xuất dầu biodiesel và xuất khẩu thô với giá bán thấp. Trong khi đó, Việt Nam đang chi hàng tỷ USD mỗi năm để nhập khẩu dầu thực vật và nhu cầu này ngày càng gia tăng. Sản phẩm dầu cá Ranee sẽ là mắc xích vô cùng quan trọng kết nối hình thành chuỗi khép kín của quy trình nuôi trồng và chế biến ca tra, ba sa xuất khẩu. Với việc tận dụng nguồn nguyên liệu phụ mỡ các để tinh chế thành dầu Ranee là lời giải cho bài toán nâng cao chuỗi giá trị sản xuất chế biến xuất khẩu con cá tra Việt Nam mà Sao Mai An Giang vinh dự là người đi tiên phong.

    Theo nghiên cứu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), các bệnh mạn tính không lây như tim mạch, đái tháo đường, hội chứng rối loạn chuyển hóa… đang gây ra 60% số ca tử vong trên thế giới và sẽ còn tăng trong tương lai.

    Gánh nặng về bệnh mãn tính hoàn toàn có thể kéo giảm nếu mọi người chú ý tăng cường vận động kết hợp chế độ ăn lành mạnh. Trong đó, sử dụng dầu cá như một nguyên liệu có hoạt tính sinh học được xem là giải pháp dinh dưỡng cần thiết hiện nay.

    Mặc dù các nhà khoa học chưa thống nhất về lượng dầu cá cần bổ sung để có hiệu quả phát huy vai trò của acid béo omega-3 nhưng Hiệp hội tim mạch Mỹ khuyến cáo những người từng có một trong những biểu hiện của bệnh tim mạch, cần bổ sung mỗi ngày 1g EPA và DHA; tăng lên 2-4g/ngày đối với những người cần hạ thấp mức triglyceride máu.

    Tác dụng giảm nguy cơ bệnh mạch vành tim đối với các thực phẩm chứa acid béo omega-3 EPA và DHA cũng được Cơ quan quản lý Dược phẩm và Thực phẩm Mỹ (FDA) xác nhận.

    TS.BS Trương Tuyết Mai, Viện dinh dưỡng quốc gia cho biết, một số nghiên cứu đã chứng minh vai trò của dầu cá giúp cải thiện trí nhớ và tăng khả năng tập trung. Dầu cá cũng rất tốt cho phụ nữ mang thai và trẻ nhỏ, giúp cải thiện trí thông minh của trẻ. Acid béo omega 3 có trong dầu cá giúp giảm viêm sưng và giảm đau, trong khi thành phần DHA giúp bảo vệ mắt, ngăn ngừa một số loại ung thư như ung thư tuyến tiền liệt, ung thư vú, ung thư da, ung thư ruột kết…

    Ông Lê Danh Tuyên, Viện Trưởng Viện y tế Quốc gia đánh giá rất cao sản phẩm dầu cá Ranee và nhận định đây sẽ là sản phẩm triển vọng xuất khẩu tốt trong thời gian tới hứa hẹn mang về nguồn ngoại tệ lớn từ một loại sản phẩm mà thiên nhiên đã ban tặng cho ĐBSCL đó là con cá tra.

    Source: Phú Khởi, Báo Đầu tư
  • Kinh nghiệm nuôi tôm công nghiệp không sử dụng kháng sinh, hóa chất
    “Với 10 năm trong nghề nuôi tôm, thì 5 năm tôi nuôi tôm thẻ chân trắng theo hình thức công nghiệp với diện tích 6 ha, thắng cũng có mà thua cũng không tránh khỏi, tất nhiên phần thắng nhiều hơn, nhưng rủi ro vẫn luôn đe dọa” - anh Nguyễn Ngọc Toàn ở thôn Hòa Thạnh, xã Ninh Hải, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận bộc bạch.

    Năm 2014, dưới sự hướng dẫn của Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, anh Toàn áp dụng mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng công nghiệp theo Quy phạm VietGAP, diện tích áp dụng 2 ha. Sau khi tập huấn về Quy phạm VietGAP, anh nhận thức được 4 nội dung quan trọng của nuôi theo VietGAP là: An toàn thực phẩm; An toàn dịch bệnh; An toàn môi trường và An sinh xã hội.

