• Cha đẻ nghề nuôi tôm sú I Chiu Liao
    Ai có cơ hội làm việc và tiếp xúc nhiều với thầy I Chiu Liao cũng cảm thấy tự hào và quý mến, dẫu Thầy được coi là người đặc biệt nghiêm khắc.

    Thành công nhờ đam mê

    I Chiu Liao sinh ở Tokyo, Nhật Bản năm 1936 nhưng lớn lên và học tập tại Đài Loan (Trung Quốc). Năm 1960, ông tốt nghiệp cử nhân khoa học, Đại học Đài Loan. 7 năm sau ông sang Nhật học thạc sĩ khoa học; đồng thời học tiếp thêm bằng tiến sĩ ngành nông nghiệp năm 1968. Nhật Bản cũng là mảnh đất nuôi dưỡng đam mê nuôi trồng thủy sản của tiến sĩ I Chiu Liao. Sau khi hoàn thành bằng tiến sĩ, I Chiu Liao công tác tại Viện Nghiên cứu Kurumaebi do tiến sĩ Motosaku Hudinaga đứng đầu. Thời đó, người Nhật vẫn gọi Hudinaga là "cha đẻ nghề nuôi tôm". Ông cũng là người đầu tiên phát triển kỹ thuật nuôi ấu trùng tôm he Nhật Bản (Marsupenaeus japonicus). Khoảng thời gian này, ông làm việc ở Viện Rurumaebi không dài với vai trò nghiên cứu sinh sau tiến sĩ; nhưng sống cạnh một bậc thầy về nghề nuôi tôm, I Chiu Liao đã lĩnh hội được nhiều kiến thức, kinh nghiệm quý báu.  Không lâu sau đó, I Chiu Liao quay lại Đài Loan làm nghiên cứu cho Quỹ phi chính phủ của Mỹ - Rockefeller Foundation và Viện Nghiên cứu thủy sản Đài Loan - TRFI từ tháng 7/1968 tới tháng 8/1969.

    Người Trung Quốc có câu "Thời điểm thích hợp nhất để làm những thứ mình thích mà không phạm lỗi lầm chính là lúc về hưu". Nhưng tiến sĩ I Chiu Liao đã không đợi đến lúc về hưu để theo đuổi đam mê riêng. Sau một năm làm việc cho dự án của Rockefeller, tháng 9/1969 Liao được cử sang làm việc cho TFRI. Từ một cơ sở thô sơ, nghèo nàn cơ sở vật chất, ông bắt đầu xây dựng phòng thí nghiệm hải dương học Tungkang (TML) thành một trung tâm nghiên cứu nuôi trồng thủy sản hiện đại và nổi tiếng thế giới. Năm 1987, Liao trở thành Giám đốc quản lý TFRI. Các nhân viên dưới quyền ông vẫn nói, vị lãnh đạo này làm việc với cường độ rất cao bởi cái đích ông hướng tới là đưa ngành công nghiệp nuôi trồng thủy sản, hải sản và chế biến tại Đài Loan, Đông Nam Á lên tầm cao mới. Sau hơn 30 năm làm việc tại TFRI, I Chiu Liao nghỉ hưu và chuyển sang nghiên cứu sâu rộng trong lĩnh vực thủy sản, không chỉ ở Đài Loan, châu Á mà ra toàn thế giới.

    Tiếp tục sứ mệnh

    Trong suốt quá trình nghiên cứu, Liao đã tạo ra nhiều bước đột phá được coi là "đòn bẩy" đưa ngành nuôi trồng thủy sản châu Á và thế giới tiến xa; trong đó thành tựu nổi trội nhất là việc phát triển kỹ thuật nuôi ấu trùng tôm và kỹ thuật nuôi tôm sú dựa trên khối kiến thức về vi sinh vật, sinh lý, sinh sản và dinh dưỡng.

    %E5%BB%96%E4%B8%80%E4%B9%85.jpg
    Liao đang quan sát cá đối mục giống nuôi tại phòng thí nghiệm TML vào năm 1969. Ảnh: www.taiwantoday.tw


    Những đột phá này đã tạo bước tiến dài trong ngành công nghiệp nuôi tôm ở Đài Loan và Liao được tôn vinh là cha đẻ của nghề nuôi tôm sú bởi chính những nông dân nuôi tôm và các đồng nghiệp trong ngành. Nuôi trồng thủy sản bùng nổ là kết quả tất yếu của sự ra đời hệ thống nuôi thâm canh. Từ đó, Đài Loan bắt đầu xuất hiện trên bản đồ thế giới như một trung tâm sản xuất tôm hàng đầu thế giới những năm 1980. Từ sản lượng thấp 427 tấn năm 1971, Đài Loan trở thành nhà sản xuất tôm hàng đầu thế giới năm 1987, với tổng sản lượng 88.264 tấn. Đài Loan trở thành hình mẫu lý tưởng mà nhiều nước nuôi tôm ở châu Á muốn hướng tới.

    Không chỉ gặt hái thành công khi tiến hành ương nuôi ấu trùng tôm, Liao cũng là người tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu các loại cá khác. Điển hình là quá trình sinh sản nhân tạo cá đối mục (Mugil cephalus). Thành công này tạo tiền đề cho hàng loạt quá trình sinh sản nhân tạo nhiều loại cá biển khác. Năm 1978, Liao bắt đầu cho sinh sản nhân tạo cá măng biển (Chanos chanos), khơi thông những vướng mắc tồn tại bấy lâu về giai đoạn phát triển sớm của loài cá này. Từ đó, ông khởi xướng luôn dự án nghiên cứu nuôi mở rộng ấu trùng cá măng biển để cung cấp con giống cho nông dân Đài Loan và xuất khẩu sang Đông Nam Á. Nhiều loại cá khác sau đó cũng được nghiên cứu và sinh sản nhân tạo thành công như cá giò, cá đù đỏ… Liao cũng theo đuổi việc nghiên cứu cải tạo cá bố mẹ và thực hiện các chương trình nuôi trên biển với nhiều loại cá biển, giáp xác và thân mềm.

    Ngành nuôi tôm ở Đài Loan đã suy giảm nhưng sau nó là sự phát triển, chuyển giao kỹ thuật mạnh mẽ cùng nhiều thành công ở Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam… Với Liao, nghề nuôi tôm không bao giờ ngủ yên, đồng nghĩa sứ mệnh của ông là phải tiếp tục nghiên cứu nhiều hơn, cống hiến nhiều hơn nữa vì sự phát triển nghề nuôi tôm nói riêng và nuôi trồng thủy sản nói chung của toàn thế giới.

    -Năm 1968, Liao đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực phát triển kỹ thuật nuôi tôm sú tại Đài Loan. Hiện nay, ông là Giám đốc Học viện Academia Sinica, một trong những viện nghiên cứu hàng đầu Đài Loan.

    -Năm 2012, ông cũng được Liên minh Nuôi trồng thủy sản Toàn cầu trao Giải thưởng Thành tựu trọn đời.

    -Ngày 9/6/2014, Liao I - Chiu được nhận huân chương "Cha đẻ nghề nuôi tôm sú Đài Loan", tôn vinh đóng góp to lớn của ông trong công cuộc hợp tác chuyển giao công nghệ nuôi tôm sú giữa Đài Loan và Nhật Bản.

    Source: Đan Linh, Tạp chí Thủy sản VN.
  • Ngành tôm Ấn Độ từng bước khắc phục dịch bệnh
    Ấn Độ đã tự chủ được nguồn tôm bố mẹ nhưng mối nguy hại dịch bệnh vẫn đeo bám, khiến ngành tôm nước này không ít phen điêu đứng.

