• Sign In
  • Create Account
Sign In
Create Account
Vietnam Aquaculture Network
  • News Feed
  • Hot Topics
  • Top Rated
  • Categories
    • Everything (900)
    • Aquaponics (8)
    • Công nghệ Bioflocs (24)
    • Bệnh học thủy sản (162)
    • Nuôi trồng thủy sản (73)
    • Động vật thủy sinh (261)
    • Sản xuất giống thủy sản (74)
    • Dinh dưỡng thủy sản (48)
    • Sinh lý cá và giáp xác (35)
    • Quản lý chất lượng nước (38)
    • Thuốc & hóa chất thủy sản (52)
    • Sự kiện thủy sản (1)
    • Thực vật thủy sinh (19)
    • Khai thác, chế biến, xuất khẩu (36)
    • Chuyên mục khác (64)
  • Members
  • chào các anh chị. lâu quá rồi từ ngày mất cái mật khẩu. hiii
    • By Nguyễn Trọng Ân
    • 0 comments
    • 0 likes
    • 7 hours ago
  • Vắc-xin cho cá: lần đầu tiên được chấp thuận tại Việt Nam
    Cục Thú y (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) vừa công bố một loại vắc-xin bảo vệ cá tra chống lại vi khuẩn Edwardsiella ictaluri. Vắc-xin ALPHA JECT ® Panga 1 được cấp phép tiếp thị kể từ ngày 10/4/2013.

    Ông Kjersti Gravningen (Giám đốc Công ty PHARMAQ Châu Á) chia sẻ: “Chúng tôi rất vui mừng khi giấy phép được thông qua. Đây là bước đột phá cho ngành nuôi trồng thủy sản Việt Nam cũng như cho PHARMAQ. Chúng tôi tin rằng, ALPHA JECT Panga 1 sẽ là công cụ hiệu quả trong việc giảm tổn thất do khuẩn E. ictaluri gây ra và sẽ góp phần cải thiện sức khỏe cũng như gia tăng giá trị của cá”.

    ALPHA JECT Panga 1 là loại vắc-xin dùng qua đường tiêm. Tiêm chủng là một biện pháp quan trọng và cần thiết trong việc kiểm soát các bệnh phổ biến ở cá tra nuôi. Vắc-xin cũng đã được chứng minh có hiệu quả thông qua các cuộc thử nghiệm được PHARMAQ thực hiện trong hai năm qua.

    Ông Morten Nordstad (Giám đốc điều hành của PHARMAQ) chia sẻ: “Hoạt động tại Việt Nam là bước đầu tiên của PHARMAQ trong chiến lược tiếp cận ngành nuôi trồng thủy sản Châu Á. PHARMAQ rất tự hào khi được cấp phép của Việt Nam cho loại vắc xin này. PHARMAQ sẽ tiếp tục hỗ trợ ngành nuôi trồng thủy sản Việt Nam hướng đến các biện pháp tăng cường hơn nữa sức khỏe cho cá.”

    Nguồn: Tổng cục Thủy sản
    • By Admin
    • 1 comment
    • 1 like
    • 10 hours ago
    • Ba Tôm
    • liemtran308 Có ai biết người nuôi cá Tra đánh men vi sinh định kỳ không?


      Tám Lúa đã từng đi tham quan nuôi cá tra ở An Giang rồi:

      - Đến trại giống
      - Đến nơi nuôi cá bột
      - Đến nơi nuôi cá hương

      Chưa thấy ai dùng men vi sinh

      =================

      Giờ thì nghe tiêm vaccine vi khuẩn Edwardsiella ictaluri cho cá, lại thêm màn trình diễn làm giàu cho bọn tài phiệt rồi.

      - Người nuôi phải Chi tiền mua cái dư thừa


      Dù cho thuốc vaccine vi khuẩn Edwardsiella ictaluri tốt nhất trên trần gian....cứ ngồi đó tiêm chủng đi.....ẹc ẹc

      Tám Lúa chờ xem.....nam_cho_sung_rung.....ka ka......có khả thi không cho biết !!!!!!!!!!!!!
      • 0 likes
      • Like
      • Reply
      • 3 hours ago
  • Cá kèn vàng - Yellow trumpetfish
    Cá kèn vàng có tên khoa học là Aulostomus chinensis, thuộc giống Aulostomus, họ Aulostomidae. Cá kèn vàng phân bố nhiều ở Trung Quốc, nên chúng còn có tên là cá kèn vàng Trung Quốc.

    Không giống như những con cá khác, cá kèn vàng có thân rất dài với hàm nhỏ ở đầu. Những con cá này có thể bơi thẳng đứng, chúng thường ngụy trang bằng cách nép mình vào các vật thể thẳng đứng dưới biển như rong biển hay bọt biển và khả năng này được chúng sử dụng như một chiếc bẫy để săn mồi. Chúng có thể trông giống một khúc gỗ bất động với những sinh vật biển bơi xung quanh khác trong nước.

    Chúng có thể sống ở các vùng biển sâu từ 0,5 - 30 m (1,6 - 100 feet) và có thể đạt 40 - 80 cm (15-31 inch) chiều dài. Chúng ăn chủ yếu là cá nhỏ, chẳng hạn như Wrasses và atheriniformes, bằng cách bất ngờ hút con mồi vào miệng của mình.

    © Triệu Thanh Tuấn, www.aquanetviet.org.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 2 likes
    • 13 hours ago
    • Truong Huynh Nhu and
    • Ba Tôm
  • Cơ sở của kỹ thuật kết cụm vi khuẩn (bioflocs technology), nguồn thức ăn bổ sung...
    Sự phát triển của nghề nuôi trồng thủy sản bị hạn chế bởi các áp lực mà nó gây nên cho môi trường do việc đổ các chất thải vào các thủy vực nước và còn bởi sự phụ thuộc của nó vào dầu cá và bột cá. Nuôi thủy sản dựa trên kỹ thuật kết cụm vi khuẩn (BFT: bioflocs technology) là giải pháp cho cả hai vấn đề trên.

    Kỹ thuật này kết hợp việc lấy đi các chất dinh dưỡng trong nước thông qua sự sản xuất sinh khối vi khuẩn và vi khuẩn này sau đó được sử dụng bởi các loài động vật thủy sản như là một nguồn thức ăn bổ sung. Việc nắm vững cơ sở của BFT là rất quan trọng trong việc ứng dụng thực tiễn. Các tế bào trong bông cặn (flocs: cụm vi khuẩn) có lợi thế với dòng chảy bình lưu và vì vậy nó sẽ bám giá thể tốt hơn là tế bào thực vật. Cơ chế này rất thích hợp cho những hệ thống nuôi có cường độ dòng chảy từ thấp cho tới trung bình thường áp dụng cho các hệ thống nuôi thủy sản (0.1–10 W/m3). Vì vậy những nhân tố khác như hàm lượng oxy hòa tan, lựa chọn nguồn Carbon hữu cơ và tốc độ cung cấp của chất hữu cơ có ảnh hưởng lớn đến sự tăng trưởng của flocs. Có thể nói rằng cả hai quá trình: sự liên kết các ion theo lý thuyết DLVO và sự liên kết các phân tử Velcro thông qua khả năng sản xuất các tế bào và kết dính ngoại bào đóng một vai trò quan trọng trong quá trình hình thành bioflocs.

    Các nhân tố khác có liên quan đến sự hình thành bioflocs như thay đổi bề mặt tế bào kết dính do các polyme (hợp chất cao phân tử) ngoại bào hoặc là số lượng tạo thành cũng đáng quan tâm. Sự đo đạc các yếu tố sinh hóa như là lượng protein, poly-β-hydroxybutyrate và các acid béo cũng có thể dung để phân biệt các loại cụm vi khuẩn. Các phương pháp phân tử như là FISH, real-time- PCR và DGGE cũng được dùng để phát hiện những loài vi khuẩn đặc hữu, đánh giá sự sinh trưởng và ổn định cũng như thành phần của quần xã vi khuẩn hợp thành, số lượng các gene họat hóa chuyên biệt. Cuối cùng, trên quan điểm thực tiễn đối với nuôi trồng thủy sản, mối quan tâm là có được nguồn vi khuẩn bổ sung có chất lượng và dinh dưỡng cao, về phương diện này, chiến lược là tạo ra dòng vi khuẩn ưu thế, dễ tiêu hóa cho các động vật thủy sản hoặc là các sản phẩm có nguồn năng lượng cao, dễ dự trữ như là poly-β-hydroxybutyrate.

    Người dịch: Người dịch:Ths. Nguyễn Thị Hồng Vân (nthvan@ctu.edu.vn), TT Ứng dụng và chuyển giao công nghệ TS, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
    Nguồn tin: P. De Schryver, R. Crab, T. Defoirdt, N. Boon, W. Verstraete. 2008. The basics of bio-flocs technology: The added value for aquaculture. Aquaculture 277 (2008) 125–137.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 2 comments
    • 2 likes
    • 13 hours ago
    • Truong Huynh Nhu and
    • Ba Tôm
    • liemtran308 Đọc phía dưới sẽ thấy cụm "the young researcher = nhà nghiên cứu trẻ" tức là Peter de Schryver.


      Những đứa con nít (nhà nghiên cứu trẻ) ngu dốt này Research cái gì....nói phỏng chừng NHẠI theo....biết cái giống gì mà viết....mà diễn tả.....về Biofloc.


      Xem cái link dưới cuối....chúng đọc sách vỡ của người khác rồi tóm lựợc....ngu dốt vẫn là ngu dốt.


      http://aquanetviet.org/post/190211/c-s-c-a-k-thu-t-k-t-c-m-vi-khu-n-bioflocs-technology-ngu-n-th-c

      European Probiotic Association ...
      www.efeedlink.com, 22 Nov 2012 [cached]
      European Probiotic Association awards Peter de Schryver (Press release) eFeedLink - European Probiotic Association awards Peter de Schryver (Press release)
      ...
      European Probiotic Association awards Peter de Schryver
      Press release
      The European Probiotic Association (EPA) awarded the Jules Tournut Probiotics Prize 2012 to Peter de Schryver, from Ghent University, for his innovative research project on the use of microbial products and microorganisms in animal nutrition.
      ...
      Peter de Schryver's project aimed at improving performance and welfare in aquaculture thanks to an original approach: the use of poly-ß- hydroxybutyrate (PHB), which he describes as a microbial energy storage polymer, an important source of energy for bacteria. PHB thus appears to play a prebiotic role in aquatic species, resulting in improved performance and resistance to pathogens.
      By combining this compound to a probiotic bacteria (synbiotic approach), the young researcher showed that both agents had a synergistic effect to protect fish against pathogens. Nevertheless, when asked if this new approach could be applied to various species Peter de Schryver reckons that, "it could certainly work in land farmed animals that have an even more developed digestive system".
      ...
      E. Auclair (EPA Treasurer), Peter de Schryver and L. Dussert (EPA President).
      eFeedLink - Newsroom - Livestock - Home
      www.efeedlink.com [cached]
      European Probiotic Association awards Peter de Schryver (Press release)

      ================================

      http://onlinelibrary.wiley.com/doi/10.1111/j.1574-6941.2010.00926.x/full
      Yiying Liu1,
      Peter De Schryver2,
      Bart Van Delsen1,
      Loïs Maignien2,
      Nico Boon2,
      Patrick Sorgeloos1,
      Willy Verstraete2,
      Peter Bossier1,
      Tom Defoirdt1,2
      • 0 likes
      • Like
      • Reply
      • 13 hours ago
  • Khả năng ức chế quá trình phát sáng sinh học ở Vibrio harveyi bởi enzyme AHL-lac...
    Trong vòng ba thập kỷ trở lại đây, các nhà khoa học đã khám phá ra quá trình “quorum sensing” như là một quá trình giao tiếp ở thế giới vi khuẩn, trong đó việc tổng hợp và dò tìm một loại phân tử tín hiệu thực hiện điều hòa việc biểu hiện gen. Quá trình này được chứng minh là có liên quan trực tiếp đến sự biểu hiện gen mã hóa các yếu tố độc lực ở một số loài vi khuẩn gây bệnh trên động vật thủy sản, ví dụ như Vibrio harveyi, V. parahaemolyticus, Aeromonas hydrophila, Edwardsiella tarda, Edw. ictaluri. Hệ thống quorum sensing ở Vibrio harveyi bao gồm ba đường dẫn khác nhau đều ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát sáng sinh học ở loài vi khuẩn này. Trong đó đường dẫn thứ nhất được điều tiết bởi phân tử AHL (N-acyl homoserine lactone), một loại phân tử tín hiệu quorum sensing rất phổ biến ở nhóm vi khuẩn Gram âm.