    Từ kiến thức đã học, anh Toàn quyết định tuân thủ đúng quy trình và không sử dụng kháng sinh, hóa chất trong suốt quá trình nuôi tôm. Anh cho biết các bước thực hiện như sau:

    Bước 1: Chuẩn bị nước vào ao lắng (ao lót bạt)

    Sau khi đã chuẩn bị ao chu đáo (tháo cạn, rửa sạch bạt, phơi khô, khử trùng), chăng lưới ngăn chim và lưới ngăn cua, còng, cáy… anh lấy nước vào qua túi lọc bằng vải dày nhằm loại bỏ ấu trùng, tôm, cua, còng cáy, cá tạp, côn trùng…(chờ con nước sạch mới lấy), dùng ClO2 để khử trùng nước, liều lượng 2kg/1000m3 nước, quạt nước liên tục trong 1 ngày rồi dùng tiếp BKC, liều lượng 2lít/1000m3 nước, 2 ngày sau dùng vôi (CaCO3) liều lượng 70kg/1000m3, hòa tan té xuống ao để ổn định pH, dùng EDTA liều lượng 5kg/1000m3 nước để khử kim loại nặng và ổn định độ kiềm.

    Bước 2: Gây màu nước tại ao nuôi

    Khi đã đưa nước vào ao nuôi, tiến hành gây màu nước theo công thức 4:2:1 (cứ 4 kg đường mật + 2 kg thóc say + 1 lít E.M), ủ với 40 lít nước, thời gian 4-5 ngày, sau khi đã lên men, té xuống ao để gây màu nước với liều lượng 400 lít/1000m3 nước, té liên tục trong 3 ngày là màu nước lên đẹp, đảm bảo cho tôm phát triển tốt.

    Bước 3: Chọn và thả tôm giống

    + Chọn tôm giống: Thả tôm giống P15, tôm có màu sắc tươi sáng, đều cỡ, khỏe mạnh, đã qua kiểm dịch của cơ quan chuyên môn, tôm âm tính về các bệnh: MBV, đốm trắng, đầu vàng, IMNV, gạn tụy…

    + Thả đúng mùa vụ, chọn thời điểm mát để thả (chiều tối), mật độ 100 con/m2.

    Bước 4: Chăm sóc, quản lý

    + Cho ăn: Chọn loại thức ăn có độ đạm từ 32 - 38%, có nhãn mác rõ ràng, có uy tín, cho ăn 4 đúng (đúng chất lượng, đúng số lượng, đúng thời gian, đúng địa điểm), kích cỡ thức ăn theo độ tuổi của tôm. Ngày cho ăn 4 lần (sáng, gần trưa, đầu giờ chiều, chiều tối), đặc biệt phải chú ý dùng quạt nước 24/24 giờ để tôm đủ oxy. Sau khi nuôi được 3 ngày bắt đầu dùng chế phẩm sinh học E.M, liều lượng 1 lít/1000m3 nước, định kỳ 5 - 7 ngày bón một lần (tùy theo màu nước để quyết định bón E.M, nếu màu nước đậm đặc không bón nữa). Nếu nước xuất hiện nhiều tảo lam thì tiến hành thay nước (1/3 nước trong ao), chú ý phải thay vào ban đêm, sáng hôm sau bón tiếp chế phẩm sinh học E.M. Khi nhiệt độ cao hơn 34 độ C và thấp hơn 24 độ C, giảm 20% thức ăn. Anh Toàn cho biết, chế phẩm sinh học (CPSH) rất hữu ích trong ao nuôi tôm vì CPSH phân hủy hết các chất hữu cơ, thức ăn thừa, khí độc…làm sạch đáy ao, ổn định màu nước, ức chế các vi sinh vật có hại, thúc đẩy các vi sinh vật có lợi phát triển, tăng sức khỏe cho tôm, do đó tôm lớn nhanh, ít bệnh, hiệu quả cao hơn hình thức nuôi khác rất nhiều.

    + Chăm sóc: Trong qúa trình nuôi, anh luôn quan sát màu nước và sức khỏe tôm để xử lý hàng ngày (quyết định lượng thức ăn, chế phẩm sinh học, bổ sung nước…). Thường xuyên bổ sung khoáng vào môi trường nước và thức ăn cho tôm, ngoài ra còn phải cho tôm ăn thêm vitamin C, bổ gan, cho ăn liên tục từ khi tôm được 20 ngày tuổi cho đến lúc thu hoạch. Chi phí sử dụng chế phẩm sinh học và các chất bổ sung khoảng 10.000 đồng/kg tôm thương phẩm.