    Bất cẩn

    Nghề nuôi tôm luôn đối mặt nhiều rủi ro bởi tôm là đối tượng nuôi dễ nhiễm bệnh và thường tử vong không rõ nguồn gốc. Nông dân chỉ biết nguyên nhân chung là do dịch bệnh nhưng gốc rễ do an ninh sinh học yếu kém từ trại giống, khâu nuôi và sự bất cẩn khi vận chuyển động vật giữa các vùng nuôi, làm dịch bệnh lây lan và bùng phát. Tuy vậy, nhiều nông dân Ấn Độ vẫn khá cố chấp, cho rằng nếu vật nuôi được kiểm nghiệm và âm tính với các loại virus gây bệnh trên tôm trong danh sách của Tổ chức Thú y Thế giới (OIE) đồng nghĩa có thể thoải mái vận chuyển vật nuôi đó. Sự thật, các loại virus gây bệnh còn rất nhiều, không chỉ gói gọn trong danh sách của OIE. Trước đây, mối liên kết giữa sự xuất hiện một mầm bệnh mới và dịch bệnh cấp tính được xác định chóng vánh. Thông thường khâu này tốn thời gian, có trường hợp dịch bệnh phức tạp phải mất nhiều năm. Khi diện tích nuôi tôm tại Ấn Độ đang ngày càng mở rộng thì thời gian này lại được rút ngắn hơn.

    Vận chuyển vật nuôi giữa các vùng lãnh thổ chỉ nên thực hiện với đối tượng tôm bố mẹ từ các cơ sở nuôi khép kín và không có chế độ thức ăn bằng động vật sống tiềm ẩn dịch bệnh. Đây được coi là những hàng rào bảo vệ, ngăn chặn dịch bệnh lây lan trong quá trình vận chuyển động vật. Tuy vậy, sự lây lan virus Vibrio tại Ấn Độ là minh chứng cho thấy hậu quả sự bất cẩn trong quá trình vận chuyển vật nuôi. Tuy nhiên, cũng vì diện tích nuôi tôm đang mở rộng trên toàn cầu nên sự phụ thuộc vào tôm bố mẹ tự nhiên trở thành vấn đề khó giải quyết.

    RMS - hậu quả tất yếu?

    Nhu cầu tiêu thụ sản phẩm sạch đã làm bùng nổ thị trường toàn cầu với mặt hàng tôm giống sạch bệnh SPF. Ấn Độ cũng đi theo trào lưu này và ồ ạt sản xuất tôm thẻ chân trắng. Nhưng nhiều nông dân nuôi tôm tại Ấn Độ đã không nhận thức được rằng SPF chỉ là một thuật ngữ mang tính tương đối và những vật nuôi dưới nhãn  mác SPF vẫn tiềm ẩn nhiều mầm bệnh.

    Khi xuất hiện dịch bệnh, nông dân đổ lỗi cho trại giống. Nhiều trại giống xem nhẹ biện pháp an ninh sinh học, góp phần làm lây lan nhanh một số loại dịch bệnh. Tuy nhiên, an ninh sinh học yếu kém ở các vùng nuôi trọng điểm mới là nguyên nhân chính dẫn đến dịch bệnh bùng phát và diễn biến ngày càng xấu. Hội chứng "tôm chết liên tiếp" hay RMS xuất hiện trong hoàn cảnh đó. Và nó là hậu quả tất yếu mà người nuôi tôm Ấn Độ phải gánh chịu. Thường sau 60 ngày nuôi, tôm bắt đầu chết. Nhiều nông dân cho biết không có triệu chứng bệnh rõ ràng, ngoại trừ tôm ăn ít hơn và tỷ lệ sống lúc thu hoạch là 40 - 50%. Nhiều nông dân lại đổ lỗi do nuôi và sản xuất TTCT tràn lan.

    Tăng cường an ninh sinh học

    Không chủ quan trước RMS, các nhà quản lý ngành tôm Ấn Độ đã chỉ ra bước phòng chống dịch bệnh đầu tiên là phải xác định chính xác nguồn gốc tôm bố mẹ. Những thông tin này gồm công ty sản xuất, nhập khẩu và người mua hàng cuối cùng. Vật nuôi ở môi trường không khép kín như ao hồ, bể chứa dễ nhiễm bệnh hơn. Để an toàn, cần kiểm nghiệm DNA (hoặc RNA) mầm bệnh giả định sử dụng phản ứng chuỗi trùng hợp (PCR) trên một gia hệ nhằm đảm bảo tôm bố mẹ không mang mầm bệnh. Bước thứ hai, nếu không thể kiểm soát nguồn gốc ấu trùng nauplii hay tôm post thì chúng phải được nuôi dưỡng trong môi trường đảm bảo an ninh sinh học. Bước thứ ba là chuẩn bị ao nuôi sạch, không chứa các  mối nguy hại gây bệnh.

    Khi những nhân tố gây sốc hiện hữu như nồng độ ôxy thấp, amoniac cao, thì sự xuất hiện của các loài sản sinh tảo độc tiêu thụ hết thức ăn, khoáng chất, vitamin có thể tác động lớn tới độ nhạy cảm của vật nuôi trước dịch bệnh. Cơ quan quản lý cũng khuyến cáo người nuôi cần lưu ý kiểm soát những yếu tố này. Nông dân Ấn Độ cũng thu hồi lại lượng thức ăn dư thừa để giảm tỷ lệ tôm chết, giảm mật độ nuôi, sử dụng ao ương để giảm thiểu thả giống trực tiếp, nuôi ghép. RMS chỉ là một hội chứng chưa rõ nguyên nhân. Tuy nhiên, dù là dịch bệnh nào thì giải pháp ngăn ngừa hữu hiệu nhất vẫn là tăng cường đảm bảo an ninh sinh học cho tôm bố mẹ, trong trại giống và trại nuôi, làm giảm các yếu tố gây stress.

    RMS ở Ấn Độ không phải một dịch bệnh quá phức tạp. Báo cáo đầu tiên về dịch bệnh này đã được đưa ra từ tháng 3/2011. Triệu chứng:

    1. Râu tôm bị gãy. Chân đuôi rồi tới toàn thân chuyển sang màu đỏ đậm. Gan tụy dần vàng nhạt, phân thường đổi màu từ trắng sang vàng.

    2. Tôm yếu dần và tử vong, chìm xuống đáy ao.

    3. Thông thường, hiện tượng tôm chết xảy ra trong giai đoạn lột xác ở môi trường nước nồng độ muối thấp.

    Source: Tiến sỹ Stephen Newman, Tạp chí Thủy sản VN.
  • Cộng đồng sinh vật phù du trong hệ thống nuôi tôm độc canh, hệ thống tích hợp Bi...
    Tóm tắt: Các tác giả đã thực hiện một nghiên cứu để đánh giá cộng đồng thực vật phù du trong một hệ thống tích hợp biofloc nuôi tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương, Litopenaeus vannamei, và loài tảo đỏ, Gracilaria birdiae. Mỗi tuần một lần trong 7 tuần, thực vật phù du đã được lấy mẫu ở 3 bể nuôi tôm độc canh và 9 bể của hệ thống tích hợp biofloc nuôi tôm và tảo. Tỉ lệ sống của tôm trên 89% trong thời gian thử nghiệm. Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) và trọng lượng tôm cuối cùng ở hệ thống biofloc tốt hơn hệ thống độc canh.