    AHL-lactonase là một trong hai loại enzyme có khả năng phân hủy phân tử AHL. Enzyme này được mã hóa bởi gen aiiA hiện diện ở các loài vi khuẩn thuộc nhóm Bacillus spp. Có khá nhiều nghiên cứu trên thế giới trong việc ứng dụng enzyme AHL-lactonase tái tổ hợp như là một biện pháp kiểm soát sinh học đối với các bệnh trên cây trồng có liên quan đến quá trình tiết ra phân tử AHL. Trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản chỉ mới có hai nghiên cứu được công bố gần đây trong việc sử dụng enzyme AHL-lactonase tái tổ hợp để kiểm soát bệnh do Aeromonas hydrophila gây ra trên cá chép (Chen và ctv., 2010; Cao và ctv., 2012).

    Trong nghiên cứu này (nghiên cứu được tài trợ bởi Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia), enzyme AHL-lactonase tái tổ hợp có nguồn gốc từ gen aiiA của chủng Bacillus cereus N26.2 phân lập từ môi trường ao nuôi cá tra, được dòng hóa (clone) và biểu hiện vượt mức ở chủng E. coli BL21(DE3)pLysS. Enzyme AHL-lactonase tái tổ hợp được khảo sát khả năng phân hủy phân tử AHL có liên quan đến độc lực ở V. harveyi và Edw. ictaluri, với mục tiêu lâu dài là nhằm ứng dụng enzyme AHL-lactonase tái tổ hợp trong việc kiểm soát bệnh do hai loài vi khuẩn này gây ra trên tôm sú và cá tra.

    Trong phạm vi bài báo này, chúng tôi trình bày một số kết quả nghiên cứu trong việc khảo sát hoạt tính phân hủy phân tử AHL, thông qua khả năng ức chế quá trình phát sáng sinh học ở vi khuẩn V. harveyi. Hai chủng V. harveyi được sử dụng: chủng hoang dại BB120 hiện diện cả ba đường dẫn quorum sensing, và chủng đột biến JMH606 chỉ hiện diện đường dẫn liên quan đến phân tử AHL. Các chủng V. harveyi được nuôi cấy lắc qua đêm trong môi trường Marine Broth, cho đến khi OD600 đạt giá trị khoảng 1,0 thì tiếp tục được pha loãng 1/5000 trong môi trường Marine Broth và phân bổ vào các giếng của đĩa nhựa 96 giếng, với thể tích 100 µl/giếng. Enzyme AHL-lactonase tái tổ hợp được bổ sung vào giếng ở ba nồng độ (5 µg/ml, 15 µg/ml và 25 µg/ml, 6 lần lập lại/nồng độ). Cường độ phát sáng (luminescence intensity, LI) của các chủng V. harveyi ở nghiệm thức đối chứng (không bổ sung enzyme) và ở các nghiệm thức có bổ sung enzyme AHL-lactonase tái tổ hợp, được đo bằng máy quang phổ Multireader apparatus Infinite M200 liên tục trong 6 giờ, với khoảng cách là 1 giờ.

    Kết quả ở cho thấy pha log của đường cong tăng trưởng của V. harveyi bắt đầu khoảng sau 4 giờ sau khi nuôi cấy. Việc bổ sung enzyme AHL-lactonase tái tổ hợp ở các nồng độ khác nhau đã không ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của V. harveyi, thể hiện qua giá trị OD600 không có sự khác biệt theo thời gian ở các nghiệm thức khác nhau.

    Tuy nhiên, khi đánh giá về cường độ phát sáng thì cho kết quả khác biệt giữa các nghiệm thức. Cường độ phát sáng của chủng hoang dại BB120 đã bị suy giảm một cách có ‎ý nghĩa thống kê (p < 0,05) ngay ở thời điểm sau 2 giờ, khi enzyme AHL-lactonase tái tổ hợp được bổ sung ở nồng độ 15 µg/ml hoặc 25 µg/ml (Đồ thị 2A). Tương tự, cường độ phát sáng của chủng JMH606 cũng bị ức chế có ‎ý nghĩa thống kê (p < 0,05) ở cùng nồng độ của enzyme AHL-lactonase tái tổ hợp, nhưng chậm hơn 1 giờ. Ngoài ra, khả năng ức chế của nồng độ 25 µg/ml có khác biệt có ‎ý nghĩa thống kê so với nồng độ 15 µg/ml.

    Qua các kết quả thí nghiệm đã trình bày, cho thấy enzyme AHL-lactonase tái tổ hợp có nguồn gốc từ gen aiiA của chủng Bacillus cereus N26.2, đã có khả năng ức chế quá trình phát sáng sinh học có liên quan đến độc lực ở loài vi khuẩn gây bệnh Vibrio harveyi. Kết quả này mở ra hướng nghiên cứu sử dụng enzyme AHL-lactonase tái tổ hợp như là liệu pháp sinh học trong việc kiểm soát bệnh do V. harveyi gây ra trên động vật thủy sản, cũng như khả năng mở rộng hướng ứng dụng đối với các loài vi khuẩn gây bệnh khác trong nuôi trồng thủy sản.

    Nguồn: Nguyễn Thị Ngọc Tĩnh. 2012. Khả năng ức chế quá trình phát sáng sinh học ở Vibrio harveyi bởi enzyme AHL-lactonase tái tổ hợp. Viện Nghiên cứu NTTS II.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 1 like
    • 11 hours ago
    • Ba Tôm
  • Thí nghiệm mRT-PCR phát hiện đồng thời sáu loại virus trên tôm he
    Trong nghiên cứu này, phương pháp mRT-PCR được phát triển nhằm phát hiện đồng thời 6 loại vi-rút chính trên tôm bao gồm YHV, WSSV, TSV, HPV, IHHNV và MBV.

    Sáu cặp mồi có thể khuếch đại acid nucleic của vi-rút với kết quả PCR có những kích thước khác nhau. Chúng có tính đặc hiệu cao và không gắn chéo với acid nucleic của các vi-rút khác hay của tôm. Độ nhạy của mRT-PCR là 0.15 pg với IHHNV, 0.15 pg với TSV, 1 pg với HPV, 1.5 pg với MBV, 5 pg với WSSV và 10 pg với YHV. Phương pháp được ứng dụng trên 42 mẫu mô của hậu ấu trùng tôm và gan tụy của tôm sú chọn từ những ao ở miền Trung và Nam Thái Lan từ năm 2002-2005.

    Kết quả phát hiện nhiễm đơn là chủ yếu và WSSV chiếm tần số cao nhất tại thời điểm đó. Nhiễm kép được tìm thấy trong một mẫu. Sự phát triển phương pháp mRT-PCR sẽ giúp ích cho việc phát hiện đồng thời 6 vi-rút trên tôm he và nghề nuôi tôm.

    Người dịch: Lê Hữu Thôi, Bộ môn Sinh học và Bệnh thủy sản, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
    Nguồn tin: Khawsak, P., W. Deesukon, P. Chaivisuthangkura, W. Sukhumsirichart. 2008. Multiplex RT-PCR assay for simultaneous detection of six viruses of penaeid shrimp. Molecular and Cellular Probes 22: 177-183.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 2 likes
    • 18 hours ago
    • Thuy Loan Tran and
    • Ba Tôm
  • Độ độc cấp tính của nitrite lên ấu trùng cua Scylla serrata (Forsskall)
    Tất cả các giai đoạn sớm của ấu trùng cua Scylla serreata được thí nghiệm ở các nghiệm thức với nồng độ nitrite khác nhau (40, 80, 160 mg/L và nghiệm thức đối chứng, không cho nitrite vào) và nồng độ muối khác nhau (25, 30, và 35 g/L).

    Trong các nghiệm thức không phát hiện ảnh hưởng của quá trình tương tác giữa nitrite và muối. Thêm vào đó, giá trị LC50 trong thời gian 96h giảm dần trong tất cả các giai đoạn ấu trùng cua tương ứng với nghiệm thức có nồng độ nitrite tăng dần trong tất cả các nồng độ muối khác nhau. Ngoài ra giá trị LC50 trong 96h của ấu trùng giai đoạn 1 là 41,58, giai đoạn 2 là 63,04, giai đoạn 3 là 25,54, giai đoạn 4 là 29,98 mg/l, giai đoạn 5 là 69,93 mg/L. Kết quả của của thí nghiệm cho thấy ấu trùng càng lớn thì khả năng chịu đựng với độ tố nitrite càng cao. Bên cạnh đó, độc tố nitrite ảnh hưởng đến ấu trùng cua cũng tăng theo thời gian thí nghiệm. Nồng độ muối ở khoảng giữa của nồng độ gây chết thì không ảnh hưởng đến ấu trùng và như các loài giáp xác khác thì nồng độ muối trong khoảng 25 – 35 g/L thì không gây độc cho cua. Dựa trên kết quả LC50 trong 96h và hệ số 0.1 xác định nồng độ an toàn cho ương ấu trùng là 4,16 mg/L đối với ấu trùng giai đoạn 1, 6,30 đối với ấu trùng giai đoạn, 2,55 mg/L đối với ấu trùng giai đoạn 3, 2,99 mg/L đối với ấu trùng giai đoạn 4 và 6.99 mg/L đối với ấu trùng giai đoạn 5.

    Người dịch: Ks. Phạm Trần Nguyên Thảo (ptnthao@ctu.edu.vn), Bộ Môn Sinh học và Bệnh Thủy sản, Khoa Thủy Sản, Đại học Cần Thơ.
    Nguồn tin: Mary Lynn Seneriches-Abiera, Fe Parado-Estepa, and Guadiosa A Gonzales, 2007. Acute toxicity of nitrite to mud crab Scylla serrata (Forsskall) larvae. Aquaculture research, 2007, 38, 1495–1499.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 2 likes
    • 18 hours ago
    • Truong Huynh Nhu and
    • Ba Tôm
  • Nuôi kết hợp tôm chân trắng (Litopenaeus vannamei), Hàu Thái bình dương (Crassos...
    Tính khả thi và những ảnh hưởng đến chất lượng nước, năng suất nuôi kết hợp tôm chân trắng, hàu Thái Bình Dương và nghêu đen trong ao đất được nuôi thí nghiệm trong 9 tháng tại vùng Sorona, tây bắc Mexico. Tôm được nuôi trong hai vụ và động vật thân mềm chỉ nuôi một vụ với 2 mật độ hàu (10 và 16 con/m2), 2 mật độ nghêu (8 và 10 con/m2) và 1 mật độ tôm (30 con/m2).

    Kết quả cho thấy hàm lượng TAN và chlorophyll-a thấp đáng kể trong ao ở mật độ nghêu, hàu cao nhất. Trong vụ 1, sau 19 tuần thả nuôi PL-10 (0,002 g), tôm đạt 12,6-14,88 g. Tỷ lệ sống của tôm 48,3-63,1 % và năng suất 1.866-2.665 kg/ha. Trong vụ 2, trọng lượng, tỷ lệ sống và năng suất của tôm cao hơn so với vụ 1 và tương ứng là 12,23-13,26 g; 61,9-67,3 % và 2.271-2.677 kg/ha. Trọng lượng trung bình của hàu sau 6 tháng nuôi 40,2-50,1 g, tuy nhiên tỷ lệ sống thấp 10,7-16,2 % và năng suất chỉ đạt 746-1.014 kg/ha. Tốc độ phát triển của nghêu đen 13,3-14 g (trong cùng thời gian tương tự) với tỷ lệ sống 45,5-50,2 % và năng suất 617-793 kg/ha.

    Kết quả cho thấy, mô hình nuôi kết hợp 3 loài thủy sản trên mang tính khả thi cao và các loài động vật thân mềm không gây bất lợi cũng như không ảnh hưởng đến năng suất tôm nuôi. Tỷ lệ sống và năng suất của nghêu cho thấy rất triển vọng trong mô hình này tuy nhiên hàu thì ngược lại.

