• Nghiên cứu thành công công nghệ sản xuất giống c&aacute...
    Cá Song Vua được coi là loài cá khổng lồ, có con nặng tới 600kg, tốc độ tăng trưởng cực cao. Thịt cá Song Vua trắng, thơm ngon, được coi là đặc sản.

    Hôm nay (27/5), ban chủ nhiệm chương trình KC.06/11-15 cho biết đã tổ chức Hội đồng Khoa học và Công nghệ (KH&CN) cấp quốc gia đánh giá nghiệm thu đề tài Nghiên cứu công nghệ sản xuất giống cá Song Vua (Epinephelus lanceolatus, Bloch, 1790). Đề tài do Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I chủ trì.

    Kỹ sư Hoàng Nhật Sơn – chủ nhiệm đề tài cho biết, Song Vua là cá biển, đang thu hút nhà khoa học ở nhiều nước nghiên cứu nhằm chủ động công nghệ sản xuất giống nhân tạo và nuôi thương phẩm. Hiện rất ít quốc gia thành công trong công nghệ sản xuất giống nhân tạo loài cá này.

    Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I thực hiện đề tài nhằm xây dựng dự thảo quy trình công nghệ sản xuất nhân tạo giống cá Song Vua, làm cơ sở khoa học cần thiết cho các nghiên cứu hoàn thiện kế tiếp. Đề tài chủ yếu nghiên cứu về công nghệ nuôi, đặc điểm sinh học, thức ăn của ấu trùng,...

    Báo cáo kết quả của Viện Nghiên cứu cho thấy: Đàn cá Song Vua bố mẹ không nhiễm virus và thành thục tốt trong điều kiện nuôi giữ tại lồng trên biển.

    Đặc biệt, kết quả thử nghiệm quy trình bước đầu đạt được một số chỉ tiêu như: Khối lượng cá bố mẹ > 50kg/con; Tỷ lệ thành thục 60,7 – 75,0 %; Tỷ lệ chuyển đổi giới tính 75 – 100%; Tỷ lệ trứng thụ tinh 69,0-78,9%,...

    Cá Song Vua được coi là loài cá khổng lồ nhất trong các loài cá song, có con nặng tới 600kg. Loài cá này có tốc độ tăng trưởng cực cao. Thịt cá trắng, ngon, có mùi thơm đặc biệt. Người ta thường tiêu thụ khi cá nặng khoảng 15kg.

    Giá cá Song Vua cũng khá cao, một con cá Song Vua nặng 30kg, bán tại bè, có thể có giá hơn 10 triệu đồng.

    Source: Báo Mới. Ảnh: Wikipedia
  • Phát hiện mẫu tôm tại 3 trại nuôi ở Trung Mỹ dương tính EMS
    Phòng thí nghiệm Don Lightner, giáo sư Đại học Arizona - chuyên gia dịch bệnh thủy sản cho biết 3 mẫu tôm của khách hàng tại 2 nước Trung Mỹ dương tính EMS. Tuy nhiên, danh tính của các trại nuôi vẫn chưa được tiết lộ.

    Các nghiên cứu viên đều khẳng định cả 3 mẫu tôm dương tính EMS nhưng do cam kết giữ kín thông tin với khách hàng, nên phòng thí nghiệm từ chối tiết lộ danh tính trại nuôi và tên quốc gia. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia trong ngành khẳng định hai quốc gia có tôm nhiễm EMS là Honduras và Nicaragua. Trước đó, nhiều báo thủy sản quốc tế đưa tin tôm nuôi khu vực Nam Mỹ chết hàng loạt chưa rõ nguyên nhân do dịch bệnh, vi khuẩn lạ hay thời tiết bất thường, nhưng chưa phát hiện trường hợp nào dương tính EMS.

    Giáo sư Lightner nghi ngờ tôm Mexico là nguyên nhân làm dịch EMS lây lan sang Trung Mỹ, không hẳn do tôm châu Á. Theo thống kê của cơ quan quản lý nông nghiệp Mexico, 3 tỉnh của nước này gồm Sinaloa, Nayarit và Sonaara đã thiệt hại trên 70% sản lượng tôm vì dịch bệnh EMS năm 2013. Riêng nông dân nuôi tôm tỉnh Sonora thiệt hại hơn 77 triệu USD.