    Trong các hệ thống nuôi tôm thâm canh, cộng đồng vi khuẩn gồm vi khuẩn, tảo, động vật phù du và các vi sinh vật khác đóng các vai trò quan trọng trong chu kỳ dinh dưỡng, cung cấp các hợp chất dinh dưỡng như các axit béo cần thiết cho sự sống và tốc độ tăng trưởng của tôm.

    Các hệ thống truyền thống kết hợp nuôi tôm và rong biển đã được đề xuất để thúc đẩy quá trình giảm chất thải cũng như vi khuẩn lam (cyanobacteria) và các loài gây hại khác do cạnh tranh các chất dinh dưỡng trong suốt các quá trình quang hợp của rong biển. Các tác giả đã thực hiện một nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm Nuôi trồng Hải sản Bền vững của Khoa Thủy sản và Nuôi trồng Thủy sản thuộc Đại học Nông thôn Liên bang tại Pernambuco ở Recife, Brazil để đánh giá cộng đồng thực vật phù du trong một hệ thống tích hợp biofloc cho nuôi tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương, Litopenaeus vannamei, và tảo đỏ, Gracilaria birdiae.

    18454254953_84a15720e6_o.jpg
    Xác nhận sự đa dạng các loài vi tảo, bao gồm Bacillaria (A), Chaetoceros (B), Nitzschia (C, Heterokontophyta), Aphanothece (D), Oscillatoria (E, Cyanobacteria) và Gymnodinium (F, Dinophyta).

    Thiết lập

    Mỗi tuần một lần trong 7 tuần, thực vật phù du đã được lấy mẫu ở 3 bể nuôi tôm độc canh và 9 bể với hệ thống tích hợp biofloc nuôi tôm thẻ L. vannamei và tảo Gracilaria có trọng lượng ướt lần lượt là 2,5, 5,0 và 7,5 kg/m3.

    Năm ngày trước khi thả tôm và rong biển, nước từ 1 bể ma trận (tổng nitơ amoniac ở mức 0,2 mg/L, nitơ nitrit ở mức 0,3 mg/L, nitơ nitrat 2,2 mg/L, độ kiềm 133,9 mg calcium carbonate/L và tổng chất rắn lơ lửng 133,6 mg/L) được pha trộn và chia đều vào 12 bể nhựa màu đen 40-L cho tới khoảng 25% thể tích bể, 75% thể tích bể còn lại cho thêm nước biển.

    Không thay nước trong suốt thời gian thử nghiệm, ngoại trừ việc bổ sung nước ngọt đã được tẩy trùng bằng chlorin để bù nước thất thoát do bay hơi. Cường độ ánh sáng được duy trì ở mức khoảng 1.000 lux sử dụng đèn huỳnh quang với một thời gian có ánh sáng tự nhiên. Mật đường (40% cacbon hữu cơ) được sử dụng làm nguồn cacbon cho thêm một lần một ngày để duy trì tỷ lệ cacbon:nitơ là 12:1. Vôi tôi được sử dụng để duy trì độ kiềm và pH tương ứng trên 100 mg/L và 7,5.

    Thả giống, lấy mẫu

    Các đơn vị/bể thử nghiệm được thả tôm có trọng lượng ban đầu 0,34 ± 0,01 g ở mật độ 500 con/m3. Tôm được cho ăn hàng ngày thức ăn nuôi tôm thương phẩm có độ đạm 40% vào lúc 8 giờ sáng, giữa trưa và 4 giờ chiều, điều chỉnh lượng cho ăn hàng ngày tùy theo mức ước tính tôm tiêu thụ, tỷ lệ chết và thức ăn thừa.

    Các mẫu sinh khối G. birdiae được thu tại bãi biển Pau Amarelo ở Pernambuco, Brazil, và được bảo quản trong các túi nhựa để phân tích trong phòng thí nghiệm. Nước được rút cạn từ tất cả các mẫu, và cân lại sau khi vật liệu đã được kiểm tra cẩn thận để loại bỏ các sinh vật bám bên ngoài. Rong biển có cấu trúc sinh sản, có dấu hiệu của sự mất sắc tố và hoại tử đã được bỏ đi.

    Rong biển được nuôi trồng trong các mô-đun hình chữ nhật (20,0 x 6,5 x 2,2 cm) bằng nhựa polyvinyl chloride đặt thành hàng ngang trong các bể. Các mô-đun hình chữ nhật cũng được sử dụng trong các bể đối chứng không có rong biển.

    Quá trình hô hấp và quang hợp của cột nước được ghi nhận vào cuối tuần trong suốt thử nghiệm. Đo cường độ gộp và thực quang hợp và hô hấp của cột nước bằng phương pháp chai sáng và tối cổ điển. Nồng độ oxy ban đầu và cuối cùng được đo bằng máy đo oxy.

    Mỗi tuần một lần, thực hiện lấy mẫu dọc bằng cách sử dụng các chai nhựa 600-mL để thu thực vật phù du. Nước lọc qua một lưới hình nón-trụ mắt lỗ 15 μ để chắt được 15 mL, cho mẫu cô đặc hơn 40 lần. Thực vật phù du được cố định bằng formalin, đệm với borax (hàn the) và được bảo quản trong hộp nhựa 10 mL.

    Kết quả

    Tỷ lệ tôm sống đều trên 89% trong suốt thời gian thử nghiệm là 42 ngày. Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) 1,29 và trọng lượng tôm cuối cùng là 4.0 g trong hệ thống tích hợp biofloc cao hơn đáng kể (P <0,05) so với FCR 1,74 và trọng lượng 3,12-g ở nhóm đối chứng.

    Cường độ quang hợp trung bình gộp (0,362- 0,437 mg oxy L/giờ), quang hợp thực (-0,223-0,281 mg oxy L/giờ) và hô hấp (0,416-0,544 mg oxy L/giờ) trong hệ thống nuôi độc canh và tích hợp biofloc được thể hiện ở hình 1. Các giá trị của quang hợp và hô hấp gộp dương, và quang hợp thực âm được quan sát thấy tương tự như các kết quả trong các hệ thống biofloc có ưu thế liên quan đến các vi sinh vật dị dưỡng.

    18887219330_d4469e4302_o.jpg
    Hình 1. Các mức quang hợp và hô hấp trong cột nước của các hệ thống nuôi độc canh và tích hợp biofloc trong suốt một thử nghiệm 42 ngày.

    Khoảng 61 giống thực vật phù du thuộc ngành Heterokontophyta đã được xác định. Mật độ của chúng khoảng 30.000 tế bào/mL trong cả hai nghiệm thức.

    Vi khuẩn lam là những sinh vật phong phú nhất, tiếp theo là Chlorophyta, Heterokontophyta, Euglenophyta và Dinophyta (Hình 2). Tuy nhiên, ưu thế của vi khuẩn lam trong hệ thống tích hợp biofloc ít hơn hệ thống độc canh. Điều này có thể là do sự gia tăng chất hữu cơ và phosphát trong nước, và những lợi thế cạnh tranh của các vi khuẩn lam hơn các nhóm sinh vật phù du khác. Vì vậy, việc kiểm soát vi khuẩn lam đã được đánh giá trong một hệ thống biofloc có thêm tảo cát.

    18887280598_a625554826_o.jpg
    Hình 2. Sự phong phú tương đối của thực vật phù du trong các hệ thống nuôi độc canh và tích hợp biofloc trong suốt thử nghiệm 42 ngày.

    Khoảng 13 giống động vật phù du thuộc ngành Rotifer (luân trùng) và Copepod (giáp xác chân chèo, các nhóm Protozoa (động vật nguyên sinh) và Cladocera (giáp xác râu ngành) đã được xác định. Mật độ của chúng khoảng 1.700/L trong cả hai nghiệm thức.