    Người dịch: Ks. Huỳnh Hàn Châu (hhchau@ctu.edu.vn). Bộ môn Kỹ thuật nuôi hải sản, Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ.
    Nguồn tin: Luis R. Martinez-Cordova and Marcel Martinez-Porchas, 2006. Polyculture of Pacific white shrimp, Litopenaeus vannamei, giant oyster, Crassostrea gigas and black clam, Chione fluctifraga in pond Sorona, Mexico. Aquaculture 258: 321-326.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 2 likes
    • 18 hours ago
    • Truong Huynh Nhu and
    • Ba Tôm
  • Ảnh hưởng của ion hydrogen đến tỉ lệ nở của trứng tôm càng xanh, Macrobrachium r...
    Ảnh hưởng của ion Hydrogen đến tỷ lệ nở của trứng tôm càng xanh trong nước mặn đã được nghiên cứu. Trứng tôm càng xanh đã thụ tinh được ấp nhân tạo trong hệ thống chảy tràn. Độ mặn nước ấp trứng thí nghiệm là 12‰, nhiệt độ 30oC, Oxy hòa tan > 5 mg/L, amonia < 0,025 mg/L. Giá trị pH của thí nghiệm thay đổi từ 5–10.

    Kết quả thí nghiệm cho thấy tỷ lệ nở của trứng tôm càng xanh rất dễ bị ảnh hưởng bởi nồng độ ion hydrogen trong nước mặn. Ở độ mặn 12‰ với mức pH bằng 7 cho tỷ lệ nở cao nhất là 92,22±1,72%. Ở mức pH bằng 6,5 và 7,5 tỷ lệ nở giảm mạnh lần lượt là 5,00±3,50% và 13,33±2,98%. Trong khi ở mức pH 5,0, 8,0, 9,0 và 10 thì tỷ lệ nở bằng 0%. Nghiên cứu này cho thấy, môi trường nước sử dụng trong các trại sản xuất giống tôm càng xanh cần được duy trì pH= 7. Điều này sẽ làm tăng tỷ lệ nở và giảm số lượng tôm bố mẹ.

    Người dịch: Ks. Trần Minh Nhứt (tmnhut@ctu.edu.vn) , BM Kỹ Thuật nuôi Hải sản, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
    Nguồn tin: A. T. Law, Y. H. Wong and Ambok Bolong Abol-Munafi,2002. Effect of hydrogen ion on Macrobrachium rosenbergii (de Man) egg hatchability in brackish water. Aquaculture, Volume 214, Number 1, 15 November 2002, pp.247-251(5).
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 1 like
    • 18 hours ago
    • Ba Tôm
  • Những bí ẩn chưa được khám phá của đại dương
    Có nhiều bí ẩn ở đại dương hơn là chúng ta có thể thăm dò, ở đây chỉ là một số ít trong số những bí mật của đại dương mà đến nay các nhà khoa học vẫn chưa tìm ra lời giải đáp.

    Tam giác Bermuda

    Còn gọi là tam giác quỷ. Đây là khu vực thuộc Đại Tây Dương trải rộng 189.518 dặm vuông giữa Melbourne, Florida, Puerto Rico, Bermuda và trở lại Florida, nơi có hàng ngàn con tàu, máy bay và con người biến mất. Mỗi lần điều này xảy ra, không có bằng chứng của dấu hiệu tai họa, nhưng các nhà khoa học khi nghiên cứu hiện tượng này, đã không tìm ra được điều gì để giải thích những bí ẩn. Nhiều người tin có một lực lượng siêu nhiên vượt tầm hiểu biết của chúng ta chịu trách nhiệm cho hơn 1.000 thủy thủ và phi công biến mất. Một số người vẫn từ chối đi vào khu vực này vì sợ rằng họ là nạn nhân biến mất không giải thích được tiếp theo.

    Kim tự tháp dưới nước của Nhật Bản

    Được phát hiện gần quần đảo Ryukyu ở Nhật Bản, đội hình đá trông giống kim tự tháp đã được cộng đồng học giả tranh luận liệu rằng nó là do con người tạo nên hay có thể là phiên bản tại Châu Á của thành phố Atlantis , hay nó là hiện tượng tự nhiên nơi những tảng đá cát bị nứt vỡ theo những đường giả để tạo ra cấu trúc trông giống do con người xây dựng.

    Thành phố Atlantis đã mất

    Suốt nhiều nghìn năm, đã có sự tìm kiếm thành phố chìm mất trong biển. Từ thời Plato, khi thành phố đã mất Atlantis được nêu lên, đã có những tranh luận liệu rằng thành phố này từng tồn tại hay không và một nhóm những nhà nghiên cứu đã đưa ra những bằng chứng về vị trí và tính xác thực về sự tồn tại của nó. Nhưng cho tới ngày nay, không ai có thể đưa ra những bằng chứng có tính kết luận dù cách này hay cách khác. Atlantis được coi là cái nôi của nền văn minh và có tầm quan trọng lớn. Có lẽ một ngày nào đó chúng ta có thể biết sự thật về điều này.

    Sự biến mất của người Maya

    Ở Belize, một đất nước nhỏ bị kẹp giữa Mexico và Guatemala, và đầu tiên do người Anh chiếm hữu, có một hệ thống hang động, nơi là vị trí lặn biển nổi tiếng thế giới, The Blue Hole ( Lỗ Xanh ), được phát hiện. Người Maya tin rằng lối vào hang động là cánh cổng tới cõi âm. Ở đây, bạn có thể bơi vào Hang động của Trinh nữ Pha lê, người thiếu nữ được tin rằng đã được dâng cho vị thần sinh sản và xương còn nằm lại ở đó, được bao bọc bằng pha lê Calcium carbonate, lấp lánh như những mảnh kính nhỏ. Nhưng không ai biết điều gì xảy ra với đất nước Maya. Từ hàng ngàn năm trước cho tới thế kỷ 17, người Maya cai trị một khu vực rộng lớn bao gồm Yucatan, Guatemala, Belize, Honduras và nhiều phần của El Salvador, và sau đó họ biến mất. Đã có rất nhiều lý thuyết được đưa ra về những gì xảy ra cho quốc gia này, nhưng chưa có bằng chứng mang tính kết luận và bí ẩn vẫn còn tồn tại.

    Rùa biển

    Rùa biển sống ở đâu trong những năm đầu của cuộc đời? Sinh vật này đã tồn tại rất lâu và trong vài thập kỷ vừa qua đã được các nhà khoa học nghiên cứu nhiều lần, vì thế chúng ta xem là đã biết được câu trả lời. Tuy nhiên, cũng giống như chính Bà Mẹ Tự Nhiên, vẫn còn nhiều bí ẩn xung quanh loài rùa đáng yêu và xinh đẹp này. Nếu những gì chúng ta biết về rùa biển được tập trung lại, nó sẽ lấn át những gì chúng ta chưa biết. Số lượng của chúng suy giảm đáng kể và mong muốn bảo tồn loài rùa biển là những gì dẫn dắt chúng ta cố phát hiện ra câu trả lời nơi nào những con rùa biển sống trong những năm đầu đời vì đây là giai đoạn chúng dễ bị tổn thương nhất.

    Nguồn: Blog Biển và Người.
    • By Trieu Phu
    • 0 comments
    • 3 likes
    • 1 day ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Ba Tôm and
    • Nguyễn Trọng Ân
  • Kinh nghiệm chọn Tôm Càng Xanh giống
    Chất lượng tôm giống là yếu tố quan trọng có ý nghĩa quyết định đến tỉ lệ hao hụt, năng suất và hiệu quả kinh tế của các mô hình nuôi tôm càng xanh. Nếu con giống tôm càng xanh kém chất lượng như: kích cỡ không đều, bơi lội yếu, bị xây xát hoặc gãy chân do bị đánh bắt hoặc có nhiều mầm bệnh, vỏ mềm do mới lột xác sẽ dẫn đến tỉ lệ hao hụt rất cao ngay từ khi vận chuyển đến địa điểm thả nuôi và sẽ cho năng suất khi thu hoạch kém, dù các yếu tố khác như môi trường nước, thức ăn, phòng bệnh … đều thoả mãn nhu cầu kĩ thuật trong suốt quá trình nuôi.

    Với mục đích hỗ trợ bà con ngư dân trong việc chọn con giống, góp phần hạn chế một trong nhiều nguyên nhân dẫn đến thất bại trong quá trình nuôi tôm càng xanh, chúng tôi xin giới thiệu một số phương pháp để chọn con giống tôm càng xanh bảo đảm chất lượng.

    1. Chọn tôm đều cỡ

    - Tôm giống phải có chiều dài tương đối đều nhau, tiêu chuẩn tôm giống phải từ 3 – 5 cm (trong trường hợp chọn từ tôm post thì tôm post phải được nuôi trong môi trường nước ngọt hoàn toàn, không có tôm bơi ngửa và chiều dài từ 1 – 2 cm).

    - Trong trường hợp trong đàn tôm giống chọn nuôi có một số ít tôm lớn hơn hoặc nhỏ hơn so với chiều dài bình quân của số lượng tôm dự tính chọn nuôi, thì số lượng tôm có kích thước lớn hơn hoặc nhỏ hơn không quá 10 %.

    2. Chọn tôm khỏe

    - Bắt một con tôm giống, khoảng 80 – 100 con cho vào một cái chậu nhựa có nước cao 7 – 10cm, dùng tay quay tròn nước trong chậu. Tôm khoẻ sẽ bơi ngược dòng nước, đuôi xoè hoặc bám vào thành đáy thau. Tôm yếu sẽ bị trôi theo chiều nước hoặc tập trung ở giữa chậu. Ðàn tôm dự tính đước nuôi được coi là tôm khoẻ khi số lượng tôm được coi là tôm khoẻ khi số lượng tôm bị trôi theo chiều nước hoặc tập trung ở giữa chậu chiếm ít hơn 5% trên số lượng tôm kiểm tra.

    - Bà con có thể bắt một ít tôm như trên thả vào dung dịch có pha Formol với nồng độ 100ppm (pha 1ml Formol trong 10 lít nước sạch) sau 2 giờ, số lượng tôm chết ít hơn 5% trên tổng số tôm kiểm tra, chứng tỏ đàn tôm nuôi là khoẻ mạnh.

    - Mặt khác, cần lưu ý một số yếu tố để chọn tôm khoẻ như:

    + Tôm khoẻ phải không bị dị hình, còn đủ chân, càng, râu.
    + Tôm khoẻ lúc nào đôi râu cũng xếp song song nhau, tôm yếu đôi râu hình chữ V.
    + Tôm khoẻ thì dạ dày (nằm phía trên đầu) có chứa thức ăn và đường ruột vẫn còn thức ăn và được biểu hiện là đường chỉ có màu nâu, liền nhau, không bị đứt đoạn chạy dọc theo thân).
    + Tôm khoẻ thì bơi lội nhanh nhẹn và khi tắt sục khí, tôm sẽ bung mình lên khỏi mặt nước.

    3. Chọn tôm không bị bệnh

    - Tôm khoẻ thân thường có màu xanh trong, phần vỏ và phần chân tôm không có những đốm nâu đen hoặc vàng xám, trên thân vỏ và phần đuôi không có chỗ bị ăn mòn hoặc khuyết sâu.

    - Tôm bệnh thường có màu trắng đục, mang có đốm đen, phần vỏ và chân có nhiều chấm nhỏ màu nâu đen hoặc xám vàng và bị đóng rong. Tôm bệnh thường bơi lội và phản ứng chậm.

    - Ngoài ra bà con cần lưu ý:

    + Tôm càng xanh thường dễ lột xác sau khi đánh bắt và thay đổi môi trường nước, do đó nếu mua tôm giống ươn trong ao thì nên vận chuyển tôm giống về địa điểm nuôi thả sau khi kéo lưới thu hoạch và trữ trong vèo lưới có sục khí từ 12 – 14 giờ, để tránh hao hụt trước và sau khi thả tôm.
    + Khi chọn mua tôm giống nên mua những con giống từ những trại tôm và những cơ sở có uy tín và cung ấp con tôm giống có chất lượng để khi mua,b à con không bị thiệt thòi trong quá trình đong đếm và bị ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế do tôm không đạt chất lượng, hao hụt nhiều trong quá trình nuôi dưỡng.

    Nguồn: Sở NN & PTNT Đồng Tháp.
    • By Truong Huynh Nhu
    • 0 comments
    • 2 likes
    • 1 day ago
    • Trieu Thanh Tuan and
    • Ba Tôm
  • Cá mặt cáo - Foxface rabbitfish
    Cá mặt cáo có tên khoa học là Siganus vulpinus, thuộc giống Siganus, họ Siganidae. Cá mặt cáo thường sống ở các rạn san hô ở Tây Thái Bình Dương.