    Tuy nhiên, các chuyên gia cho biết, sự xuất hiện của dịch EMS ở Trung Mỹ có thể sẽ không gây ảnh hưởng lớn tới thị trường tôm thế giới, vì những quốc gia nuôi tôm khu vực này chỉ chiếm 1 tỷ lệ khá nhỏ trong nguồn cung tôm toàn cầu, nếu dịch bệnh xảy ra cũng không tác động lớn tới nguồn cung và giá tôm trên thế giới.

    Source: Tuấn Minh, Tạp chí Thủy sản VN
    Theo Undercurrentnews, Ảnh: extension.missouri.edu
  • Urban Algae Folly: Dự án phủ xanh các tòa nhà trong tương lai bằng tảo
    Trong tương lai, những ngôi nhà sẽ được phủ xanh bởi tảo giúp cung cấp nguồn oxy, hấp thụ khí CO2, tạo bóng mát và cung cấp sinh khối tảo dùng làm thực phẩm hoặc sản xuất nhiên liệu sinh học.

    Tại Hội chợ thương mại thế giới Milan Expo 2015, Công ty Kiến trúc London ecoLogicStudio đã trình diễn một hệ thống có tên Urban Algae Folly với tổng diện tích khoảng 40 m2, bao gồm các ống nhựa chứa đầy tảo xoắn spirulina bên trong có thể sử dụng như là một lớp "áo" xanh bao phủ các tòa nhà hoặc xây dựng các công viên trong tương lai.

    uaf_04.jpg__1072x0_q85_upscale.jpg
    Cấu tạo một hệ thống Urban Algae Folly tại Hội chợ Milan Expo 2015

    Hệ thống ống trong suốt được làm bằng chất liệu nhựa ethylene tetrafluoroethylene (ETFE), bên trong chứa đầy nước và tảo xoắn spirulina-một loài tảo giàu giá trị dinh dưỡng thường dùng để làm thực phẩm bổ sung cho con người. Sự phát triển của tảo spirulina bên trong ống phụ thuộc vào ánh sáng mặt trời và nhiệt độ, nó cũng phụ thuộc vào sự hiện diện của con người bên trong tòa nhà để điều chỉnh dòng chảy và mật độ tảo cho phù hợp nhờ vào một loại cảm biến đặc biệt.

    uaf_06.jpg__1072x0_q85_upscale.jpg
    Cận cảnh hệ thống Urban Algae Folly tại Hội chợ Milan Expo 2015

    Sinh khối tảo spirulina sẽ được thu hoạch mỗi tuần hoặc hai tuần một lần để dùng làm thực phẩm; trong tương lai, các loài tảo khác cũng được sử dụng để sản xuất nhiên liệu sinh học. Ngoài ra, tảo cũng góp phần cung cấp oxy và hấp thụ khí CO2 trong không khí. Theo nhiều nghiên cứu cho biết, tảo và các thực vật sống dưới nước khác cung cấp tới 70% lượng oxy trên thế giới. Một hệ thống Urban Algae Folly với tổng diện tích khoảng 40 m2 có thể sản xuất khoảng 2 kg oxy/ngày, đủ dùng cho 3 người trưởng thành và nó có thể hấp thụ khoảng 4 kg khí CO2/ngày. Trong khi đó, một cây xanh trung bình chỉ hấp thụ được khoảng 59 g CO2/ngày.  

    uaskin-small.jpg
    Những ngôi nhà trong tương lai sẽ được bao phủ bởi tảo

    Nhóm các nhà nghiên cứu của ecoLogicStudio đã làm việc với dự án này đã 6 năm nay. Họ đang hợp tác với các nhà sản xuất ETFE, các nhà vi sinh học, nông học, các chuyên gia và các kỹ sư hệ thống máy tính nhằm tối ưu hóa hoạt động và giảm giá thành xây dựng hệ thống. Hiện tại, chí phí lắp đặt và vận hành một hệ thống Urban Algae Folly mất khoảng 1,200 euros.

    Hiện tại nhóm đang tích cự triển khai dự án ở quy mô lớn hơn, tập trung vào việc xây dựng lớp "áo xanh" cho các tòa nhà trong tương lai nhằm tạo bóng mát, cung cấp nguồn oxy, hấp thụ khí CO2 và cung cấp thực phẩm từ tảo hoặc sản xuất nhiên liệu sinh học.  