    + Quản lý môi trường nước: Hàng ngày anh tiến hành đo các yếu tố như nhiệt độ, pH, DO, NH3, độ mặn, độ kiềm để xử lý kịp thời.

    Bước 5: Thu hoạch

    Anh Toàn cho biết, trong suốt quá trình nuôi, anh không sử dụng bất kỳ một loại kháng sinh, hóa chất nào để phòng trị bệnh cho tôm; trong tổng số 6 ha nuôi tôm, anh Toàn áp dụng nuôi theo VietGAP 2 ha, 4 ha không áp dụng VietGAP. Kết quả so sánh cho thấy, ao nuôi theo VietGAP, tôm nhanh lớn, màu sắc đẹp, tỷ lệ sống cao, không bị dịch bệnh, năng suất đạt 15 tấn/ha/vụ; ao nuôi không theo VietGAP, rủi ro nhiều hơn, năng suất bình quân chỉ đạt 10 tấn/ha/vụ. Trong khi đó tôm nuôi theo VietGAP giá bán cao hơn nuôi thường 15.000 đồng/kg (tôm cùng cỡ). Kết quả thu hoạch, với 2ha tôm nuôi theo VietGAP, sau 71 ngày nuôi thu được 30 tấn (tôm cỡ 54 con/kg), giá bán 162.000 đồng/kg, doanh thu 4,86 tỷ đồng, lợi nhuận 2,2 tỷ đồng. Anh nuôi 2 vụ/năm, lợi nhuận thu được 4,4 tỷ đồng/2ha/năm.

    Đến học tập và áp dụng mô hình nuôi tôm theo VietGAP của anh Nguyễn Ngọc Toàn, hộ anh Trần Văn Nam ở thôn Hòa Thạnh (xã Ninh Hải, huyện Ninh Phước) cũng đã thành công với 10ha, sản lượng năm nay đạt 200 tấn tôm thương phẩm. Anh cho biết, áp dụng nuôi theo VietGAP đã giúp hạn chế được dịch bệnh cho tôm và đạt hiệu quả cao ngoài mong đợi.

    Từ kết quả khả quan trên, Chi cục Nuôi trồng thủy sản tỉnh Ninh Thuận đã xây dựng Mô hình nuôi tôm thẻ theo VietGAP và cấp chứng nhận VietGAP cho 4 cơ sở nuôi tôm trên cát với diện tích 20 ha. Giấy chứng nhận có hiệu lực 2 năm và được gia hạn 3 tháng trong thời gian đăng ký cấp lại.

    Source: PGĐ. Kim Văn Tiêu - Trung tâm Khuyến nông Quốc gia
    Theo Trung tâm Khuyến Nông Quốc Gia
  • Phát hiện loài ốc sên mới
    Tiến sĩ Wen-Lung Wu thuộc Trung tâm Nghiên cứu đa dạng sinh học Academia Sinica ở Đài Bắc (Đài Loan) cùng các đồng sự vừa cung cấp những thông tin mô tả về một loài ốc sên hoàn toàn mới.

    Loài ốc sên mới này được đặt tên là Aegista diversifamilia, là loài đặc hữu của Đài Loan, thuộc gia đình ốc Bradybaenidae.

    Aegista diversifamilia được mô tả là loài ốc cỡ trung bình, chiều cao từ đáy đển đỉnh vỏ là 0,97 - 1,68 cm và chiều rộng 1,98 - 3,24 cm.

    Vỏ bóng, mỏng nhưng chắc chắn với màu nâu hạt dẻ hoặc màu vàng nâu cùng những đường xoắn khá hẹp. Trứng có màu trắng và tròn, kích cỡ khoảng 3 mm, mỗi lần đẻ từ 20 - 30 trứng.

    Trong nhiều năm, loài Aegista diversifamilia bị nhầm lẫn với loài Aegista subchinensis, một loài ốc sên phân bố rộng rãi ở Đài Loan.

    Trang Sci-News cho biết dựa trên phân tích hình thái học và cấu trúc phân tử, các nhà khoa học xác nhận rằng Aegista diversifamilia, trong thực tế, là một loài mới.