    Chúng có kích thước trung bình với những đường sọc màu rắng và nâu đen trên đầu và phần phía trước. Chúng có cái mũi kéo dài tới miệng nhìn giống như "mặt con cáo" giúp chúng ăn các loại thực vật thân mềm và tảo. Cá mặt cáo là một loài cá cảnh nước mặn phổ biến bởi vẻ đẹp hấp dẫn của nó.

    © Triệu Thanh Tuấn, www.aquanetviet.org.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 3 likes
    • 2 days ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Trieu Phu and
    • Ba Tôm
  • Yuasa - Quê hương của nước tương Nhật Bản
    Giống rượu gin và nước khoáng mà không có chanh, như Hendrix không có cây đàn guitar, sushi sẽ không là sushi nếu không có nước tương Nhật Bản.

    Có thể bạn ít chú ý đến những cái chai nhỏ vui mắt có nắp màu đỏ sáng, nhưng đối với nhiều người, nước tương là cả một ngành kinh doanh nghiêm túc, thậm chí xứng đáng thực hiện một chuyến hành hương về cội nguồn Yuasa của nó.

    Một chuyến du hành trên tàu dài 40 phút từ thành phố Wakayama (100 cây số phía nam Osaka), thị trấn nhỏ Yuasa là quê hương của loại gia vị lên men này.

    Tình cờ đây cũng là nơi tuyệt vời để thăm lại giai đoạn Edo lịch sử của Nhật Bản (1603 – 1868).

    Khoảng 750 năm trước, một nhà sư Nhật bản đến Yuasa sau một chuyến đi đến Trung Hoa, mang theo cùng ông một kỹ năng làm miso mới phát hiện. Nước tương được phát hiện tình cờ – một sản phẩm phụ từ quá trình chế biến miso. Từ đó, Yuasa trở thành trung tâm sản xuất nước tương quan trọng nhất của nước này.

    Mặc dù chỉ là một thị trấn nhỏ chỉ với khoảng chừng 1000 căn nhà, đã có lúc nó chật cứng với hơn 90 cữa hàng nước tương, gần như mười nhà thì có một cữa hàng.

    Ngày nay, toàn bộ thị trấn được bảo vệ theo luật Nhật Bản – toàn bộ trong số 323 căn nhà và 4 biệt thự truyền thống khác (gồm cả 4 hãng đóng chai nước tương) được ghi nhận giá trị văn hóa to lớn của nó.

    Được gọi là “hongawara”, một số trong những căn biệt thự cổ nhất đã tồn tại 400 năm. Nhiều căn vẫn còn những cữa sổ rèm truyền thống và những mái ngói cong.

    Rất thanh bình và yên tĩnh, Yuasa thuộc kiểu thị trấn nơi những cư dân thân thiện thường chuyện trò với hàng xóm và các viện bảo tàng và cửa hàng thường để mở và không cần bảo vệ.

    Du khách có thể mượn xe đạp hay đi bộ để viếng thăm những khu vực lịch sử của thị trấn. Ngoài ngành đóng chai nước tương cổ xưa, có nhiều lăng mộ và những công trình kiến trúc hấp dẫn khác đáng để khoe khoang trên Facebook.

    Nguồn: Blog Biển và Người.
    • By Trieu Phu
    • 0 comments
    • 3 likes
    • 2 days ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Trieu Phu and
    • Ba Tôm
  • Chiêm ngưỡng loài rồng xanh tuyệt đẹp dưới đáy biển
    Loài rồng xanh, còn có tên là ốc sên biển xanh, hay có tên khoa học là Glaucus Atlanticus này trông giống như một chiếc trâm cài áo. Chúng dành phần lớn thời gian cuộc đời mình trôi nổi trong làn nước xanh của Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Thứ khiến chúng có thể nổi được trên mặt nước chính là những quả bóng không khí ở dưới bụng.

    Tuy có cuộc sống khá “nhàn hạ” nhưng loài vật này không hoàn toàn vô hại. Loài động vật không xương sống, chỉ dài 3 cm này lại có một thực đơn “quái đản”. Nó ăn những động vật cực độc như sứa biển, đặc biệt là loài Portugese Man-O’-War, một loài được biết đến với “chiến tích” giết người và để lại những vết chích cực kỳ đau đớn.

    Glaucus có thể nuốt trọn con sứa này mà không hề đau đớn, bởi dưới lớp da của loài này có chứa những chiếc đĩa, có tác dụng như những barrier, và tiết ra những chất nhầy để bảo vệ rồng xanh khỏi tác động của những cú chích này.

    Không chỉ có khả năng tự bảo vệ bản thân khỏi chất độc, nó có thể dự trữ lượng chất độc này để sử dụng sau. Chất độc được “cất” trong những “ngón tay” gắn liền với cơ thể. Rồng xanh có khoảng 84 “ngón tay” như thế.

    Khi không có đủ thức ăn, nó có thể ăn bất cứ thứ gì để tồn tại. Các nhà khoa học cho rằng loài rồng xanh Glaucus này còn độc hơn cả sứa Man-O’-War.

    Loài này có thể đánh lừa kẻ thù bằng cách ngụy trang. Cơ thể chúng có những mảng màu xanh sáng và tối để giúp chúng ngụy trang được khi đang trôi nổi trên những con sóng đại dương.

    Tuy thuộc họ động vật thân mềm nhưng loài này hoàn toàn không hề có vỏ. Nó được phát hiện lần đầu vào thế kỷ 17.

    Rồng xanh là loài lưỡng tính. Khi giao phối, cả 2 con đều đẻ trứng. Chúng đẻ trứng lên những mẩu gỗ trôi trên biển hoặc trên xương của kẻ thù.

    Khi bị đưa lên khỏi mặt nước, loài này có xu hướng cuộn tròn người lại cho đến khi trở lại với môi trường nước.

    Nguồn: kienthuc.net.vn
    • By Trieu Phu
    • 0 comments
    • 3 likes
    • 2 days ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Trieu Phu and
    • Ba Tôm
  • "Cướp biển Caribe" được đặt tên cho tổ tiên của các loài chân khớ...
    Giới khoa học ghi danh tài tử phim "Cướp biển Caribe", Johnny Depp bằng cách lấy tên anh đặt cho một loài sinh vật đã tuyệt chủng.

    Sinh vật này có móng vuốt "nhìn giống như kéo" gợi nhớ tới một trong những vai diễn nổi tiếng nhất của ngôi sao này.

    Loài Kooteninchela Deppi tồn tại từ 505 triệu năm trước. Chúng là tổ tiên của những bọ cạp, tôm hùm ngày nay theo kết quả công bố của nhật báo Cổ sinh học.

    Trong sự nghiệp, Johnny Depp từng vào vai quái nhân có bàn tay làm bằng kéo trong "Edward Scissorhands" (1990) và có sự tương đồng với Kooteninchela.

    Nhà nghiên cứu David Legg, trường đại học London tuyên bố qua một thông cáo hôm 16/5: "Khi lần đầu tiên tôi nhìn thấy móng từ các bản hóa thạch của sinh vật này, tôi đã ngay lập tức nghĩ tới Edward Scissorhands".

    "Và thực tế thì tôi cũng là một fan của Depp, do vậy còn cách nào tuyệt hơn để vinh danh người đàn ông này hơn là làm anh bất tử với tư cách một sinh vật cổ xưa từng du ngoạn biển cả", David Legg nói.

    Từ "chela" trong cái tên Kooteninchela có nghĩa là "móng" hoặc "kéo" trong tiếng Latin. Loài này dài khoảng 4 cm và sống ở vùng biển Canada, đây có lẽ từng là một loại săn mồi và sử dụng móng để kiếm ăn.

    "Kooteninchela deppi đang giúp đỡ các nhà nghiên cứu gắn lại những thông tin về cuộc sống trái đất kỷ Cambri khi mà gần như mọi sinh vật hiện tại đang bắt đầu sản sinh, tiến hóa lúc đó".

    Cũng theo Legg, loài Kooteninchela deppi là tổ tiên của dòng sinh vật chân khớp và có liên quan tới những loài ngày nay như nhện, bọ cạp, rết, côn rùng và cua.

    "Hãy thử tưởng tưởng con tôm mà bạn đang phết mayonnaise (một loại sốt thức ăn) lên, con nhện bò trên tường và cả con ruồi đang bay vào cửa sổ nhà bạn, tất cả đều là hậu duệ của Kooteninchela deppi", David Legg nói.

    Nguồn: Vietnam Plus
    • By Trieu Phu
    • 0 comments
    • 3 likes
    • 2 days ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Trieu Phu and
    • Ba Tôm
  • Sinh sản của các dòng tôm biển (Penaeid) kháng bệnh
    Bệnh dịch là khó khăn chính trong việc nuôi tôm thâm canh. Những điều kiện trong ao nuôi thường là thuận lợi cho bệnh dịch phát triển và hàng loạt các bệnh dịch chưa được biết đến trước đây đã và đang xuất hiện trên tôm gây ra thiệt hại lớn. Một khi việc loại bỏ, trừ tận gốc hoặc kiểm soát môi trường nuôi là rất khó khăn thì vấn đề sinh sản có chọn lọc một số dòng tôm kháng bệnh có lẽ là một lựa chọn hấp dẫn để kiểm soát dịch bệnh.

    Tuy nhiên, tôm kháng bệnh không phải là tôm có thể kháng mọi loại bệnh tật và nó nên được xem xét đối với:

    1. Bệnh gây chết hang loạt
    2. Bệnh không có thuốc chữa trị
    3. Bệnh không liên quan đến di truyền trong bộ gene của tôm

    Tôm biển kháng bệnh mới được gia hóa và thực hiện sinh sản từ giữa những năm 90 cho nên còn rất nhiều hạn chế về kinh nghiệm cho sinh sản nhân tạo ở tôm nói riêng và giáp xác nói chung. Do đó các nguyên tắc và khái niệm sử dụng trong các chương trình sinh sản chọn lọc chủ yếu dựa trên nền tảng kinh nghiệm của các loài khác đã được làm ở ngành thực vật và động vật. Người nuôi tôm thương phẩm hiện tại đã thả giống với dòng tôm được lai tạo có khả năng kháng bệnh virus hội chứng Taura và thu được kết quả khả quan. Hiện nay người ta cũng đang cố gắng phát triển một dòng tôm kháng bệnh đốm trắng và đây là một mục tiêu rất khó nắm bắt. Dòng tôm gốc kháng bệnh Taura được phát triển bằng kỹ thuật chọn giống đại trà đơn giản (Colombia) và ở các thể hệ tiếp theo việc chọn giống dựa trên nguồn gốc cha mẹ (gia đình) được áp dụng cho quần thể, thường là với khỏang 30% tỷ lệ sống.

    Trong quá trình chọn giống, tránh việc lai cận huyết và mất đi sự biến động về di truyền trong bộ gene. Điều này cho thấy rằng khi quần thể gốc có một mức độ kháng bệnh nào đó thì tiếp theo các bước chọn giống sẽ có hiệu quả và khá là đơn giản để cho sinh sản dòng tôm kháng bệnh. Với những bệnh gây tai họa như bệnh đốm trắng (WSSV), tôm nuôi chết đến 98% hoặc hơn thì tần suất kháng bệnh thường thấp và người ta cho rằng về mặt lý thuyết, khả năng kháng bệnh do một gene quy định hơn là đa gene. Tần suất thấp của các gene kháng bệnh trong quần thể cho sinh sản có thể dẫn đến những nút thắt về di truyền và điều này làm giảm đi sự biến động về di truyền trong bộ gene của quần thể. Để có thể duy trì sự biến động này từ một số lượng rất nhỏ cá thể sống sót, một gene khác có thể được đưa vào gene của quần thể để tạo ra khả năng biến động di truyền rộng hơn. Hơn nữa để giảm thiểu khả năng mất đi của tính kháng bệnh theo hình tháp của gene kháng bệnh trên những địa điểm khác nhau của gene (loci) cũng sẽ là một lợi thế.