    Luân trùng là động vật phù du phong phú nhất trong các bể biofloc, tiếp theo là giáp xác chân chèo, động vật nguyên sinh và giáp xác râu ngành (Hình 3). Việc bổ sung cacbon hữu cơ trong các bể nuôi tôm đã tạo thuận lợi cho sự tăng trưởng của cộng đồng động vật phù du, có thể là do sự gia tăng sẵn có chất hữu cơ.

    19069341152_045e7d4711_o.jpg
    Hình 3. Sự phong phú tương đối của động vật phù du trong các hệ thống nuôi độc canh và hợp biofloc tích trong suốt thử nghiệm 42 ngày.

    Mật độ luân trùng là 700-790/L, cao hơn so với ở các nhóm động vật phù du khác, có thể liên quan đến sự thích nghi của các sinh vật này đối với các mức dinh dưỡng và chất rắn cao hơn. Các kết quả tương tự đã được báo cáo đối với các hệ thống biofloc hoặc không thay nước/thay nước tối thiểu.

    Các triển vọng

    Trong hệ thống tích hợp biofloc, có vẻ như các cộng đồng sinh vật phù du đã chuyển đổi, giảm lượng vi khuẩn lam, và tăng Heterokontophyta (tảo dị roi) và Chlorophyta (tảo lục). Mặt khác, động vật nguyên sinh ít hơn, luân trùng và râu ngành tăng lên. Sự thay đổi này có thể đã cải thiện các mức đạm và axit béo không bão hòa đa trong biofloc góp phần làm tốc độ tăng trưởng của tôm tốt hơn trong hệ thống tích hợp.

    Những kết quả này gợi ý nên thực hiện nghiên cứu thêm để đánh giá các thuộc tính sinh hóa và khả năng tiêu hóa của biofloc.

    BioAqua.vn
    Nguồn: Dr. Alfredo Olivera Gálvez, Departamento de Pesca e Aquicultura, Universidade Federal Rural de Pernambuco Rua Dom Manoel de Medeiros, s/n Dois Irmãos CEP: 52171-900, Recife, Pernambuco, Brazil; Clarissa Vilela Figueiredo da Silva Campos Ítala Gabriela Sobral dos Santos Yllana Ferreira Marinho, Departamento de Pesca e Aquicultura, Universidade Federal Rural de Pernambuco; Dr. Luis Vinatea, Departamento de Aquicultura, Universidade Federal de Santa Catarina, Florianópolis, Santa Catarina, Brazil; Luis Otavio Brito Departamento de Assistência Técnica e Extensão Rural Instituto Agronômico de Pernambuco, Recife, Pernambuco, Brazil.
  • Hệ sinh học biển biến đổi mạnh mẽ do nhiệt độ Trái Đất tăng lên
    Các đại dương trên thế giới sẽ phải trải qua những biến đổi mạnh mẽ về đa dạng sinh học, cho dù Liên hợp quốc đạt được mục tiêu hạn chế mức tăng nhiệt độ toàn cầu dưới 2 độ C.

    Nghiên cứu trên được các nhà khoa học tại Trung tâm nghiên cứu khoa học Quốc gia Pháp (CNRS) thực hiện chủ yếu qua việc phân tích những tác động đối với các sinh vật sống ở độ sâu 200m so với mực nước biển, nơi có giá trị nhất trong hệ sinh thái của loài người.

    Theo nghiên cứu, nếu không được ngăn chặn khẩn trương, tình trạng biến đổi khí hậu sẽ dẫn tới một đợt biến động lớn về đa dạng sinh học biển ở quy mô toàn cầu.

    Khi Trái Đất nóng lên, các loài sinh vật biển, chủ yếu là các loài cá, cần môi trường nước mát hơn sẽ phải di cư hoặc sẽ bị tuyệt chủng, và thay vào đó là các loài sinh vật có khả năng thích nghi ở những vùng biển ấm hơn.

    Theo kịch bản lạc quan nhất, nếu nhiệt độ trung bình tăng thêm 1 độ C, sẽ chỉ xuất hiện sự thay đổi nhỏ trong đa dạng sinh học vào năm 2100.

    Tuy nhiên, nếu xu hướng hiện nay tiếp tục, nhiệt độ Trái Đất sẽ tăng thêm 4,8 độ C chỉ trong thế kỷ 21 này, đa dạng sinh học sẽ có sự thay đổi lớn nhất trong vòng 3 triệu năm trở lại đây.

    Cũng theo các nhà khoa học, điều đáng lo ngại hơn là cho dù các nước thành viên Liên hợp quốc đạt được mục tiêu hạn chế nhiệt độ nóng lên của Trái Đất ở mức 2 độ C, thì mức độ biến đổi đa dạng sinh học xảy ra vào năm 2100 vẫn cao gấp ba lần so với sự biến đổi trong một nửa thế kỷ vừa qua.

    Các nhà khoa học cảnh báo nhiệt độ Trái Đất càng tăng cao thì sự biến đổi đa dạng sinh học càng lớn, đặc biệt đối với đa dạng sinh học biển.

    Nghiên cứu của các nhà khoa học tại CNRS là nghiên cứu đầu tiên về sự biến đổi đa dạng sinh học trong ba kỷ nguyên hình thành và phát triển của Trái Đất.

    Trước tiên là thời kỳ ấm áp diễn ra trong giai đoạn giữa kỷ Plioxen cách đây 3 triệu năm. Tiếp sau đó, Trái Đất trải qua một giai đoạn lạnh hơn, với đỉnh điểm là Kỷ Băng hà cách đây 26.500-20.000 năm.

    Giai đoạn thứ ba nằm trong khoảng thời gian từ năm 1960-2013, đó là khi tình trạng Trái Đất nóng lên do tác động của con người trở nên trầm trọng hơn./.

    Source: Vietnam Plus
  • Sinh sản nhân tạo cá nàng hai Chilata ornata
    Việc sinh sản nhân tạo cá nàng hai Chilata ornata (Cá thác lác) sẽ mở ra triển vọng cho người nuôi trong việc chủ động giống chất lượng, giúp tăng giá trị và lợi nhuận.

    Chọn và nuôi vỗ cá bố mẹ

    Cá bố mẹ được chọn từ ao nuôi cá hậu bị của trại  giống. Chọn cá trên 3 năm tuổi trở lên, trọng lượng khoảng 1.000 - 1.200 g, kích thước đồng đều không dị hình.

    Nuôi vỗ trong ao đất rộng khoảng 200 - 1.000 m2 tùy điều kiện của trại giống, độ sâu khoảng 1,2 - 1,5 m, lớp bùn đáy khoảng 5 - 10 cm. Trước khi thả cá vào ao cần được cải tạo kĩ và gây màu nước.

    Mùa vụ nuôi vỗ: Bắt đầu nuôi từ tháng 2, mật độ thả nuôi khoảng 2 - 3 kg/m2, tỷ lệ giữa cá đực và cá cái là 1 : 1. Thức ăn cho cá bố mẹ chủ yếu là cá tạp, cá biển, ốc, tép… mỗi ngày cho ăn 1 lần vào sáng sớm hoặc chiều mát, khẩu phần cho ăn mỗi ngày bằng 5 - 8% trọng lượng thân.

    Sau khi nuôi khoảng 4 tháng kiểm tra cá bố mẹ thấy tuyến sinh dục chín muồi thì có thể cho cá đẻ. Chọn cá cái có vây bụng kéo dài không qua khỏi gốc vây hậu môn, bụng to mềm, kiểm tra trứng thấy có hạt căng tròn, đường kính trứng đạt 2 - 2,2 mm, bề mặt trứng còn rất ít mạch máu hoặc mạch máu đứt đoạn. Chọn cá đực có vây bụng kéo dài qua khỏi gốc vây hậu môn, màu sắc sáng vàng.