    Source: Tạ Xuân Quan, Báo Thanh Niên Online
  • Chim hải âu giúp cá mặt trăng làm sạch cơ thể
    Cá mặt trăng (mola mola, hay sunfish) loài động vật khổng lồ có thân hình kỳ quái, thường xuyên bơi sát mặt nước để những con chim hải âu (mòng biển) ăn ký sinh trùng trên cơ thể chúng. Cá mặt trăng được ví như là một chiếc "xe tải nhỏ", nó có thể "chở" tới 40 loại ký sinh trung khác nhau trên cơ thể chúng.

    The mola mola, or sunfish, can grow as big as a pickup truck... and can carry up to 40 kinds of parasites. That's great news for cleaner fish and seagulls, who pick them off the sunfish at a nearby kelp spa.

    www.aquanetviet.org
  • Ốc vòi voi - Vàng của Pudget Sound
    Ốc vòi voi chỉ xuất hiện ở Pyget Sound và eo biển nối Juan de Fuca, ngoài khơi đảo Vancouver và vịnh Humboldt ở Bắc California. Vùng sinh sống nhỏ hẹp nhưng nhu cầu tiêu thụ và giá mặt hàng này luôn tăng chóng mặt suốt 40 năm qua. Đó là lý do ngư dân nơi đây gọi ốc vòi voi là “vàng của Pudget Sound”.

    oc-voi-voi-3.jpg
    Săn ốc vòi voi tại Pudget Sound.

    Năm 1966, một người lặn của Hải quân Mỹ phát hiện những “ống hút” bằng thịt đung đưa dưới đáy vịnh Puget Sound. Từ đó, cả thế giới mới biết đến một loài hải sản hình thù kỳ dị nhưng ngon khó cưỡng. Một con ốc vòi voi có thể sống gần một thế kỷ và giành hết thời gian của nó chôn vùi dưới lớp bùn 3 feet. Sau năm 1970, ốc vòi voi tiến sang thị trường châu Á với mức giá cũng như lượng tiêu thụ luôn ở mức cao kỷ lục, nhất là thị trường Trung Quốc.

    oc-voi-voi-2.jpg
    Ngư dân Pudget Sound cho rằng, săn ốc vòi voi là công việc không đơn giản và dễ chịu.

    Những thợ săn ốc vòi voi thương mại thường được trang bị đồ lặn chống thấm cột với tàu lặn ở phía trên gắn kèm một cặp vòi hơi. Khi chạm tới đáy, thợ lặn không đi được nhiều mà chỉ bò, tìm kiếm những chỗ có ốc. Họ dùng vòi phun, thổi bay cát khỏi con vật này và nhổ nó lên bằng tay.

    oc-voi-voi-1.jpg
    Ốc vòi voi sẽ sớm được "dọn sạch" khỏi vịnh Pudget Sound với tốc độ khai thác như hiện nay.

    Ốc vòi voi được phân loại theo 4 cấp về chất lượng, loại đắt nhất là loại ốc có vòi màu kem vanilla Pháp. Có khoảng 44.000 acre có ốc vòi voi ở Puget Sound, đa số chúng nằm trong nước sâu hơn giới hạn 80 feet. Giống như trong khai thác rừng, quyền khai thác ốc vòi voi được giao cho những người đấu giá cao nhất. Hàng năm, một cuộc đấu giá được tổ chức cho những người lặn ốc vòi voi.

    oc-voi-voi-4.jpg
    Ốc vòi voi có màu kem vallina Pháp luôn có giá rất đắt.

    Ốc vòi voi được đưa sang châu Á với giá cao hơn nên rất hiếm có ở thị trường Mỹ. Marco Moreira, bếp trưởng nhà hàng Tocqueville, New York, nói. “Nếu đặt hàng 4 con, chúng tôi sẽ chỉ nhận được 2 con nếu may mắn”. Moreira nói ông thường phải trả 30 đến 40 USD cho một pound ốc vòi voi ở New York. Ông cho rằng ốc vòi voi xứng với giá của nó. “Nó không có mùi tanh của cá, nó sáng lấp lánh và đậm vị biển, đó là một món ăn tinh tế”. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia trong ngành thủy sản lo ngại trong tương lai không xa, ngư dân Pudget Sound sẽ “dọn sạch” ốc vòi voi.

    >> 95% ốc vòi voi được tiêu thụ ở châu Á; Nhật Bản và Trung Quốc là hai thị trường lớn nhất.

    Source: Nguyệt Minh, Tạp chí Thủy sản