    Sự biến động về di truyền trong gene kháng bệnh có thể gặp hoặc là trong các quần thể gốc ban đầu hoặc là đồng thời phát sinh do đột biến gene hoặc sự kết hợp của một tổ hợp mới. Với một loài đặc biệt mắn đẻ như tôm, hàng nhiều triệu con có thể được chọn lọc để có tỷ lệ sống và qua đó gene đột biến hoặc là tái tổ hợp có thể được xác định. Khi mà sự biến động về di truyền được khám phá thì phương pháp sinh sản thích hợp nhất sẽ phụ thuộc vào bản chất của cả hai: kháng bệnh và bệnh hoặc là các bệnh mà người nuôi quan tâm.

    Người dịch:Ths. Nguyễn Thị Hồng Vân (nthvan@ctu.edu.vn), TT Ứng dụng và chuyển giao công nghệ TS, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
    Nguồn tin: James Cock, Thomas Gitterle, Marcela Salazar và Morten Rye. Breeding for disease resistance of Penaeid shrimps. 2009. Aquaculture 286 (2009) 1–11.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 2 likes
    • 2 days ago
    • Trieu Phu and
    • Ba Tôm
  • Chiến lược kiểm soát bệnh virus trong sản xuất giống cá hồi, cá bơn và tôm he ...
    Nhóm cá hồi, cá bơn và tôm he là những loài quan trọng trong sản xuất giống, ương và nuôi biển ở Nhật Bản. Bệnh do virus là một trong những nguyên nhân làm ảnh hưởng đến mức độ thành công trong sản xuất giống của các loài trên.

    Các phương pháp hiện đang được sử dụng để hạn chế bệnh do virus là: (i) vệ sinh các dụng cụ sử dụng, (ii) vô trùng dụng cụ ương và xử lý nước thải bằng tia cực tím, ozon và điện phân, (iii) chọn các cá thể bố mẹ sạch bệnh (sử dụng kháng thể đặc hữu chống các mầm bệnh nguy hiểm bằng ELISA và hệ gen virus bằng PCR), (iv) giám sát tình trạng sức khỏe cá ương bằng các phương pháp miễn dịch và sinh học phân tử, (v) bổ sung vi khuẩn vào thức ăn để gián tiếp tạo ra các chất kháng virus, (vi) điều khiển nhiệt độ.

    Với những phương pháp nêu trên, kết quả đã thu được những cá thể cá và tôm khỏe và sạch bệnh. Tuy nhiên, chúng vẫn có khả năng nhiễm bệnh từ mầm bệnh trong nước khi đưa đến vùng nuôi (ao hoặc bè). Những nghiên cứu tiếp theo cần phát triển các loại vaccine hiệu quả cũng như các loại máy tiêm vaccine và các công cụ trong miễn dịch học để đánh giá mức độ ảnh hưởng của vaccine là cần thiết.

    Người dịch: Ts. Phạm Minh Đức (pmduc@ctu.edu.vn) và Ks. Trần Ngọc Tuấn, BM Sinh học và Bệnh Thủy sản, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
    Nguồn tin: Mamoru Yoshimizu. 2009. Control Strategy for Viral Diseases of Salmonid Fish, Flounders and Shrimp at Hatchery and Seed Production Facility in Japan. Fish Pathology Volume 44, Issue 1, Pages 9-13.
    • By Admin
    • 0 comments
    • 2 likes
    • 2 days ago
    • Trieu Phu and
    • Ba Tôm
  • Thành phần sinh hóa của quần thể động vật nổi trong ao đất nước ngọt: Sự liên qu...
    Nghiên cứu này được tiến hành nhằm thu được cơ sở dữ liệu mô tả giá trị dinh dưỡng của quần thể động vật nổi trong môi trường nước ngọt để mở rộng việc sử dụng cho ấu trùng cá và phát triển trong việc ương nuôi cá nước ngọt.

    Thành phần các chất dinh dưỡng của động vật nổi hỗn hợp được thu từ 6 ao đất có bón phân được phân tích protein, lipid, carbohydrate và chất tro và các hàm lượng này biến động lần lượt là 73-79%, 10,79-14,55%, 3-4,79% và 3,20-10,07% được tính dựa trên vật chất khô (DM). Thành phần các amino acid cho thấy có sự hiện diện của tất cả 10 amino cid thiết yếu với hàm lượng methionine thấp. Hàm lượng các acid béo no (SAFA), các acid béo đơn phân tử chưa no (MUFA) và các aid béo đa phân tử chưa no (PUFA) dao động lần lượt từ 64-81%, 7-15% và 6-20% trên tổng các acid béo. Các acid béo có hàm lượng cao hơn đó là SAFA (16:0), MUFA (18:1n-9), PUFA như là acid linoleic (LA 18: 2n-6) và acid linolenic (LNA 18:3n-3). Trong số các Vitamin thì acid ascorbic (15-40,01µg/gDM) ít hơn so với nhu cầu của cá, đặc biệt là cá giai đoạn ấu trùng, vitamin A (13,61-63,95 µg/gDM) và vitamine E (218-348 µg/gDM) thì nhiều hơn so với nhu cầu của cá. Hàm lượng khoáng chất và các yếu tố vi lượng gồm có P, Ca, Fe, Cu, Zn và Mn.

    Biến động theo mùa của tất cả các thành phần sinh hóa đã được đánh giá trong nghiên cứu. Vitamin E cùng có sự tương quan mạnh mẽ (r1 = 0,72; r2 = 0,88; r3 = 0,83; r4 = 0,86; r5 = 0,36 và r6 = 0,88) với sự biến động theo mùa của hàm lượng lipid của động vật nổi ở các ao khác nhau và biến động ngược lại với sự gia tăng nhiệt độ. Hàm lượng enzyme của quần thể động vật nổi hỗn hợp gồm có protease (6,21-7,92 µg leucine/mg protein/h), lipase (25,82-39,1 µg α-naphthol/mg protein/h) và men amylase (100-226,1 µg maltose /mg protein/h), hàm lượng enzyme này có thể được sử dụng như là nguồn enzyme tiêu hóa ngoại sinh cho cá và nhóm shellfish trong suốt giai đoạn phát triển. Không có sự hiện diện của hoạt chất l-gulonolactone γ-oxidase cho thấy động vật nổi không có khả năng tổng hợp acid ascorbic (AA). Trọng lượng khô trung bình của động vật nổi ở các ao khác nhau dao động từ 1,2-4,2 mg/l và các loài động vật nổi xuất hiện trong các ao đó là Moina (Moina dubia); Daphnia (Daphnia lumholtzi, Daphnia carinata); Cyclops (Mesocyclops hyalinus, Mesocyclops leuckarti); Diaptomus (Heliodiaptomus viddus, Neodiaptomus handeli); Rotifer (Brachionus).

    Kết quả này cho thấy thành phần sinh hóa và giá trị dinh dưỡng của động vật nổi đã được xác định về mặc di truyền học và bị ảnh hưởng bởi giai đoạn thành thục và loại thức ăn của chúng. Các dữ liệu này có thể giúp cho việc tham khảo và chuẩn bị công thức thức ăn để tìm ra giá trị dinh dưỡng của động vật nổi nước ngọt trong quá trình ương nuôi cá nước ngọt giai đoạn ấu trùng và tiền trưởng thành.

    Người dịch: Ths. Nguyễn Thị Kim Liên (ntklien@ctu.edu.vn), BM Thủy sinh học ứng dụng, Khoa Thủy Sản, Trường Đại học Cần Thơ.
    Nguồn tin: Gopa Mitra, P.K. Mukhopadhyay, S. Ayyappan. 2007. Biochemical composition of zooplankton community grown in freshwater earthen ponds: Nutritional implication in nursery rearing of fish larvae and early juveniles. Aquaculture, Volume 272, Issues 1-4, 26 November 2007, Pages 346-360.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 2 likes
    • 2 days ago
    • Trieu Phu and
    • Ba Tôm
  • Kiểm soát tỉ lệ C/N và việc thêm giá thể cho tảo bám phát triển nhằm nâng cao sả...
    Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của việc kiểm soát tỷ lệ C/N trong các ao nuôi tôm càng có và không có giá thể cho tảo bám phát triển lên năng suất tôm nuôi.

    Các tỷ lệ C/N là 10, 15 và 20 được bố trí trong các ao nuôi có diện tích 40m2 (có và không có giá thể cho tảo bám phát triển) và được thả nuôi tôm càng (trọng lượng 5.023±0.02 g) với mật độ 2 con/m2. Các nghiệm thức được kết hợp nhiều tỷ lệ C/N khác nhau với việc để và không để giá thể được ký hiệu tắt là ‘CN10’, ‘CN15’, ‘CN20’, ‘CN10+P’, ‘CN15+P’ and ‘CN20+P’, với P thể hiện là ao có để giá thể. Trong quá trình nuôi, một loại thức ăn viên địa phương có hàm lượng protein thô là 30% và tỷ lệ C/N là 10 được sử dụng làm thức ăn cho tôm. Bột khoai mì được sử dụng như là nguồn Carbonhydrate để điều chỉnh tỷ lệ C/N và nó được rải vào ao riêng biệt với thức ăn của tôm.

    Tăng tỷ lệ C/N từ 10 lên 20 sẽ làm giảm lượng TAN, NO2-N, NO3-N trong môi trường ao nuôi và tổng đạm Kjeldahl (TKN) trong nền đáy ao nuôi (P<0.001). Việc thả thêm giá thể vào ao chỉ ảnh hưởng tới hàm lượng NO2-N trong nước (P<0.001). Tăng tỷ lệ C/N kéo theo việc gia tăng quần thể vi khuẩn dị dưỡng (THB) trong nước, nền đáy và tảo bám (P<0.01). Nó cũng làm tăng vật chất hữu cơ khô (DM), tro không từ vật chất hữu cơ khô (AFDM) và hàm lượng Chlorophyla của tảo bám (P<0.001). Tốc độ tăng trưởng đặc biệt (SGR) thấp nhất, hệ số thức ăn (FCR) cao nhất và tỷ lệ sử dụng protein thấp nhất (PFR) được ghi nhận ở nghiệm thức CN10 (P<0.05).

    Việc thêm vào giá thể không ảnh hưởng đến kích thước của tôm khi thu hoạch (P>0.05) nhưng đã cải thiện tỷ lệ sống từ 62.8% lên 72% (P<0.001). Việc tăng tỷ lệ C/N từ 10 lên 20 làm tăng năng suất thực (net yield) lên 40% và thả thêm giá thể làm tăng thêm 23%. Sự kết hợp giữa các tỷ lệ C/N và thả giá thể khiến năng suất thực tăng lên thêm 75% (từ 309 (CN10) lên 540 (CN20+P)kg/ha sau 120 ngày nuôi). 75% năng suất tăng thêm này xuất phát từ: (1) hàm lượng N vô cơ thấp hơn và (2) mật độ vi khuẩn dị dưỡng cao hơn đã cung cấp một nguồn protein từ các tế bào vi khuẩn này làm tăng năng suất tôm, cuối cùng (3) năng suất và chất lượng tảo bám được cải thiện.

    Người dịch:Ths. Nguyễn Thị Hồng Vân (nthvan@ctu.edu.vn), TT Ứng dụng và chuyển giao công nghệ TS, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
    Nguồn tin: M. Asaduzzaman, M.A. Wahab, M.C.J. Verdegem, S. Huque, M.A. Salam, M.E. Azim. 2008. C/N ratio control and substrate addition for periphyton development jointly enhance freshwater prawn Macrobrachium rosenbergii production in ponds. Aquaculture 280 (2008) 117–123.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 1 like
    • 2 days ago
    • Trieu Phu
  • Ảnh hưởng của độ mặn lên sinh sản và tỉ lệ sống của Copepod, Pseudodiaptomus ann...
    Ảnh hưởng của nồng độ muối lên sinh sản, vòng đời, tỉ lệ sống và ngưỡng chịu đựng việc sốc độ mặn của copepoda Pseudodiaptomus annandalei Sewell được nghiên cứu dưới điều kiện kiểm soát của phòng thí nghiệm. Tất cả các cá thể đều được cho ăn tảo Platymonas subcordiformis.