    Kỹ thuật sinh sản

    Dụng cụ cho cá đẻ: Là bể composite hoăc bể xi măng. Nước cho cá đẻ phải được lắng qua bể lắng, bơm nước vào nữa bể hoặc 2/3 bể và cho nước chảy vòng nhẹ liên tục.

    Tiêm kích dục tố: Đối với cá cái tiêm liều sơ bộ sử dụng kích dục tố là HCG liều 2.000 - 3.000 UI cho 1 kg cá. Tiêm liều quyết định sau liều sơ bộ khoảng 12 - 24 giờ cho cá cái với liều HCG 6.000 - 7.000 UI/kg cộng thêm 1 viên Domparidon. Đối với cá đực chỉ tiêm 1 liều duy nhất cùng thời gian với liều quyết định và liều lượng bằng 1 nửa liều quyết định cho cá cái. Tiêm ở gốc vây lưng hoặc gốc vây ngực nghiêng 300, mũi tiêm không sâu quá 1 cm. Sau khi tiêm xong cho cá bố mẹ vào bể đẻ, cho nước chảy vòng nhẹ, ở nhiệt độ 25 - 30oC sau thời gian tiêm liều quyết định khoảng 24 - 48 giờ thì thuốc hiệu ứng.

    Thụ tinh nhân tạo: Sau khi kiểm tra thấy trứng rụng, tiến hành cho thụ tinh bằng cách: Vuốt trứng từ 10 - 12 con vào thau nhỏ, mổ bụng cá đực lấy tinh sào (1 con đực dùng để thụ tinh cho 5 con cá cái) nghiền nát rồi cho vào 1 thau chứa riêng, dùng lông gà khấy đều trứng sau đó cho tinh trùng đã được nghiền nát vào và tiếp tục khuấy đều, cho nước sạch vào khấy đều khoảng 30 giây lại thay nước làm khoảng 3 - 4 lần. Tiến hành khử dính bằng dung dịch tamin 1,5 - 4% đảo đều 5 - 10 giây sau đó đổ bổ dung dịch và tiến hành rửa bằng nước sạch khoảng 3 lần, sau đó đem đi ấp. Cá cái thả lại ao nuôi vỗ sau khoảng 5 - 7 tuần có thể cho sinh sản lại.

    Bể ấp: Có thể sử dụng bình vây hoặc bể vòng cho nước chảy tràn nhẹ, mật độ ấp khoảng 4.000 - 6.000 trứng/lít, ở nhiệt độ 26 - 280C sau khi ấp khoảng 140 - 160 giờ thì trứng nở. Sau khi cá nở khoảng 3 - 4 ngày thì chuyển cá đi ương. Tỷ lệ nở đạt khoảng 92%.

    Ương cá bột lên cá giống

    Ao ương cá bột có diện tích khoảng 200 - 500 m2. Sau khi cải tạo ao sạch sẽ, lấy nước vào qua lưới lọc đến khi mực nước đạt khoảng 1 - 1,2 m, xử lý nước bằng chlorine với liều lượng 5 - 7 ppm, sau 4 ngày gây màu nước bằng thức ăn công nghiệp dạng bột 40% đạm với liều lượng 3 - 5 kg/100 m2, sau khi màu nước lên thả cá bột xuống với mật độ khoảng 400 - 500 con/m2. Thức ăn cho cá trong 10 ngày đầu là trứng nước (Moina) với lượng 1 kg trứng nước cho 60.000 cá bột, những ngày tiếp theo cho ăn trùn chỉ trộn với cá tạp băm nhỏ cho đến khi cá được 45 ngày tuổi, mỗi ngày cho ăn 5 - 7% trọng lượng thân, cho cá ăn 2 lần trong ngày. Do cá lúc còn nhỏ có đặc tính ăn thịt lẫn nhau nên ta phân cỡ được càng sớm càng tốt, đỡ hao hụt, sau khi ương cá được 15 - 20 ngày phải tiến hành phân cỡ cá, sau đó khoảng 2 tuần phân cỡ 1 lần nữa. Sau 45 ngày nuôi cá đạt chiều dài trung bình 10 - 12 cm thì ta có thể bán để nuôi cá thịt, tỷ lệ sống ương từ lúc bột lên 45 ngày là khoảng 90 - 95%.

    Source: Thạc sĩ Nguyễn Gia Hiển (Đại học Đồng Tháp). Theo Tạp chí Thủy sản VN.
  • Nuôi trồng thủy sản ở Indonesia: Thành công nhờ quản lý tốt
    Từ những năm 1980, Chính phủ Indonesia đã chú trọng phát triển nuôi trồng thủy sản (NTTS). Nhờ biện pháp quản lý hữu hiệu, ngành công nghiệp này đang ngày càng vững mạnh, khẳng định chỗ đứng trong khu vực và trên thế giới.

    Đa dạng loài nuôi

    NTTS nước ngọt tại Indonesia bắt đầu ghi dấu cuối những năm 70 bằng sản lượng NTTS tăng cao, áp dụng những kỹ thuật tiên tiến giúp sản xuất con giống chất lượng, kết hợp phát triển nguồn thức ăn tổng hợp. Những loài nuôi phổ biến nhất ở Indonesia gồm cá chép, cá da trơn (cá trê, cá tra, basa) và cá rô phi sông Nile. Năm 1978, các ao nuôi thủy sản nước lợ tăng vọt cùng với sự phát triển thành công kỹ thuật cắt cuống mắt để kích thích tôm sinh sản. Số lượng trại giống cũng tăng trưởng vượt bậc. Nhiều hộ kinh tế tư nhân tại tại tỉnh Sumatra và Lampung đã chuyển đổi ao nước lợ thành ao công nghiệp theo mô hình trang trại hạt nhân. Chính phủ cũng ban hành thông tư cấm khai thác thủy sản bằng lưới kéo từ năm 1980 để thúc đẩy hoạt động NTTS nước lợ phát triển.

    6-2_Aquakultur.jpg
    Nuôi cá nước mặn ở Indonesia - Ảnh: Spire

    Trong giai đoạn khởi đầu phát triển NTTS nước lợ, cá măng được lựa chọn làm đối tượng nuôi chủ lực. Sau này, cá măng được nuôi ghép tôm sú, tôm thẻ để gia tăng giá trị kinh tế. Nông dân tiến hành đa dạng hóa giống thủy sản, chuyển sang tôm càng xanh, cá tra, basa, cá chép. Số lượng bè nổi nuôi cá chép sông Catarum tăng nhanh. Ngoài ra, cá rô phi sông Nile cũng được coi là đối tượng nuôi tiềm năng và được tạo điều kiện mở rộng sản xuất. Sau khi dịch bệnh đốm trắng phá hoại ngành tôm sú, Chính phủ Indonesia cũng khuyến khích nông dân chuyển sang TTCT và tôm càng xanh có khả năng kháng bệnh cao. Hai đối tượng này được nuôi khá thành công tại East Java, Lampung và Bali. Indonesia cũng nuôi thử các giống thủy sản ngoại lai như trắm cỏ Trung Quốc, rô phi lai Đài Loan, cá điêu hồng và cá rô phi dòng GIFT Philippines, cá cảnh nước ngọt châu Á và Nam Mỹ. Hoạt động nuôi ngọc trai, hàu, bào ngư cũng đang phát triển mạnh ở Indonesia, hứa hẹn mang lại nhiều nguồn doanh thu ngoại tệ cho đất nước.