    Triệu Tuấn, aquanetviet.org
    Source: http://www.smithsonianmag.com
  • Sinh vật nhỏ bé tạo oxy cần thiết cho con người
    Ngoài là thức ăn của các loài sinh vật biển, sinh vật phù du đồng thời cung cấp oxy cho con người hít thở.

    Sinh vật phù du, hay còn được biết đến như tảo silic là một trong những sinh vật nhỏ nhất thế giới, sống trôi nổi hoặc bơi yếu ớt trong môi trường nước. Chúng là nguồn thức ăn của cá voi, nhưng có thể tận dụng quá trình quang hợp để tạo ra oxy. Do đó, chúng không chỉ có vai trò quan trọng ở đại dương, mà còn đối với cả hệ sinh thái của Trái Đất.

    Đây là kết quả nghiên cứu kéo dài 4 năm của các nhà khoa học thuộc đoàn thám hiểm Tara Oceans. "Sứ mệnh đã được thực hiện trên con tàu này ở nhiều vùng biển. Trong 4 năm qua, chương trình của chúng tôi chào đón 200 nhà khoa học từ 45 quốc gia, dành thời gian phân tích các mẫu vật sinh vật phù du - dạng sống rất nhỏ dưới đại dương", Reuters dẫn lời giám đốc điều hành Romain Trouble nói.

    Chris Bowler, điều phối viên khoa học của Tara Oceans, cho biết gần một nửa lượng oxy được sinh ra từ các đại dương xuất phát trực tiếp từ sinh vật phù du. Về cơ bản, điều này có nghĩa rằng khi nhắc đến đóng góp toàn cầu, chúng cũng có vai trò quan trọng như rừng mưa nhiệt đới.

    Source: Anh Hoàng, VnExpress (Video: Reuters)
  • Loài cá biết bắt mồi trên cạn
    Những con cá thuộc họ cá killi có nhiều đặc điểm khác thường, thậm chí còn có thể bắt mồi trên cạn.

    Ở châu Phi và Nam Mỹ, những con cá killi phải thích nghi với tình trạng thiếu nước và lượng nước ở sông hồ thay đổi đáng kể theo mùa. Cá nở ra từ trứng thường vào mùa mưa, khi hồ đầy nước. Chúng nhanh chóng trưởng thành rồi đẻ trứng liên tục cho tới khi các hồ cạn nước rồi chết. Cá killi không trưởng thành như những họ cá khác, nhiều loài chỉ sống trong vòng một năm, thậm chí dưới ba tháng.

    Trứng có thể tồn tại qua mùa khô ở trạng thái nghỉ, phôi ngừng phát triển, chờ tới mùa mưa tiếp theo. Chu trình này lặp đi lặp lại và thường rất ngắn. Cá killi màu lam ngọc (Nothobranchius furzeri) ở vùng xích đạo châu Phi có tuổi thọ trung bình chỉ khoảng 10 tuần.

    Cá sống trong các khu vực ngập mặn (Kryptolebias marmoratus) có cả cơ quan sinh sản đực và cái trên cùng một cá thể. Những con cá này thuộc loài có xương sống duy nhất được biết đến với đặc điểm sinh sản lưỡng tính, tự thụ tinh và tạo ra bản sao của chính mình. Đây cũng là loài cá chủ yếu hô hấp qua da.

    Theo BBC, loài cá này có thể thích nghi với môi trường không có nước, sống và săn mồi trên cạn, thậm chí chúng còn được tìm thấy trên cây. Các kết quả kiểm tra cho thấy chúng ở trên cạn được 66 ngày.

    Khi ở trên cạn, chúng di chuyển bằng cách xoay vặn thân, đập đuôi xuống đất tạo lực. Bằng cách này, con cá có thể "bật lên" để bắt mồi. Trong phòng thí nghiệm, các nhà khoa học đã quan sát thấy chúng sử dụng kỹ thuật này để bắt dế và côn trùng ở trên cao.

    Source: Thành Minh, VnExpress, Ảnh: Cá Nothobranchius furzeri, wissenschaft.wanhoff.de
  • Công bố kết quả đề tài nghiên cứu hàm lượng nước trong...
    Ngày 29/4/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định 36/2014/NĐ-CP (NĐ36) về nuôi, chế biến và XK sản phẩm cá tra. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 20/6/2014. Trong đó, điểm C, khoản 3, Điều 6 của Nghị định quy địnhđiều kiện về chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm đối với sản phẩm cá tra chế biến là: “Hàm lượng nước tối đa không được vượt quá 83% so với khối lượng tịnh (khối lượng cá tra phi lê sau khi loại bỏ lớp mạ băng) của sản phẩm”.