    Tổng số con non có nhiều nhất ở độ mặn 15‰, tiếp đến là 10‰ trong 7 độ mặn thí nghiệm trong suốt 10 ngày. Tỉ lệ sống của ấu trùng đạt cao nhất là 98,33% ở độ mặn 15‰ khi ấu trùng được nuôi cho đến khi có một vài con trưởng thành ở 4 độ mặn (5,10,15 và 20‰). Sức sinh sản tổng cộng cao nhất là 334 ± 171.6 ấu trùng/con cái và số con non trung bình mỗi ngày là 22 ± 6.4 ấu trùng/con cái thu được ở độ mặn 15 ‰ trong suốt giai đoạn thí nghiệm. Độ mặn tốt nhất cho sinh sản và tỉ lệ sống của ấu trùng là 15 ‰. Sức chịu đựng độ mặn của con cái tốt hơn con đực thông qua việc so sánh tỉ lệ sống ở nhiều độ mặn gây sốc và khoảng chịu đựng độ mặn này ở con cái và con đực lần lượt là 4,5–40,5 ‰ và 12,9–38,7 ‰ trong suốt 48 giờ.

    Người dịch: Ths. Dương Thị Hoàng Oanh (hoangoanh@ctu.edu.vn), BM Thủy sinh học ứng dụng, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
    Nguồn tin: Qingxiang Chena, Junqing Shenga, Qiang Lina, Yongli Gaoa and Junyi Lv. Aquaculture, Volume 258, Issues 1-4, 31 August 2006, Pages 575-582.
    • By Admin
    • 0 comments
    • 3 likes
    • 2 days ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Ba Tôm and
    • Nguyễn Trọng Ân
  • Kỳ giông Axolotl trở thành ngôi sao ở bể cá Úc
    Loài kỳ giông Axolotl salamander có lý do để mỉm cười sau khi nó được du khách chào đón như một ngôi sao ở công viên Aquaria Fun ở Úc. Không giống họ hàng của mình, nó không bị kiệt sức trốn tránh ô nhiễm ở quê nhà Mexico hoặc bị bắt làm thí nghiệm ở các phòng lab nơi chúng bị săn đuổi sát sao để làm mẫu vật nghiên cứu.

    Chúng hầu như bị quét sạch khỏi tự nhiên vì ô nhiễm và vì chúng được xem là một món đặc sản ở nhiều nơi. Sách đỏ IUCN liệt kê chỉ còn hai hồ được biết là có những cá thể loài này.

    Trong điều kiện nuôi nhốt, chúng cũng nổi tiếng – nhưng không giống cá thể may mắn này – chúng chủ yếu được nuôi ở những phòng thí nghiệm nơi chúng được khen ngợi là có khả năng mọc lại các chi mới.

    Điều được xem là một sự ngạc nhiên thú vị về mặt y khoa khi các nhà khoa học phát hiện Axolotl không những có khả năng mọc lại đầy đủ các chi mà còn các cơ quan bên trong, gồm cả xương sống và một phần bộ não. Các nhà khoa học tin rằng loài này có thể nắm giữ chìa khóa của việc tái tạo tay chân con người.

    Loài Axolotl này không phải là loài động vật duy nhất thích nở một nụ cười. Với nụ cười kỳ dị và thân thể mờ đục, con cá đuối lưng gai có nụ cười rất ma quái. Bộ phận cứ ngỡ là mắt hóa ra là khe mang, dùng để thở. Mắt thật của nó là trên đỉnh thân. Cá đuối lưng gai là loài rất thường thấy ở các vùng nước Anh Quốc và có thể dài đến 4 feet. Lưng chúng phủ đầy gai.

    Nguồn: Viết bỡi Tara Brady, Bản tiếng Việt Blog Biển và Người.
    • By Trieu Phu
    • 0 comments
    • 3 likes
    • 3 days ago
    • Thuy Loan Tran
    • Trieu Phu and
    • Ba Tôm
  • Cá nóc hòm sừng đuôi dài - Longhorn Cowfish
    Cá nóc hòm sừng đuôi dài có tên khoa học là Lactoria cornuta, thuộc giống Lactoria, họ cá Ostraciidae. Cá nóc hòm sừng đuôi dài phân bố rộng ở các vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới như Hồng Hải, Đông Phi, đông Indonesia, phía Bắc đến phía Nam Nhật Bản, miền nam Hàn Quốc, phía nam Australia và Đảo Lord Howe.

    Con cá này có tên như vậy vì nó giống một con trâu có gai dài nhô ra trên đầu (chúng còn có tên là hải ngưu). Chiếc gai này có thể mọc lại khi bị gãy. Chúng có thể có màu khác và thường có những chấm trắng trên thân. Thịt nó có độc và biến chúng trở thành một loài cá không hấp dẫn mấy với những kẻ đi săn. Chúng là những tay bơi chậm và dễ dàng bị bắt và nổi tiếng là tạo ra âm thanh lạ thường.

    Môi trường sống chính của nó là các rạn san hô, trên những bãi đá ngầm. Cá lớn thường sống đơn độc quanh các rạn san hô, trong khi con nhỏ thường sống thành đàn tập trung ở các rạn san hô Acropora. Cá nóc hòm sừng đuôi dài thường sống ở độ sâu là 3,3-148 ft (1-45 m, có thể lên đến 100 m). Chúng có thể dài đến 20 inch. Cá nóc hòm sừng đuôi dài hiện đang được nuôi phổ biến làm cảnh.

    © Triệu Thanh Tuấn, www.aquanetviet.org.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 4 likes
    • 3 days ago
    • Admin
    • Thuy Loan Tran
    • Trieu Phu and
    • 1 other
  • Kỹ thuật nuôi tép kiểng
    Trào lưu chơi tép kiểng tại TP Hồ Chí Minh đang “thịnh”. Đặc biệt là những loại tép ngoại với những cái tên rất “oách” như: Reb cherry Shrimp, Caridina sp Tiger (tép cọp), Crytal Red Shrimp (tép ong đỏ), tép Sulawesi…

    1. Thú chơi tép kiểng giá ngàn đô

    Đáng nói là giá của những loại tép này cũng không “dễ xài”, từ vài chục USD đến hơn 100 USD. Đặc biệt, loại tép ong đỏ chỉ bằng đầu tăm nhưng có giá đến 1.000 USD/con. Theo anh Lê Đức Huy (quận Phú Nhuận) người chơi tép lâu năm thì loại tép này xuất xứ từ Nhật Bản, có màu trắng, trên đỉnh đầu có chấm màu đỏ, giống biểu tượng của lá cờ Nhật nên tại nước này, loại tép ong đỏ rất quý hiếm và được ưa chuộng. Đây cũng là loại tép khó nuôi vì đòi hỏi môi trường nước tinh khiết, giống của nó đột biến nên khả năng thích ứng với môi trường kém, sinh sản khó nên giá thành rất cao.

    2. Thể tích bể nuôi tép kiểng

    - Thể tích cần của bể nuôi tép chỉ đóng vai trò thứ yếu. Ngay cả với bể 12 L người ta có thể nuôi được tốt một bầy tép nhỏ.

    - Tất nhiên ở những bể lớn hơn sẽ giảm thiểu hậu quả những sai phạm hay xẩy ra: cho ăn quá nhiều, thay nước không đều đặn, vì thế thể tích nhỏ nhất được khuyên cho bể nuôi tép từ 54 L trở lên, cũng là kích thước phổ biến dễ tìm mua của bể làm sẵn trên thị trường. Trở lên trên không có giới hạn tối đa, người viết cũng thỉnh thoảng mơ tưởng đến bể có dung tích lít… bốn năm số, nhưng đó lại là chuyện khác rồi.

    3. Nền bể nuôi tép kiểng

    - Dù bằng cát hay sỏi, đen hay trắng, mỗi người có thể thiết kế theo ý mình. Tép kiểng không “quan tâm” đến nhiều lắm. Tuy nhiên cần chú ý không dùng nền đá sỏi quá lớn, thức ăn thừa có thể lọt xuống bên dưới, hư thối làm ô nhiễm nước.

    - Thêm một điểm nhỏ: trước khi chọn nền cho bể, cần biết sẽ nuôi loại tép kiểng nào để chọn màu. Tép kiểng đỏ trên nền sáng thường không nổi bằng nền có màu sẫm hơn.

    4. Lũa trong bể nuôi tép kiểng

    Nếu có thể, bố trí vài khúc gỗ lũa cho bể. Không phải là bắt buộc nhưng tép kiểng rất thích trèo lên lũa tìm tòi thức ăn bám lên. Cũng cần chú ý không dùng gỗ lũa chất lượng xấu, còn thải ra nhiều tạp chất, sẽ ảnh hưởng đến tép kiểng.

    5. Cây thủy sinh

    - Cũng có thể chọn theo ý thích. Đặc biệt nên bố trí những góc trồng Moos bám trên lũa (Javamoos, Vesicularia dubyana, Pellia, Monosolenium tenerum), đây là những nơi rút vào cho tép kiểng khi thay vỏ và là nơi sống, tìm thức ăn an toàn cho tép kiểng con.

    - Trong bể quá ít cây, đôi khi tép kiểng không tìm được nơi trú ẩn cho quá trình thay vỏ. Trong trường hợp xấu, chúng sẽ bị chính đồng loại tấn công do vỏ còn mềm, tép kiểng còn yếu. Đó cũng là lý do khi tép kiểng rút lui lên tầng trên của bể, bám bất động ở điểm nào đó vì không tìm được nơi trú ẩn trong quá trình thay vỏ.

    - Khi mua, chọn tép kiểng, không để bị choáng trước những cái tên mỹ miều hấp dẫn của người bán đặt cho. Cũng vì lý do tép là lĩnh vực chưa được tìm hiểu, nghiên cứu cặn kẽ nên những nơi nhập, buôn bán tép lớn hay dễ dãi với tên gọi. Đã có nơi bán loại Crystal Cherry? Xui xẻo cho người mua chưa có thông tin cơ bản ví dụ mua lầm Red Fire(Cherry) dưới tên Red Crystal với giá đắt hơn thực sự.

    6. Chọn mua tép kiểng

    - Người mua cần chú ý đến biểu hiện khỏe mạnh của tép, cơ động bơi tới lui trong bể và chân trước nhặt tìm thức ăn không ngừng.

    - Bộ giáp cần mầu sắc đều đặn, không có điểm lạ như chấm nâu đỏ hoặc mầu lạ không đặc trưng của loại tép đó, thủng lỗ hoặc nổi bọc, mụn.

    - Người bán càng vất vả, mồ hôi mồ kê chảy càng nhiều, mặt mũi càng đỏ tưng bừng bao nhiêu khi vớt tép bán càng tốt. Tép khỏe mạnh di chuyển, trốn nhanh như chớp, người vớt phải cần nhiều khéo léo và cử động mới mong tóm được chúng. Những con di chuyển chậm chạp lờ đờ hoặc đứng yên bất động, chúng ta nên để chúng… đứng luôn tại đó, không đưa về nhà.

    - Hầu hết tép là loại sống theo bầy. Nếu ai chỉ cho chúng có một, hai “bạn chơi”, có lẽ chẳng có mấy cơ hội nhìn thấy chúng rời khỏi nơi ẩn nấp. Đặc biệt ở những bể thả nhiều cá kích thước tương đối lớn. Điều này thay đổi tức khắc khi chúng hợp được thành bầy, ít nhất từ mười con trở lên. Hầu như sự nhút nhát ở chúng biến mất hoàn toàn.

    - Đáng tiếc rằng chỉ riêng số lượng vẫn chưa là điều kiện đủ để chúng rời khỏi nơi ẩn nấp trong nhiều trường hợp. Trong bể của người viết thời gian bắt đầu nuôi tép, chỉ một con cá Phượng hoàng duy nhất trong bể đã đủ làm hai mươi chú tép Amano nấp kỹ lưỡng sau đống lũa. Tình hình thay đổi ngay trong ngày đầu tiên khi PH được dời sang bể khác, chú tép đầu tiên đã lò dò khỏi lô cốt. Đến ngày thứ hai cả bầy đã liên tục tuần tra khắp bể.

    - Lại có thông tin tép dạo chơi đường hoàng trong bể có nuôi cá Ali hoặc Discus. Những thông tin trái ngược nhau đó làm chúng ta trước mắt có thể bỏ qua việc lập list loại cá nào thích hợp, không thích hợp, ít thích hợp nuôi chung với tép. Nhưng trong mọi trường hợp không thể ít hơn hai, ba con trong một bể. Số lượng được khuyên nên thả từ đầu để có được đàn tép khỏe mạnh phát triển về sau không nên ít hơn năm con, hoặc hơn vài đôi càng tốt.