    Kiểm dịch chặt chẽ

    Tôm thẻ giống Hawaii xuất hiện lần đầu tại Indonesia năm 2000. Tháng 6/2001 mới được phép nuôi sau khi chính phủ nước này tuyên bố chất lượng con giống tốt. Có thể nói, để đưa ra quyết định cho phép nuôi giống thủy sản mới, Indonesia đã rất cẩn thận và cân nhắc kỹ lưỡng thông qua các chương trình kiểm nghiệm, kiểm dịch khắt khe. Hiện, tôm thẻ là đối tượng nuôi phổ biến tại các tỉnh Lampung, East Java và Bali, sản lượng khoảng 8 - 10 tấn/ha/năm.

    Năm 2006, ngành tôm của Indonesia bị virus gây hoại tử cơ tàn phá. Sau thất bại này, cộng đồng nuôi tôm đã thận trọng trong khâu nhập khẩu tôm xuyên biên giới. Ngay sau đó, Chính phủ Indonesia đã ban hành nghị định quy định kiểm dịch thủy sản quốc gia để bảo vệ sản xuất trong nước trước những mầm bệnh lạ. Biện pháp này đã hạn chế sự lộn xộn trong nhập khẩu tôm bố mẹ, tôm giống; đồng thời giúp Indonesia trở thành nước duy nhất ở châu Á thoát dịch bệnh EMS. Ngoài ra, các trại nuôi giữ đáy ao rất vệ sinh. Trên 90% ao nuôi có hệ thống xả trung tâm. Bùn thải từ xác sinh vật phù du, phân tôm và thức ăn thừa tích tụ ở trung tâm ao có thể dễ dàng và thường xuyên thải vào các kênh đầu ra đơn giản, bằng cách kéo đường ống thẳng đứng đặt ở một góc, tần suất xả 5 hoặc 6 lần/ngày.

    Để hỗ trợ ngành NTTS phát triển, đặc biệt là trong Chương trình NTTS tăng cường, Chính phủ Indonesia chỉ rõ sự thành công của ngành NTTS phụ thuộc vào nguồn cung con giống uy tín, chất lượng. Từ đó, tiến hành thành lập Trung tâm Giống thủy sản Quốc gia (NBC) và Trung tâm Giống thủy sản địa phương (RBC). NBC, RBC tập trung nghiên cứu sâu các đối tượng nuôi được xác định tiềm năng như tôm, cá mú, cá rô phi và tảo biển. Ngoài thu thập giống từ địa phương, RBC, NBC kết hợp chặt chẽ với các viện nghiên cứu, trường đại học để tìm ra phương thức sản xuất tốt nhất. Hai trung tâm này đã sản xuất được tôm bố mẹ (tôm thẻ, tôm xanh Nam Mỹ, tôm he), cá rô phi siêu đực, tôm giống sạch bệnh SPF.

    Với những nỗ lực trong quản lý nhà nước, ý thức cao của các trại nuôi, Indonesia đã vươn lên trở thành một trong những nước sản xuất thủy sản lớn nhất thế giới. Do đó, mục tiêu sản lượng 18 triệu tấn do Bộ Nông nghiệp Indonesia đặt ra trong năm 2015 hoàn toàn nằm trong khả năng của ngành NTTS nước này.

    >> Năm 2014, sản lượng thủy sản nuôi của Indonesia đạt 14,52 triệu tấn. Bộ Nông nghiệp nước này tuyên bố sẽ gia tăng NTTS nước ngọt, mặn, lợ, đẩy năng suất lên 18 triệu tấn trong năm nay. Xuất khẩu tôm năm 2014 đạt 181,3 triệu tấn, trị giá trên 2 tỷ USD. Hiện, quốc gia này đang là nhà cung cấp tôm lớn nhất tại thị trường Mỹ.

    Source: Tuấn Minh, Tạp chí Thủy sản VN
  • Hộ nuôi trồng thủy sản được vay tín chấp tối đa 2 tỉ đồng
    Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 55/2015/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Nghị định mới được cho có nhiều sửa đổi so với cơ chế trong Nghị định 41/2010/NĐ-CP trước đây. Với những thay đổi của nghị định mới, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) hy vọng, tín dụng nông nghiệp sẽ tăng mạnh hơn trong thời gian tới, hỗ trợ tái cơ cấu ngành nông nghiệp.

    Ở nghị định mới, Chính phủ đã có nhiều thay đổi về cơ chế cho vay, mức độ ưu đãi đối với các nhu cầu vay vốn trong lĩnh vực này, cũng như khắc phục những điểm hạn chế thời gian qua. Cụ thể, Nghị định 55 đã bổ sung đối tượng được vay vốn phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn bao gồm cả các đối tượng là cá nhân, hộ gia đình sinh sống trên địa bàn thành phố, thị xã nhưng tham gia sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp.

    Đối tượng được vay vốn nông nghiệp ưu đãi sẽ được mở rộng hơn, mức cho vay cũng được nâng lên gấp 1,5-2 lần. Đặc biệt, hạn mức cho vay tín chấp cũng được tăng mạnh. Cá nhân, hộ gia đình sản xuất - kinh doanh nông nghiệp có thể được vay 50-100 triệu đồng (đối tượng đầu tư trồng cây công nghiệp, cây ăn quả lâu năm được vay tối đa 200 triệu đồng), hộ nuôi trồng thủy sản được vay tín chấp tối đa 2 tỉ đồng. Riêng với liên hiệp HTX nuôi trồng thủy sản hoặc khai thác hải sản xa bờ, các ngân hàng (NH) được phép cho vay tối đa 3 tỉ đồng không cần tài sản thế chấp.

    Bên cạnh đó, Nghị định 55/2015/NĐ-CP cũng khuyến khích tổ chức sản xuất nông nghiệp theo mô hình liên kết, mô hình ứng dụng công nghệ cao bằng việc cho vay không có tài sản bảo đảm lên đến 70-80% giá trị dự án. Đặc biệt, Nghị định 55 quy định cụ thể hơn về nguyên tắc, quy trình xử lý các khoản nợ vay gặp rủi ro do thiên tai, dịch bệnh trên phạm vi rộng hoặc do nguyên nhân khách quan bất khả kháng đối với khách hàng trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Khuyến khích các TCTD đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn thông qua quy định về trích lập dự phòng rủi ro, hỗ trợ nguồn vốn và các công cụ điều hành chính sách tiền tệ khác. Các cá nhân, hộ gia đình vay vốn tại tổ chức tín dụng (TCTD) không phải nộp lệ phí chứng thực hợp đồng thế chấp tài sản tại cơ quan thực hiện chứng thực hợp đồng và lệ phí đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm.

    Thực tế hiện nay, ngoài NH NNPTNT (Agribank) là cho vay đến tận các hộ gia đình ở vùng sâu, vùng xa. Các NHTMCP còn lại, dù có tham gia cho vay nông nghiệp, thì cũng chỉ bám trụ ở những thành phố lớn, thị xã, thị trấn. Bởi việc hạn chế về mạng lưới, cũng như về quy mô, kinh nghiệm.

    Tuy nhiên, bên cạnh đó, cũng không thể không kể đến một số NH hiện cũng đang “nhăm nhe” thâm nhập vào “mảnh đất” này. Cụ thể, sau khi “ông lớn” BIDV sáp nhập thêm NH Phát triển nhà ĐBSCL (MHB) vào hệ thống, nhà băng này đã không giấu tham vọng khi đề ra chiến lược của BIDV trong thời gian tới là đẩy mạnh tín dụng nông nghiệp và nông thôn, đặc biệt tại vùng ĐBSCL. Ngoài ra còn phải kể thêm NHTMCP Bưu Điện Liên Việt (LienVietPostBank) đang nổi lên là nhà băng có mạng lưới giao dịch khá rộng lớn, hiện cũng đang đẩy mạnh tín dụng cho khu vực Tam Nông.