    Ngày 3/6/2014, VASEP đã gửi Công văn số 105/2014/CV-VASEP tới Thủ tướng Chính phủ kiến nghị sửa đổi NĐ36, trong đó nêu rõ: Quy định "hàm lượng nước tối đa không vượt quá 83%" tại Khoản 3 Điều 6 theo các DN chế biến là còn thiếu cơ sở khoa học và thương mại, lại không quy định về phương pháp kiểm, nên khó khả thi. Về mặt khoa học, hàm lượng nước trong sản phẩm cá tra phi lê đông lạnh biến động phụ thuộc vào điều kiện môi trường sống, thức ăn sử dụng để nuôi cá, và quá trình biến đổi hàm ẩm trong quá trình chế biến. Về mặt thương mại, các thị trường lớn hiện chưa có quy định về hàm lượng nước trong thực phẩm, vì đây chỉ là một chỉ tiêu chất lượng hàng hóa. Áp đặt một mức chất lượng chung cho tất cả thị trường là không thật hợp lý, vì mỗi thị trường và đối tượng khách hàng có yêu cầu chất lượng khác nhau.

    Trước đó 6 năm (năm 2008), để có cơ sở cho việc kiểm soát việc sử dụng phụ gia trong chế biến cá tra phi lê đông lạnh, Bộ NN và PTNT đã giao cho Trung tâm Khảo nghiệm Kiểm nghiệm và Tư vấn Chất lượng nông lâm thủy sản cũng thực hiện đề tài cấp cơ sở: “Nghiên cứu xây dựng phương pháp phát hiện nước ngoại lai trong các sản phẩm cá tra của Việt Nam”.

    Sau khi nhận được phản ánh của các DN chế biến cho rằng, việc điều chỉnh các chế độ nuôi cá tra, thức ăn nuôi cá, thời gian chế biến và các yếu tố liên quan khác có thể dẫn đến việc thay đổi hàm lượng nước tự nhiên trong thịt cá tra nguyên liệu so với các nghiên cứu năm 2008, Trung tâm Khảo nghiệm Kiểm nghiệm và Tư vấn Chất lượng nông lâm thủy sản (thuộc Cục NAFIQAD) tiếp tục thực hiện đề tài nghiên cứu lần 2: “Nghiên cứu bổ sung các yếu tố có khả năng ảnh hưởng đến hàm lượng nước trong sản xuất, chế biến cá tra và đề xuất hàm lượng nước phù hợp trong sản phẩm cá tra phi lê đông lạnh” do TS. Trần Đăng Ninh làm chủ nhiệm đề tài.

    Xin trích lược dưới đây những kết luận chính của Đề tài này:

    1. Ảnh hưởng của các yếu tố trong quá trình nuôi

    Trong phạm vi vùng nuôi, qui mô và số lượng lấy mẫu đã lấy trong nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu đưa ra một số kết luận như sau:

    (1) Hàm lượng nước tự nhiên trong thịt cá tra phi lê không phụ thuộc vào kích cỡ (size) cá, điều kiện tự nhiên tại các khu vực khác nhau và các chế độ nuôi khác nhau trong phạm vi nghiên cứu này.

    (2) Hàm lượng nước tự nhiên trong thịt cá tra phi lê là 79.70 ± 0.34% theo khối lượng, không khác biệt so với kết quả nghiên cứu năm 2008 (79.73 ± 0.24%).

    Chi tiết về các thông số nền trong cá tra phi lê thể hiện ở biểu đồ sau:

    17497245493_828479e129_o.jpg

    2. Các yếu tố trong quá trình chế biến cá tra phi lê đông lạnh

    Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu các yếu tố có khả năng ảnh hưởng đến hàm lượng nước của cá tra phi lê đông lạnh trong quá trình chế biến như: quy trình chế biến khác nhau, thời gian chế biến, thời gian bán thành phẩm cá tra phi lê tiếp xúc với nước/nước đá, mức xử lý tăng trọng… kết quả cho thấy như sau:

    (1) Thời gian chế biến sản phẩm cá tra phi lê đông lạnh (từ công đoạn cấp đông đến bao gói sản phẩm cuối cùng) khoảng từ 3-12 giờ.