    7. Dinh dưỡng thức ăn cho tép kiểng

    - Ngay cả khi tép có tiếng là ăn rêu, chúng không là loài chỉ ăn thực vật. Từ ăn tạp có lẽ thích hợp hơn và như vậy, không cần loại bỏ thức ăn gốc động vật khỏi thực đơn cho chúng. Nhưng phải tránh nguồn Protein động vật với số lượng lớn. Kết quả những nghiên cứu cho thấy, quá trình lột vỏ tăng cao và chúng chết rất nhanh.

    - Trong bể nuôi chung với nhiều cá thực ra không cần cho chúng ăn, thức ăn thừa của cá rơi xuống luôn đủ cho chúng. Thực đơn của tép có thể là viên khô, thức ăn công nghiệp, đồ sống hoặc đông lạnh, Spinat, dưa leo, đậu Hà Lan… luôn được chúng đón chào nồng nhiệt. Người viết đã thu được kết quả tốt khi sử dụng viên thức ăn chứa lượng Spirulina cao.

    - Lượng thức ăn cần được tiêu thụ hết trong một giờ. Phần còn thừa hút, đưa ra ngoài, vì làm ô nhiễm nước nếu để lâu.

    - Ngoài bữa chính, tép còn nhặt nhạnh rêu, vi sinh vật quanh bể nên trong những bể đã ổn định nếu không cho chúng ăn vài ngày cũng không có chú nào chết đói cả.

    - Trong vài trường hợp có thể tép nảy ra ý định ngông cuồng gặm cả Moos mềm như Riccia,Pellia, nhưng chỉ xẩy ra ở những bể lớn nhân giống tép với số lượng lớn. Bình thường chúng ta không cần lo lắng đến cây trồng, chúng chỉ gặm đi những phần đã hư hỏng trên cây.

    - Để thực đơn cho tép thêm phần phong phú, chúng ta có thể trong khi đi dạo nhặt ít lá khô, rửa sạch nhúng qua nước sôi rồi cho vào bể. Các bạn sẽ thấy tép đổ xô đến tìm tòi thức ăn trên lá, và qua thời gian lá sẽ được gặm bớt đến khi chỉ còn lại cuống. Lá khô có tác dụng tốt làm ổn định quá trình lột vỏ của tép, nhả acidhumin giảm pH, chống nấm, mầm bệnh trong bể và là sân chơi ưa thích của tép.

    8. Các loại tép kiểng đẹp

    - Cardinal Shrimp
    - Brown Camo Shrimp
    - Blue Tiger Shrimp
    - Blue Pearl Shrimp
    - Black Tiger Shrimp
    - Bee Shrimp
    - Bamboo Shrimp
    - Amano Shrimp
    - Blue Bee Shrimp

    Nguồn: Thế giới Sinh vật cảnh, www.arowana.com.vn.
    • By Trieu Phu
    • 1 comment
    • 2 likes
    • 3 days ago
    • Trieu Phu and
    • Ba Tôm
    • Thuy Loan Tran Dẽ thương quá ^^
      • 0 likes
      • Like
      • Reply
      • 2 days ago
  • Ảnh hưởng của việc kết hợp cho ăn tảo Nannochloropsis và Chlorella nước ngọt lên...
    Một hệ thống nuôi luân trùng liên tục được bố trí để tìm hiểu về ảnh hưởng của việc kết hợp cho ăn hai loài tảo Nannochloropsis oculata (N) mật độ cao và Chlorella nước ngọt cô đặc (FC) lên thành phần acid béo của luân trùng Brachionus plicatilis kích thước lớn (L-type) khi được nuôi liên tục.

    Việc cung cấp tảo vào bể nuôi đựoc tiến hành theo 3 bước kế tiếp nhau: cho ăn N → cho ăn N+FC→ cho ăn FC. Luân trùng được nuôi ở nhiệt độ 24oC và độ mặn 25-27ppt trong các bình 2lít với 50% lượng nước được thay hàng ngày. Sự kết hợp cho ăn hai loài tảo N+FC có hiệu quả làm tăng mật độ luân trùng. Luân trùng ăn N+FC có nhiều lipid không cực (non-polar) hơn là lipid có cực và nó tương tự như luân trùng chỉ ăn tảo N và ngược lại với luân trùng chỉ ăn tảo FC. Luân trùng ăn N+FC có hàm lượng 16:2, 18:2n-6 (linoleic acid [LA]) và 20:2n-6 cao hơn nhưng hàm lượng 18:1, 20:4n-6 (arachidonic acid), 20:5n-3 (eicosapentaenoic acid [EPA]) và 22:5n-3 (docosapentaenoic acid [DPA]) lại thấp hơn so với luân trùng chỉ ăn N trong khi đó luân trùng ăn N+FC có hàm lượng 16:1n-7, EPA và DPA cao hơn nhưng hàm lượng 16:2 và LA lại thấp hơn luân trùng chỉ ăn FC. Thêm nữa luân trùng ăn N+FC có nhiều DPA trong lipid có cực hơn trong lipid không cực. Tỷ lệ Σn-6/Σn-3 trong luân trùng ăn N+FC là 0.9-1 và tỷ lệ này khác biệt có ý nghĩa so với luân trùng chỉ ăn N (0.4) và chỉ ăn FC (6.6-8.4). Vì vậy có thể suy luận rằng thành phần acid béo của luân trùng nuôi với tảo N+FC trong hê thống nuôi liên tục bị ảnh hưởng bởi cả hai loại tảo N và FC và việc kết hợp cho ăn cả hai loại tảo này sẽ có hiệu quả trong việc điều chỉnh tỷ lệ n-3/n-6 ở luân trùng được nuôi liên tục.

    Người dịch:Ths. Nguyễn Thị Hồng Vân (nthvan@ctu.edu.vn), TT Ứng dụng và chuyển giao công nghệ TS, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
    Nguồn tin: Takayuki KOBAYASHI, Toshiya NAGASE, Akinori HINO và Toshio TAKEUCHI. 2008. Effect of combination feeding of Nannochloropsis and freshwater Chlorella on the fatty acid composition of rotifer Brachionus plicatilis in a continuous culture. Aquaculture Nutrition 2008.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 3 likes
    • 3 days ago
    • Ba Tôm
    • Nguyễn Hồ and
    • Nguyễn Trọng Ân
  • Thử nghiệm cảm nhiễm Macrobrachium rosenbergii nodavirus (MrNV) và extra small v...
    Tính nhạy cảm của 3 loài tôm biển đối với Macrobrachium rosenbergii nodavirus (MrNV) và extra small virus (XSV) được kiểm tra bằng cách cho ăn và tiêm vào cơ.

    Kết quả cho thấy những loài tôm biển này không nhạy cảm với 2 loài virus và 2 loài virus này cũng không gây chết tôm biển. Phân tích RT-PCR cho thấy sự hiện diện của MrNV và XSV ở những cơ quan khác nhau như: mang, cơ bụng, dạ dày, ruột và máu của 3 loài tôm biển được tiêm virus. Những loài virus này cũng được tìm thấy trên những mô khác nhau của tôm gây cảm nhiễm bằng cách cho ăn cơ của tôm nhiễm bệnh, nhưng không tìm thấy ở những nhóm cho ăn cơ của tôm không nhiễm bệnh. Thực hiện tiêm nhắc bằng cách dùng dịch tiêm của MrNV và XSV trích từ những loài tôm biển mà những virus này gây chết 100% trên tôm càng xanh giống và những tôm giống gần chết đều cho kết quả dương tính khi kiểm tra bằng RT-PCR.

    Kết quả cho thấy khả năng tôm biển là nguồn cung của MrNV và XSV và duy trì độc lực của virus trong cơ tôm biển.

    Người dịch: Ks. Trần Thị Mỹ Duyên (ttmduyen@ctu.edu.vn), BM. Sinh học và Bệnh thủy sản, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
    Nguồn tin: R. Sudhakaran, S. Syed Musthaq, P. Haribabu, S.C. Mukherjee, C. Gopal, A.S. Sahul Hameed. Experimental transmission of Macrobrachium rosenbergii nodavirus(MrNV) and extra small virus (XSV) in three species of marine shrimp (Penaeus indicus, Penaeus japonicus and Penaeus monodon). Aquaculture 257 (2006) 136–141.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 2 likes
    • 3 days ago
    • Thuy Loan Tran and
    • Ba Tôm
  • Sử dụng protein phát quang xanh lục làm dấu trong việc giám sát vi khuẩn hữu ích...
    Để giám sát vi khuẩn hữu ích Bacillus S11 (BS11) trong cơ thể sống, các tế bào gốc chưa thuần (wildtype) được cấy vào protein phát quang xanh lục (GFP) biểu hiện trong huyết tương ký hiệu là pAD44-12, protein này mang một đọan gen với tên gfpmut3a chứa đọan gen họat hóa UW85 cấu thành vi khuẩn Bacillus cereus và huyết tương bình thường không được cấy protein phát quang của loại vi khuẩn này. Các tế bào được biến đổi pAD44-12 (BS11-GFP) và không biến đổi (đối chứng, BS11-pAD) biểu hiện khả năng phát quang nhưng với mức độ không cao.

    Sự đề kháng Chloramphenicol (BS11-GFP, BS11-pAD) và việc sử dụng vi khuẩn biến đổi (BS11-GFP) làm dấu cho thấy rằng sự lưu giữ trong huyết tương là khỏang 78-79% đối với cả hai loại tế bào BS11-GFP và BS11-pAD sau khỏang 50 thế hệ sinh trưởng mà không có các sàng lọc về kháng sinh. Khi trộn chúng vào trong thức ăn tôm với liều lượng 10^5 CFU/g, thể vùi của vi khuẩn được biến đổi có thể tồn tại được trong thức ăn này. Sau khi cho tôm ăn 3 lần/ ngày ở các bể xi măng 400L trong 9 tuần, không thấy có sự khác biệt về trọng lượng trung bình cũng như số lượng vi khuẩn BS11 trong nước cũng như trong ruột tôm giữa hai loại thức ăn có chứa BS11-GFP, BS11-pAD và hoặc là BS11.

    Điều này cho thấy rằng sự biểu hiện của gen gfpmut3a không có bất kỳ ảnh hưởng nào đối với các đặc tính của BS11 cũng như tăng trưởng của tôm. Các xét nghiệm mô học ở hệ tiêu hóa của tôm sau khi cho ăn thức ăn chứa BS11-GFP đã chứng minh vi khuẩn BS11-GFP có thể sông trong thức ăn và bám vào bề mặt ruột tôm vì vậy nó có tiềm năng tốt trong việc sử dụng như một loại marker (dấu) sinh học cho các thí nghiệm ngắn hạn.

    Người dịch: Ths. Nguyễn Thị Hồng Vân (nthvan@ctu.edu.vn), Trung tâm Ứng dụng và CGCN, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
    Nguồn tin: S. Rengpipat; N. Wongtangprasert v T. Palaga, Department of Microbiology, Faculty of Science, Chulalongkorn University, Bangkok, Thailand. The use of green fluorescent protein as a marker for monotoring a probiotic Bacillus S11 in black tiger shrimp Penaeus monodon. Aquaculture Nutrition, Received 13 March 2008, accepted 9 April 2008.
    • By Admin
    • 0 comments
    • 1 like
    • 3 days ago
    • Ba Tôm
  • Ảnh hưởng của sự oxy hóa NH3 lên giá trị BOD5
    BOD5 là một chỉ số đánh giá mức độ ô nhiễm cũng như đánh giá hiệu quả của một hệ thống xử lý chất thải. Giá trị này chỉ thị cho nhu cầu oxy sinh học bởi sự phân hủy vật chất hữu cơ. Tuy nhiên trong quá trình đo BOD5 thường bị ảnh hưởng bởi nhu cầu oxy cho quá trình nitrite hóa và kết quả BOD5 đo đạc được cao một cách bất thường khi so sánh với giá trị COD(Mn).

    Một thí nghiệm nhỏ được thực hiện để kiểm tra xu hướng biến động oxy và N-NOx trong chai ủ mẫu BOD. Kết quả đã cho thấy rằng:

    - Quá trình nitrite hóa xảy ra trong hai ngày đầu của quá trình ủ 5 ngày với sự tăng lên theo cấp số mũ của hàm lượng N-NO3- trong mẫu.
    - Giá trị BOD5 đo đạc được cao hơn giá trị COD, đôi khi cao gấp 3 lần.
    - Quá trình nitrite hóa trong chai ủ mẫu bị ảnh hưởng bởi hàm lượng N-NH3. Khi hàm lượng N-NH3 trong mẫu phân tích BOD5 cao, giá trị BOD5 đo được sẽ tỉ lệ nghịch với nồng độ NH3 trong mẫu và ngược lại. Khi bị ảnh hưởng bởi quá trình nitrite hóa, nó sẽ rất khó trong việc đánh giá hiệu quả của quá trình xử lý nước thải. Vì vậy việc đo các chỉ số ATU-BOD, N-NH3, N-NO2-, N-NO3- là rất cần thiết.