    Tính đến cuối tháng 5.2015 tín dụng lĩnh vực này ước đạt 798.000 tỉ đồng, tăng khoảng 7,17% so với 31.12.2014, chiếm khoảng 19,3% tổng dư nợ cho vay nền kinh tế. Nếu so với cuối năm 2009 dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực này đã tăng gấp 2,5 lần.

    Agribank hiện là NH lớn nhất, dẫn đầu trong hệ thống NH Việt Nam về vốn, tài sản, nguồn nhân lực, mạng lưới hoạt động, số lượng khách hàng. Đến 31.12.2014, Agribank có tổng tài sản 762.869 tỉ đồng; vốn điều lệ 29.605 tỉ đồng; tổng nguồn vốn 690.191 tỉ đồng; tổng dư nợ 605.324 tỉ đồng; đội ngũ cán bộ nhân viên gần 40.000 người; gần 2.300 chi nhánh và phòng giao dịch, chi nhánh Campuchia; quan hệ đại lý với trên 1.000 NH tại gần 100 quốc gia và vùng lãnh thổ; được hàng triệu khách hàng tin tưởng lựa chọn…

    Source: Báo Lao Động
  • Mexico nghiên cứu sử dụng da cá rô phi sản xuất giày cao cấp
    Trung tâm ứng dụng công nghệ sáng tạo (Ciatec) tại bang Guanajuato, Mexico, đã phát triển thành công việc sử dụng da cá rô phi thay cho da các loài bò sát quý hiếm trong sản xuất da giày.

    veja-esplar-tilapia-5.jpg
    Một đôi dày sản xuất bằng da cá rô phi. Ảnh: straatosphere.com

    Francisco Javier Castro, điều phối viên của Ciatec, cho biết các nhà khoa học đã sử dụng da cá rô phi thay thế cho da cá sấu, cự đà, rắn và rùa, nhiều loài trong số này đang có nguy cơ tiệt trủng. Nhiều loài da bò sát quý hiếm từ Colombia và châu Phi được mang sang Mexico để sản xuất giày.

    Theo ông Castro, tại bang Jalisco, Zacatecas và Chiapas, các hợp tác xã thủy sản thải ra mỗi tháng 20 tấn da ca rô phi và với số lượng này có thể thuộc được 1,2 triệu tấm da để sản xuất 54.000 đôi giày./.

    Source: Diệu Hương, Vietnam Plus
    Theo Buenos Aires
  • Bệnh mới trên tôm và cách phòng trị
    Sau dịch bệnh gan tụy cấp, đốm trắng, phân trắng làm người nuôi tôm điêu đứng, nay lại xuất hiện bệnh mới, nếu không phát hiện kịp thời người nuôi tôm có thể bị thiệt hại nặng.

    Bệnh mới, đã phổ biến

    Anh Ba Nguyên ở xã Tân Tiến, huyện Đầm Dơi (Cà Mau) cho biết, vừa qua ao nuôi tôm 2.500 ha của gia đình anh có dấu hiệu lạ. Màu tôm chuyển sang hồng, thân mềm và bỏ ăn. Trước dấu hiệu trên, anh chia sẻ với nhiều người nhưng đến nay vẫn chưa hiểu rõ căn bệnh này.

    Ông Diệp Thành Công, Phó Chủ tịch Hội Thủy sản huyện Đầm Dơi (Cà Mau) cho biết, bệnh này đã phát hiện 2 năm nay và gây thiệt hại rất lớn. Khi phát hiện bệnh khoảng 2 - 3 ngày, tôm có thể chết hàng loạt.

    Huyện đã báo cáo lên trên, đang chờ kết quả nghiên cứu, tuy nhiên vẫn chưa có nguyên nhân chính thức nào được đưa ra. Căn bệnh này khá phổ biến, chiếm khoảng 40% diện tích thả nuôi trên địa bàn huyện.

    Ông Nguyễn Hoàng Sơn, Chủ tịch Hội Thủy sản Cà Mau cho biết, diện tích nuôi tôm công nghiệp của TP Cà Mau đang thả nuôi trên 700 ha và có khoảng 30 - 40% diện tích bị dịch bệnh. Trong đó, dấu hiệu bệnh như trên chiếm phần lớn. Bệnh này khi mới chớm rất khó phát hiện.

    Dấu hiệu bệnh

    Với những nghiên cứu thực tế, ông Nguyễn Ngọc Thạnh, GĐ Cty Mega cho biết: “Qua những dấu hiệu kịp thời phát hiện bệnh, chúng tôi đưa ra phương pháp để giải quyết dứt điểm bệnh này. Tôi gọi đó là bệnh viêm ruột cấp”.

    Dấu hiệu bệnh lý: Trước khi xuất hiện dấu hiệu bệnh lý 3 - 5 ngày, tôm ăn tăng bất thường. Sau đó tôm đột ngột giảm ăn hoặc bỏ ăn. Tôm giảm linh hoạt, một số nổi lên mặt nước và đeo theo những giàn quạt nước, dạt bờ và bắt đầu chết rải rác.

    Bắt tôm quan sát, nếu tôm bị bệnh thì thấy một số triệu chứng sau: Nếu bệnh nhẹ thì đường ruột tôm có màu hơi nâu và không thể hiện màu thức ăn. Nếu nặng thì đường ruột trống và có màu nâu đỏ. Bao tử, gan có màu đỏ. Tôm chậm lớn, giảm cân, thân tôm teo tóp và có màu đỏ hơi hồng. Vỏ tôm mềm.

    Các yếu tố môi trường của ao nuôi khi tôm nhiễm bệnh: Khi tôm bắt đầu nhiễm bệnh thì kiềm bắt đầu tăng cao, có những ao kiềm có thể trên 300 mg/lít (đặc biệt tôm vẫn bị mềm vỏ và không lột xác được).

    Hàm lượng Nitric tăng cao quá mức kiểm soát. Nước có màu xanh đậm và khó điều chỉnh mật độ tảo. Từ những dấu hiệu nhận biết trên, khi phát hiện tôm nhiễm bệnh, người nuôi có thể áp dụng cách xử lý dưới đây để điều trị dứt điểm.

    Phương pháp xử lý

    Khi phát hiện tôm bị nhiễm bệnh viêm ruột cấp, ta cắt cử không cho tôm ăn từ 2 - 5 ngày tùy theo mức độ nặng nhẹ. Kiểm tra tôm có thể bắt mồi lại thì tiến hành điều trị.

    Chú ý, trong thời gian cắt cử không cho ăn, tiến hành hạ hàm lượng Nitric (NO2-) bằng CARBOXY NEW với liều lượng 3 - 6 kg/1.000 m3 tùy theo mức hàm lượng Nitric. Khi bắt đầu điều trị, giảm lượng thức ăn so với bình thường từ 50 - 70%, đồng thời giảm cỡ thức ăn để tăng khả năng nhiều tôm bắt mồi.

    Từ ngày 1 đến ngày thứ 5: Bổ sung các cữ trong ngày. Bổ sung ANTI MOS NEW 10 gr/kg thức ăn. Bổ sung MEGAZYME 5 gr/kg thức ăn. Bổ sung MIX ONE 10 gr/kg thức ăn. Sử dụng MENOL 10 ml/kg thức ăn.