    (2) Với những quy trình công nghệ chế biến đang áp dụng tại các DN chế biến cá tra trong phạm vi nghiên cứu này, miếng cá phi lê chế biến không xử lý phụ gia khi tiếp xúc với nước/nước đá đã ngấm nước bão hòa (tối đa) từ bên ngoài vào trong dẫn đến miếng cá có hàm lượng nước tự nhiên từ 79.70 ± 0.34% đã tăng lên đến 81.25 ± 0.39% (chuẩn bị mẫu theo TCVN) hoặc 82.34 ± 0.39% (chuẩn bị mẫu theo Codex). Với kết quả khảo sát tại 40 cơ sở chế biến cho thấy quy trình chế biến cá tra giữa các DN tương đối giống nhau, mặt khác thời gian thực tế các sản phẩm cá tra được chế biến dài hơn nhiều so với kết quả khảo sát.

    (3) Phương pháp chuẩn bị mẫu khác nhau (TCVN hoặc Codex) tạo nên sự khác biệt đáng kể về hàm lượng nước trong cá tra phi lê chế biến không xử lý phụ gia đông lạnh. Cá tra phi lê chế biến không xử lý phụ gia đông lạnh được rã đông mẫu theo phương pháp TCVN có hàm lượng nước trung bình là 81.25 ± 0.39%, cao hơn so với nghiên cứu năm 2008 (80.40 ± 0.33%) do phương pháp thực nghiệm lần này đã đúng như quy trình sản xuất diễn ra trong thực tế của các DN chế biến.

    (4) Trong phạm vi đề tài này chúng tôi đã xem xét tất cả những yếu tố trong quá trình chế biến có ảnh hưởng tới mức độ tăng trọng và hàm lượng nước trong miếng cá tra phi lê, việc nghiên cứu đã được tiến hành trên 3 dây chuyền công nghệ khác nhau với 3 công thức phụ gia và cách thức xử lý phụ gia khác nhau. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng hàm lượng nước của các miếng cá tra phi lê đông lạnh tỷ lệ thuận với mức tăng trọng của miếng cá tra phi lê đó và không phụ thuộc vào bất cứ yếu tố nào trong quá trình chế biến như đã đề cập ở trên.

    Chúng tôi đã xây dựng được các phương trình thực nghiệm đặc trưng cho mối tương quan tuyến tính giữa hàm lượng nước và mức tăng trọng của cá tra phi lê đông lạnh các quy trình chế biến cá tra phi lê đông lạnh như sau:

    - Chuẩn bị mẫu theo TCVN: Y=0.102X+81.436 (với R2 = 0.991);

    - Chuẩn bị mẫu theo Codex: Y=0.107X+82.209 (với R2 = 0.994);

    Trong đó: Y là hàm lượng nước trong miếng cá phi lê (%); X là tỷ lệ tăng trọng của miếng cá phi lê (%)

    Phương trình này có thể được sử dụng cho việc xác định tỷ lệ tăng trọng trong sản phẩm cá tra phi lê đông lạnh nhằm hỗ trợ cho việc tự kiểm soát của DN cũng như cơ quan quản lý Nhà nước.

    (5) Trong thực tế sản xuất việc xử lý phụ gia nhằm cải thiện chất lượng cảm quan của các miếng cá tra phi lê đông lạnh gây ra việc tăng trọng, tuy nhiên việc tăng trọng của từng miếng cá phi lê trong cùng một mẻ xử lý là không đồng nhất với nhau. Việc này sẽ gây khó khăn cho các DN trong việc kiểm soát mức tăng trọng (hàm lượng nước tương ứng) của các miếng cá tra phi lê. Do vậy, chúng tôi đã tiến hành đánh giá mức độ đồng nhất của các miếng cá phi lê trong mỗi mẻ xử lý phụ gia, kết quả cho thấy:

    - Tỷ lệ sai lệch vượt quá mức trung bình của mỗi mẻ xử lý phụ gia khoảng 20%. Biên độ vượt cực đại khoảng 1.5 lần so với mức trung bình của mỗi mẻ. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy các giá trị này không phụ thuộc vào quy trình công nghệ và công thức xử lý phụ gia. Do vậy, chúng tôi đã xây dựng được bảng kế hoạch lấy mẫu tham chiếu nhằm kiểm soát mức độ tăng trọng (hàm lượng nước) trong sản xuất cá tra phi lê đông lạnh tại các DN cụ thể như sau:

    Bảng 4.1: Đề xuất kế hoạch lấy mẫu kiểm soát hàm lượng nước trong lô sản phẩm cá tra phi lê đông lạnh
    17929675698_a7f06923ea_o.jpg
    Các giá trị trên được hiểu như sau: n=11: lấy xác suất 11 miếng cá tra phi lê trong lô đem phân tích hàm lượng nước (W); c=2: cho phép ≤ 2 miếng cá có giá trị hàm lượng nước W ≤ m.