    Người dịch: Ks. Huỳnh Trường Giang (htgiang@ctu.edu.vn). BM Thủy sinh học ứng dụng, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
    Nguồn tin:Nobuyuki Hayashi. Effect on BOD5 Value by Oxidation of N-NH3. Vol. 19 (1996), No.1 pp. 76-83. Journal of Japan Society in Water Environment.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 1 like
    • 3 days ago
    • Ba Tôm
  • Cá sư tử - Lionfish
    Cá sư tử là một trong nhiều loài cá biển có nọc độc thuộc giống Pterois, Parapterois, Brachypterois, Ebosia hay Dendrochirus của họ Scorpaenidae. Trong đó, giống Pterois hiện xác định được 10 loài. Cá sư tử cũng có tên cá Thổ Nhĩ Kỳ, cá rồng, cá mao tiên hay cá bò cạp.

    Cá sư tử sống ở vùng biển nhiệt đới thuộc Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương, đông Đại Tây Dương và Caribe, nhưng một số loài có thể sống khắp nơi trên khắp thế giới. Cá sư tử có kích thước khoảng 6,2-42,4 cm, con trưởng thành trung bình đo được 38 cm và trọng lượng khoảng 480 g. Cá sư tử có thể sống khoảng 5-15 năm.

    Cá sư tử là một trong những con cá đẹp nhất của đại dương. Chúng có các tua dài, thân có nhiều sọc màu đỏ, vàng, da cam, nâu, đen hoặc trắng. Chúng có các gai lớn, tách biệt, tạo ra dáng vẻ tráng lệ tuyệt đẹp. Tuy nhiên, bạn nên cẩn thận đừng để vẻ đẹp của nó làm mờ mắt vì chúng là loài cá rất độc. Một vết chích từ cá sư tử không làm chết người, nhưng những độc tố cực mạnh từ chúng có thể gây đau đớn tộn cùng cho bạn.

    © Triệu Thanh Tuấn, www.aquanetviet.org.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 4 likes
    • 4 days ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Admin
    • Ba Tôm and
    • 1 other
  • Vaccine cho tôm, một hướng nghiên cứu đầy tiềm năng và gian khó
    Bệnh virus trên tôm đang là một thảm họa cho nền sản xuất nuôi trồng thủy sản cho Việt Nam và thế giới. Hiện tại các loại virus gây bệnh trên tôm sú đang phổ biến tại Việt nam là virus gây hội chứng đốm trắng (WSSV – White spot syndrome virus), hoại tử (IHHNV – Infectious hypodermal and haematopoietic necrosis virus), bệnh còi (MBV – Monodon baculovirus), đầu vàng (YHV – Yellow-head virus), v.v… Theo ước tính của Bộ Thủy sản, thất thoát do bệnh virus gây ra cho tôm sú vào khoảng 30% – 50% sản lượng thu hoạch. Với sản lượng tôm sản xuất hàng năm vào khoảng 350.000 tấn, Việt Nam là nước sản xuất tôm lớn thứ hai thế giới sau Trung Quốc (450.000 tấn). Việc nghiên cứu ngừa và phòng bệnh virus cho tôm đang là đề tài nóng bỏng cho các phòng thí nghiệm thế giới.

    Đối với tôm, cũng như các loài động vật không xương sống, hệ thống miễn dịch của chúng không giống như hệ thống miễn dịch của loài có xương sống. Tôm chỉ dựa trên hệ thống miễn dịch tế bào thông qua interferon là chính. Tôm có những hệ thống miễn dịch cơ thể nhưng theo cơ chế chưa thật rõ ràng. Do vậy việc tiêm vaccine cho tôm dưới dạng kháng nguyên như cho động vật máu nóng chưa mang lại kết quả. Do vậy các phương pháp khác để tăng khả năng miễn dịch ngắn hạn cho tôm đang được thử nghiệm.

    Hiện tại có hai nguyên lý tạo miễn dịch ngắn hạn cho tôm đang được các phòng thí nghiệm tích cực đầu tư, đó là: vaccine thụ động (passive vaccine) và vaccine bằng RNA sợi đôi.

    + Vaccine thụ động dựa trên nguyên tắc tạo kháng thể chống lại protein vỏ của virus trên động vật có xương sống, sau đó sử dụng kháng thể này bổ sung vào thức ăn cho tôm nhằm tăng khả năng kháng nhiễm bệnh virus cho tôm. Trên thế giới, Trung Quốc và Hàn Quốc đang thử nghiệm một chế phẩm IgY của trứng gà có tiêm protein P28 (protein vỏ của WSSV). Kháng thể kháng protein P28 này được cho tôm ăn và họ đã thu nhận được kết quả khả quan. Tôm ăn IgY kháng P28 đã sống sót nhiều hơn nhiều so với đối chứng khi nhiễm bệnh đốm trắng.

    + Phương pháp thứ hai là phương pháp gây miễn dịch bằng iRNA hay RNA sợi đôi. Những RNA sợi đôi có chứa trình tự tương đồng với các gene của virus đã làm tăng khả năng kháng bệnh của tôm lên một cách rất đáng kể. Việc tiêm những RNA sợi đôi đã làm tăng họat động của hệ thống nhận biết virus của tế bào tôm, làm giảm khả năng nhân lên của virus trong tế bào tôm. Nhóm nghiên cứu của Giáo sư Warr (Hoa Kỳ) đã công bố thí nghiệm (2005) bảo vệ được 90% tôm không chết sau 10 ngày gây nhiễm với virus đốm trắng. Trong khi đó, tôm đối chứng đã chết hơn 95% sau 5 ngày. Cũng trên nguyên lý đó, nhóm của giáo sư Vlac (Hà Lan, 2005) sử dụng siRNA (small interfering RNA) tiêm cho tôm cũng đạt được kết quả tương tự. Đó là hai hướng chính trong chiến lược tìm vaccine cho tôm.

    Ở Việt Nam, hướng nghiên cứu dùng vaccine thụ động đang được chú trọng. Để tạo được kháng thể kháng lại protein virus tôm, chúng ta có thể dùng protein vỏ của tôm hoặc virus tôm hoàn chỉnh. Muốn có virus tôm hoàn chỉnh, chúng ta cần số lượng virus đủ nhiều và nguồn virus ổn định. Muốn như vậy, cần phải có một hệ thống nhân virus tôm lên nhanh từ một mẫu ban đầu. Trong nỗ lực tìm nhân tố có thể nhân virus tôm lên trong tế bào nuôi cấy in vitro, TS. Văn Thị Hạnh (Viện Sinh học nhiệt đới – Viện Khoa học & Công nghệ Việt Nam) đã thành công trong việc dùng tế bào côn trùng để nhân các loại virus tôm. Khi nhân được các loại virus tôm, việc tạo kháng thể kháng lại các loại virus tôm trong gà hay thỏ có thể thực hiện được mộ cách đơn giản. Sử dụng các kháng thể đó để làm tăng khả năng kháng bệnh cho tôm là đề tài của Trung tâm CNSH TP. HCM đang triển khai kết hợp với TS. Văn Thị Hạnh.

    Song song với việc sử dụng virus nguyên, một số loại protein vỏ của virus tôm cũng đang được tổng hợp bằng con đường protein tái tổ hợp. Khả năng kháng virus của các kháng thể kháng protein vỏ virus này cũng đang được thử nghiệm. Đây là đề tài trọng điểm có thể mang lại những kết quả mang tính đột phá, song không thể nào không được nghiên cứu một cách thấu đáo. Việc nghiên cứu tìm ra vaccine cho tôm là một công việc còn nhiều ẩn số. Đó là cuộc chạy đua của các phòng nghiên cứu trên thế giới không chỉ vì tính kinh tế mà còn vì sự hiểu biết của khoa học.

    Nguồn: TS. Nguyễn Quốc Bình, hcmbiotech.com.vn.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 1 comment
    • 3 likes
    • 4 days ago
    • Trieu Phu
    • Ba Tôm and
    • Vu Nguyen Hoang
    • liemtran308 Tám Lúa đã đến nhà của Ts Văn Thị Hạnh rồi, dịp tới gặp Ts Hạnh hỏi xem vụ việc tiến triển như thế nào ...ka ka....

      Tám Lúa không bao giờ tin về vaccine trong nuôi trồng thủy sản.
      • 1 like
      • Like
      • Reply
      • 4 days ago
  • Chương trình chọn giống cá rô phi đỏ (Oreochromis sp.) đầu tiên tại Đồng Bằng Sô...
    Nghề nuôi cá rô phi đỏ (Oreochromis sp) ở nước ta tập trung và phát triển mạnh nhất ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, chất lượng cá giống hiện bị suy giảm, ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của nghề nuôi. Con giống có chất lượng (màu sắc đẹp, tăng trưởng nhanh, tỉ lệ sống cao) đang là một yêu cầu bức thiết của nghề nuôi cá rô phi đỏ tại Nam Bộ. Chọn giống dựa trên lý thuyết di truyền số lượng đã được chứng minh là cách thức khoa học và có hiệu quả nhất nhằm nâng cao các tính trạng mong muốn trên vật nuôi. Kết quả của chọn giống còn được tích lũy và duy trì qua từng thế hệ, do đó chất lượng con giống được ổn định và gia tăng theo thời gian.

    Chương trình chọn giống tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II bắt đầu với việc tạo quần thể ban đầu của cá rô phi đỏ tại Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có sử dụng các chỉ thị di truyền phân tử để đánh giá vật liệu di truyền. Sau đó phương pháp chọn lọc gia đình được áp dụng lên hai tính trạng quan trọng là màu sắc và tăng trưởng của cá. Cho đến nay, chương trình chọn giống cá rô phi đỏ đầu tiên tại Nam Bộ đạt được một số kết quả quan trọng.

    Tỉ lệ màu sắc được thị trường ưa chuộng đã được tăng lên gần gấp đôi chỉ sau một thế hệ, đạt 63,93%. Trọng lượng trung bình của cá có màu sắc được ưa chuộng không khác biệt có ý nghĩa thống kê (P>0,05) so với nhóm cá không ưa chuộng. Có thể chọn những nhóm cá có màu sắc được thị trường ưa chuộng (hồng hoặc cam hoặc đỏ và không có đốm) mà không ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng. Hệ số di truyền (heritability, h2) của quần thể cá rô phi đỏ F1 được ước tính sơ bộ là 0,23 ± 0,12. Cá phát tán từ chương trình chọn giống đã nhận được phản hồi tích cực từ người nuôi bè tại Mỹ Tho và Vĩnh Long về hai chỉ tiêu màu sắc và tăng trưởng.

    Những kinh nghiệm và kết quả hiện tại của chương trình chọn giống sẽ giúp hoạch định và phát triển chiến lược chọn giống dài hạn cho cá rô phi đỏ nuôi tại Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và có thể mở rộng ra toàn quốc nói chung.

    Nguồn: Trịnh Quốc Trọng, Trần Hữu Phúc, Phạm Đăng Khoa, Lao Thanh Tùng, Nguyễn Công Minh, Lê Trung Đỉnh. 2010. Chương trình chọn giống cá rô phi đỏ (Oreochromis sp.) đầu tiên tại Đồng Bằng Sông Cửu Long. Hội nghị CNSH Thủy sản Toàn quốc, TP. HCM, năm 2010.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 1 comment
    • 3 likes
    • 4 days ago
    • Trieu Phu
    • Ba Tôm and
    • Vu Nguyen Hoang
    • Vu Nguyen Hoang Chương trình có ý tưởng hay và thiết thực nhưng tiếc là cho đến nay vẫn chưa...mang lại lợi ích gì đáng kể cho người nuôi, chương trình chọn lọc giống cho cá tra trước đây cũng như vậy !
      • 1 like
      • Like
      • Reply
      • 2 days ago
© Vietnam Aquaculture Network Privacy & Terms Facebook Twitter About Contact
  • Facebook
    Like us on Facebook!
  • Twitter
    Follow us on Twitter!
This text will display in the Announcement Box.
×