    Từ ngày thứ 6 trở đi: Bổ sung các cữ trong ngày. Bổ sung ANTI MOS NEW 10 gr/kg thức ăn. Bổ sung MEGAZYME 5 gr/kg thức ăn. Bổ sung MEGA VITACALCI 50 gr/kg thức ăn. Bổ sung GROW MIN 3 gr/kg thức ăn.

    Ngay ngày thứ 6 xử lý VIABA theo liều hướng dẫn để tiêu diệt các tác nhân gây bệnh bên ngoài môi trường.

    Ngày thứ 8 xử lý M5 để diệt vi khuẩn cơ hội gây bệnh cho tôm. Khi tôm bắt đầu lột xác đồng đều, đường ruột ổn định, kiềm bắt đầu hạ là tôm sẽ khỏe mạnh bình thường.

    Vừa qua, ao nuôi tôm thẻ chân trắng được gần 30 ngày tuổi của một hộ dân ở xã Hòa Tân, TP.Cà Mau đã bị nhiễm căn bệnh trên, Cty Mega đã đến hợp đồng điều trị, sau 6 ngày điều trị bệnh đã được chặn đứng và thuyên giảm.

    Đến nay, tôm đã được 58 ngày, trọng lượng tôm hiện khoảng 100 con/kg, tôm phát triển tốt, tất cả các dấu hiệu bệnh đã được ngăn chặn.

    Anh Út Lam, ấp Hiệp Vịnh, xã An Trạch, huyện Đông Hải (Bạc Liêu), tôm nuôi được 46 ngày tuổi, có dấu hiệu bị bệnh phân trắng và có dấu hiệu đỏ thân đúng như các dấu hiệu bệnh viêm ruột cấp, anh đã thỏa thuận để kỹ sư của Cty Mega dùng phương pháp và sản phẩm của Cty điều trị tại ao nuôi trên diện tích 1.500 m2.

    Anh Lam cho biết, sau 3 ngày điều trị bệnh đã hết và khỏi hẳn sau 9 ngày. Tuy nhiên, sau đó tôm lớn chậm, môi trường bị ô nhiễm, độ mặn quá cao nên anh đã thu hoạch, cũng may không lỗ. Không có phương pháp điều trị của Cty Mega có thể anh đã mất trắng ao nuôi này.

    >> Bằng phương pháp trên, Cty Mega đã điều trị bệnh tôm cho rất nhiều bà con ở các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Long An và Trà Vinh. Hướng phát triển của Cty Mega sẽ phổ biến phương pháp trên ra các tỉnh vùng ĐBSCL để giúp người nuôi tôm.

    Source: Trần Hiếu, Báo Nông nghiệp VN
  • Phát hiện loài bạch tuộc màu hồng ngộ nghĩnh như đồ chơi
    Một nhà nghiên cứu sinh vật biển ở Mỹ vừa phát hiện giống bạch tuộc mới có màu hồng và đôi mắt to tròn trông rất ngộ nghĩnh. Sinh vật này sống ở vùng biển sâu, khá hiền lành và lớn chỉ khoảng một gang tay, theo Daily Mail.

    Loài bạch tuộc mới được tìm thấy ở vịnh Monterey trên bờ Thái Bình Dương, bang California, miền tây nước Mỹ. Người phát hiện ra nó là nhà nghiên cứu sinh vật biển Stephanie Bush, thuộc Viện Nghiên cứu Hải dương Vịnh Monterey.

    Bề ngang con bạch tuộc khoảng 18 cm, sống ở độ sâu 450 m, giữa các xúc tu có màng giúp nó bơi trong nước, trên đầu còn xuất hiện 2 vây nhỏ rất ngộ nghĩnh.

    il-polpo-rosa-Opisthotheusis-Adorabilis-
    Các nhà khoa học dự định đặt tên cho loài bạch tuộc mới là Opisthotheusis adorabilis - Ảnh: www.improntaunika.it

    Cô Bush được quyền đặt tên cho sinh vật mà mình vừa phát hiện. Nó sẽ được xếp vào chi bạch tuộc Opisthotheusis và có tên chính thức là adorabilis, lấy cảm hứng từ chữ ‘adorable’ trong tiếng Anh có nghĩa là đáng yêu.

    18729006218_d1d12476b4_o.jpg
    Người phát hiện ra loài bạch tuột mới, cô Stephanie Bush, bên hồ cá nhân tạo - Ảnh: Daily Mail

    Các nhà hải dương học đã phát hiện và bắt một số cá thể ở Vịnh Monterey. Họ đang nuôi và chăm sóc chúng trong hồ nhân tạo. Những hồ này có thể tái tạo môi trường sống tương tự như dưới đáy biển sâu 450 m với nhiệt độ nước rất lạnh.

    Một trong những con bạch tuộc đã thích ứng với điều kiện bể nuôi và đang ấp trứng. Các nhà khoa học cho biết trứng của loài bạch tuộc Opisthotheusis Adorabilis này có thể mất 3 năm mới nở. Để chào đón lứa bạch tuộc con, họ có thể phải chăm sóc chúng và chờ thêm ngần ấy thời gian.

    Chi bạch tuộc Opisthoteuthis gồm nhiều loài với kích cỡ, hình dạng và đặc điểm khác nhau. Trong đó, có những loài có hình thù rất kỳ dị và sống sâu dưới đáy đại dương.

    Source: Ngọc Quý, Báo Thanh Niên Online
  • Giải mã vòng tròn bí ẩn dưới đáy biển
    Các nhà khoa học đã giải mã được những vòng tròn bí ẩn dưới đáy biển suốt 20 năm qua, từng được cho là 'tác phẩm' của người ngoài hành tinh.

    Một vòng tròn rộng khoảng 2 m, trông khá phức tạp với nhiều đường trang trí hình học được tìm thấy ở đáy đại dương dọc bờ biển đảo Amami-Ōshima (Nhật Bản) là một trong những vòng tròn bí ẩn nhất hành tinh.

    Theo trang tin của Đại học ESF (Mỹ), giờ đây các nhà khoa học đã khám phá ra bất ngờ đằng sau những chiếc vòng này. Đó không phải do con người, càng không phải là người ngoài hành tinh tạo ra mà là tác phẩm của một nhân vật có chiều dài chỉ 1 tấc, loài cá nóc mới có tên khoa học là Torquigener albomaculosus.

    p02dkkmm.jpg
    Loài cá nóc mới có tên Torquigener albomaculosus, được xác nhận là tác giả của những vòng tròn bí ẩn dưới đại dương - Ảnh: Reuters

    Chính xác hơn, những vòng tròn kỳ lạ này là “tổ ấm” do cá đực dựng nên bằng cách bơi và “quẩy” trên nền cát dưới đáy biển. Mỗi cái tổ chỉ được sử dụng một lần và chủ yếu con đực dùng để thu hút bạn tình của chúng.

    292b36959c915cb747a00adc132220cd.jpg
    “Vết tích” được cho là của người ngoài hành tinh thật ra là tổ của cá nóc - Ảnh: ESF

    Những cái tổ thường có 2 đường viền, và các họa tiết hình học được chia đối xứng tâm. Thiết kế kỳ lạ này không chỉ để cho đẹp mà các khoa học gia sau một thời gian nghiên cứu đã phát hiện các đường gờ và rãnh của vòng tròn được loài cá này tạo ra nhằm giảm sức ảnh hưởng của dòng hải lưu, ngay chính giữa tâm. Điều này bảo vệ trứng của cá nóc trong vùng biển đầy sóng gió và các động vật ăn thịt.

    Source: Hoàng Uy, Báo Thanh Niên Online