    Bảng này có thể được sử dụng nhằm hỗ trợ cho việc tự kiểm soát trong quá trình chế biến của DN cũng như áp dụng cho việc lấy mẫu kiểm tra chứng nhận lô hàng thủy sản của cơ quan quản lý Nhà nước. Tuy nhiên các DN sản xuất cần phải lưu ý chiều chỉnh mức tăng trọng (hàm lượng nước) trung bình của mỗi mẻ xử lý phụ gia phải nhỏ hơn mức tăng trọng mục tiêu để đảm bảo mức phụ trội an toàn.

    3. Chất lượng cảm quan

    Sử dụng quy trình hiện tại của các DN chúng tôi đã tiến hành sản xuất những miếng cá tra phi lê có mức độ xử lý phụ gia khác nhau (A, B, C, D, E, F, O) và tổ chức hội đồng nhằm đánh giá chất lượng cảm quan của các sản phẩm cá phi lê nêu trên. Kết quả cho thấy:

    (1) Việc sử dụng phụ gia trong chế biến cá tra phi lê đông lạnh là cần thiết, khi sử dụng phụ gia thì chất lượng cảm quan được cải thiện rõ rệt.

    (2) Những miếng cá tra phi lê có sử dụng phụ gia đều có mức tăng trọng tối thiểu lớn hơn hoặc bằng 10%. Theo kế quả đánh giá cảm quan của hội đồng việc xử lý phụ gia đối với các miếng cá tra phi lê có mức tăng trọng từ 10-30% có chất lượng cảm quan được cải thiện tốt nhất. Không có sự khác biệt có ý nghĩa (p<0.05) về chất lượng cảm quan giữa các miếng cá phi lê với các mức tăng trọng 10%; 15%; 20%; 25%; 30%. Miếng cá tra phi lê không xử lý phụ gia (0%) và xử lý phụ gia ở mức tăng trọng 35% có mức chất lượng cảm quan thấp hơn rõ rệt so với các miếng cá phi lê còn lại. Do vậy, việc xử lý phụ gia với các mức tăng trọng ≤30% là đảm bảo việc cải thiện chất lượng cảm quan. Chi tiết như trong hai Bảng 3.11 & 3.12.

    Bảng 3.11: Tổng hợp kết quả đánh giá cảm quan của các mẫu cá tra sống sau rã đông
    18118530421_e5523c39cb_o.jpg

    (3) Mục đích chính của việc xử lý phụ gia nhằm đáp ứng yêu cầu công nghệ, cải thiện chất lượng cảm quan của sản phẩm và tránh rủi ro về gian lận thương mại (do nước tăng trọng được bán với giá của sản phẩm) thì chế độ xử lý phụ gia tương ứng với mức tăng trọng 10% là phù hợp. Tuy nhiên, việc kiểm soát chế độ xử lý phụ gia ở mức tăng trọng 10% là rất khó trong thực tế sản xuất. Do vậy, để đáp ứng thực tế sản xuất tại DN cũng như nhu cầu quản lý của cơ quan quản lý nhà nước thì các bên liên quan có thể lựa chọn mức tăng trọng trong dải từ 15-30%.

    Bảng 3.12: Tổng hợp kết quả đánh giá cảm quan của các mẫu cá tra đã hấp chín
    18118529051_1e1e5313bc_o.jpg

    Với kết quả nghiên cứu như trên, nhóm nghiên cứu đã đưa ra đề xuất: Có thể xem xét, lựa chọn mức hàm lượng nước tối đa trong sản phẩm cá tra phi lê là một mốc trong dải từ 84.1-86% (đối với phương pháp chuẩn bị mẫu theo TCVN) hoặc từ 84.9-87% (đối với phương pháp chuẩn bị mẫu theo Codex) với các mức và kế hoạch lấy mẫu giám sát tương ứng theo bảng sau.

    Căn cứ vào kết quả nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đề xuất hàm lượng nước trong sản phẩm cá tra phi lê đông lạnh tối đa là 84.1% (đối với phương pháp chuẩn bị theo mẫu TCVN).

    Tuy nhiên, đề xuất này khiến nhiều DN sản xuất XK cá tra đã đặt câu hỏi: Tại sao nhóm nghiên cứu lại không đề xuất mức hàm lượng nước cho sản phẩm cá tra fillet XK theo phương pháp chuẩn bị mẫu theo tiêu chuẩn quốc tế Codex(theo quan điểm của NĐ36/2014) mà lại là theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN)? Và nhóm nghiên cứu cũng không đưa ra lý do cho việc đề xuất mức hàm lượng nước là 84.1% (tương đương mức tăng trọng khoảng 15%)?

    Trong khi đó, kết luận của đề tài cũng đã nêu rõ: việc xử lý phụ gia đối với các miếng cá tra phi lê có mức tăng trọng từ 10-30% có chất lượng cảm quan được cải thiện tốt nhất. Không có sự khác biệt có ý nghĩa (p<0.05) về chất lượng cảm quan giữa các miếng cá phi lê với các mức tăng trọng 10%; 15%; 20%; 25%; 30%.

    Theo các DN chế biến, XK cá tra, thông số mà nhóm nghiên cứu đề xuất trong đề tài là chưa tính tới yếu tố thị trường, yêu cầu đa dạng của thị trường và khả năng có thể thực hiện được trong thực tế sản xuất cá tra hiện nay.

    Source: Tạ Hà, VASEP
  • Những điều chưa biết về loài rùa cạn lớn nhất thế giới
    Người ta cho rằng tuổi của con rùa có thể được xác định bằng cách nghiên cứu các vòng sinh trưởng trên lớp mai, nhưng thực tế, điều này rất khó trừ khi biết được khi nào chúng ấp trứng.

    Loài rùa cạn lớn nhất thế giới hiện nay được tìm thấy ở Cộng hòa Seychelles - một quốc đảo trên Ấn Độ Dương, và quần đảo Galápagos ở Thái Bình Dương. Đây là lý do khiến không ít người cho rằng kích thước lớn của chúng được hình thành từ môi trường sống trên đảo. Tuy nhiên, điều này không hoàn toàn chắc chắn.

    Một loài rùa lớn có tên khoa học Hesperotestudo crassiscutata từng tồn tại ở khu vực Trung Mỹ và phía nam nước Mỹ, nhưng tuyệt chủng cách đây 12.000 năm. Queensland, Australia từng là nơi sinh sống của "quái vật" rùa Ninjemys oweni. Siwaliks (Megalochelys atlas) có mặt ở khu vực là Ấn Độ ngày nay cách đây vài triệu năm, có kích thước gấp hai lần rùa Galápagos. Theo kết quả phân tích gene năm 1999, tổ tiên của rùa Galápagos từng lớn hơn so với kích thước hiện nay.

    GalapagosTortoiseTourists.jpg
    Rùa Galápagos. Ảnh: Wikipedia

    Theo nghiên cứu của Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), nhiều loài rùa khổng lồ từng tồn tại trên hành tinh, nhưng chúng có tỷ lệ tuyệt chủng cao hơn so với những loài có kích thước nhỏ hoặc trung bình.

    Anders Rhodin, giám đốc Tổ chức nghiên cứu rùa (CRF), cho biết loài động vật chậm chạp và ít đe dọa này rất dễ tìm thấy. Vì có thể tồn tại mà không cần thức ăn hay nước trong thời gian dài, chúng có thể được lưu trữ khi còn sống, trở thành nguồn cung cấp thức ăn trong nhiều tháng. Rhodin ví những con rùa như đồ ăn đóng hộp và người hominin đã sử dụng công cụ bằng đá để "mở nắp hộp".

    Người ta cho rằng tuổi của một con rùa được xác định bằng cách đếm vòng sinh trưởng trên mai rùa. Tuy nhiên, phương pháp này chỉ đáng tin cậy ở năm đầu hoặc năm thứ hai, không có tác dụng đối với những con trưởng thành. Cách xác định tuổi chính xác là dựa trên số lần rùa đẻ và ấp trứng. Trong một số trường hợp, các chuyên gia xác định có những con rùa sống 150 tuổi hoặc hơn.

    IMG_1248.jpg
    Một con rùa khổng lồ có thể thông minh khác thường. Ảnh: www.vayaadventures.com

    Năm 1835, Charles Darwin từng nhận định rùa khổng lồ ở Galápagos di chuyển nhanh hơn so với những gì ông tưởng tượng, khi đi được 6,4 km/ngày và có thời gian nghỉ ngơi ngắn. Bằng các thiết bị theo dõi, các nhà khoa học hiện đại chỉ ra rằng chúng chủ yếu thực hiện những bước chuyển động ngắn, đi được không quá 2 km/ngày.

    Theo các chuyên gia, dù chậm chạp, rùa có thể khá thông minh. Trong nghiên cứu rùa chân đỏ Nam Mỹ (họ hàng với rùa khổng lồ ở Galápagos), họ nhận thấy chúng sử dụng các điểm mốc để tự thiết lập bản đồ về môi trường xung quanh. Loài bò sát này còn có thể học hành vi của những con khác.

    Source: Anh Hoàng, VnExpress (Theo BBC)
  • Bạch tuộc 'nhìn' bằng da
    Nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ chỉ ra rằng da của bạch tuộc nhạy cảm với ánh sáng ở giới hạn cuối màu xanh của quang phổ.

    Nhóm chuyên gia Đại học California, Santa Barbara, phát hiện các protein tương tự trong mắt người ở lớp da của hai loài bạch tuộc, sống ở ngoài khơi California. Các protein này giúp bạch tuộc cảm nhận ánh sáng mà không cần đến mắt hay hoạt động của não.

    "Da bạch tuộc không cảm nhận ánh sáng chi tiết như khi sử dụng não và mắt. Nhưng nó có thể cảm nhận sự gia tăng hay thay đổi của ánh sáng. Nó không phát hiện độ tương phản và các góc cạnh, nhưng nhận biết được độ sáng", UPI dẫn lời Desmond Ramirez, thành viên nhóm nghiên cứu, nói.

    Các nhà khoa học nhận thấy rằng tế bào sắc tố phồng lên và co lại để phản ứng với các ánh sáng khác nhau và lớp da nhạy cảm nhất với ánh sáng ở cuối màu xanh của quang phổ.

    Tất cả các loài bạch tuộc đều có xu hướng ngụy trang nhờ các bộ phận sắc tố trong da. Nhờ các tế bào sắc tố, con bạch tuộc có thể kết nối khả năng nhìn từ mắt và bộ não.

    Source: Anh Hoàng, VnExpress. Ảnh: cerebrovortex.com
  • Chế biến sản phẩm từ đầu và vỏ tôm
    Công ty cổ phần Việt Nam Food (VNF) và Tập đoàn CJ Cheil Jedang (Hàn Quốc) vừa ký kết hợp tác chiến lược nhằm đưa sản phẩm dịch tôm thủy phân (SSE) ra thị trường thế giới.

    SSE là sản phẩm được chế biến từ đầu và vỏ tôm, một phụ phẩm trong quá trình chế biến tại các nhà máy tôm ở VN. Mỗi năm các nhà máy tôm tại VN đưa ra trên 100.000 tấn phụ phẩm này trong quá trình chế biến và chỉ khoảng 30 số đó được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi.

    Ông Phạm Lê Nhật Quang, phó tổng giám đốc VNF, cho biết đơn vị này đã hợp tác với các nhà máy sản xuất tôm của VN để mua lại đầu và vỏ tôm, sau đó chế biến thành sản phẩm SSE với tác dụng kích thích sự thèm ăn tự nhiên của động vật nuôi, bổ sung đạm và axit amin tự nhiên.

    Tại VN, SSE đang được các nhà máy chế biến thức ăn gia súc dùng để thay thế bột cá nhập khẩu vì có giá thành rẻ hơn. Ngoài SSE, sắp tới VNF sẽ chế biến các loại dược phẩm và thực phẩm dùng cho con người từ đầu và vỏ tôm.

    Đại diện Tập đoàn CJ cho biết sản phẩm SSE đang có lợi thế so với bột cá truyền thống. Với thế mạnh của mình, đơn vị này sẽ sớm xuất khẩu các sản phẩm SSE.

    Source: Trần Mạnh, Báo Tuổi Trẻ Online