• Sign In
  • Create Account
Sign In
Create Account
Vietnam Aquaculture Network
  • News Feed
  • Hot Topics
  • Top Rated
  • Categories
    • Everything (925)
    • Aquaponics (8)
    • Công nghệ Bioflocs (24)
    • Bệnh học thủy sản (164)
    • Nuôi trồng thủy sản (76)
    • Động vật thủy sinh (264)
    • Sản xuất giống thủy sản (76)
    • Dinh dưỡng thủy sản (54)
    • Sinh lý cá và giáp xác (36)
    • Quản lý chất lượng nước (38)
    • Thuốc & hóa chất thủy sản (56)
    • Sự kiện thủy sản (1)
    • Thực vật thủy sinh (20)
    • Khai thác, chế biến, xuất khẩu (38)
    • Chuyên mục khác (66)
  • Members
  • Ảnh hưởng của độ mặn lên sự phát triển của các loài vi khuẩn thuộc giống Vibrio ...
    Nghiên cứu này được thực hiện nhằm kiểm tra ảnh hưởng của rửa tế bào Vibrios bằng nước muối sinh lý và nước biển lọc vô trùng đến sự phát triển của chúng trên môi trường chọn lọc và không chọn lọc. Bốn chủng vi khuẩn phát sáng được sử dụng trong nghiên cứu bao gồm Vibrio campbellii LMG21363, Vibrio harveyi BB120, Vibrio harveyi JAF483 và Vibrio harveyi JAF548. Hai chủng vi khuẩn cuối cùng là hai chủng đột biến từ chủng V. harveyi BB120. Các chủng vi khuẩn tăng sinh trong môi trường Marine Broth (MB) ở 28°C trong 24 giờ. Sau đó, canh chuẩn được ly tâm và rửa hai lần với nước biển lọc vô trùng hoặc nước muối sinh lý rồi được cấy trải trên môi trường không chọn lọc (Marine Agar, MA) và môi trường chọn lọc (Thiosulfate Citrate Bile Sucrose, TCBS).

    Số lượng khuẩn lạc mọc trên môi trường MA luôn nhiều hơn so với môi trường TCBS bất kể rửa tế bào vi khuẩn bằng nước muối sinh lý hay nước biển lọc vô trùng. Rửa vi khuẩn bằng nước biển vô trùng cho số khuẩn lạc trên môi trường TCBS cao gấp 10-300 lần so với rửa bằng nước muối sinh lý (p < 0,01). Phân tích thống kê cho thấy có sự tương tác giữa hai yếu tố “dung dịch rửa vi khuẩn” và “môi trường nuôi cấy” lên khả năng phát triển của vi khuẩn (p < 0,01). Kết quả nghiên cứu này cho thấy rửa Vibrio bằng nước muối sinh lý có thể làm tổn thương do sốc về áp suất thẩm thấu vì vậy làm ảnh hưởng đến phát triển của chúng trên môi trường chọn lọc.

    Nguồn: Lê Hồng Phước, Peter Bossier, Patrick Sorgeloos. 2012. Ảnh hưởng của độ mặn lên sự phát triển của các loài vi khuẩn thuộc giống vibrio trên môi trường chọn lọc và không chọn lọc. Viện Nghiên cứu NTTS II.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 2 likes
    • 14 hours ago
    • Truong Huynh Nhu and
    • Ba Tôm
  • Thay thế bột cá với nguồn protein thực vật và quỹ năng lượng cho tôm thẻ chân tr...
    Bột cá (FM) từ lâu đã được xem như một thành phần thiết yếu trong việc phối trộn thức ăn viên cho tôm. Cho đến gần đây, 12% bột cá trong thức ăn được xem là mức tối thiếu, dưới mức này tăng trọng của tôm nuôi sẽ giảm bởi vì lượng thức ăn tôm ăn vào ít đi.

    Để kiểm tra giá trị tối thiểu được đề cập này, một thí nghiệm đã được tiến hành dài hạn với 4 lần lặp lại. Bốn loại thức ăn có cùng hàm lượng đạm và đồng năng lượng được phối trộn cho tôm thẻ chân trắng giống và được sử dụng trong thí nghiệm. Tỷ lệ sống, tăng trọng, hệ số thức ăn (FCR) và tỷ lệ sử dụng protein được xác định đối với các nghiệm thức 0, 6, 10 và 15% FM trong thức ăn và nghiệm thức thức ăn đối chứng. Tỷ lệ sống của tôm biến động trong phạm vi 84-86.5%. Tôm ăn thức ăn không có bột cá (0% FM) có trọng lượng trung bình và SGR thấp hơn so với tôm của các nghiệm thức khác (P<0.05). FCR ở tôm ăn thức ăn đối chứng là thấp hơn so với tôm ở các nghiệm thức khác.

    Nguồn năng lượng nhất thời không có sự khác biệt đối với năng lượng phục hồi (RE). Sự biến động ở RE theo lượng bột cá có trong thức ăn theo đúng như dự đóan tuy nhiên nó ở mức thấp (0.12KJ/tôm/ngày) và do vậy không thể phân biệt được sự khác nhau trong các nghiệm thức thức ăn. Ngoài ra số liệu thu được cũng cho thấy RE là tương tự đây chính là bằng chứng cho sự không khác biệt về tăng trọng giữa các nghiệm thức 6, 10 và 15 % FM cũng như nghiệm thức đối chứng (0.98g/tuần). Kết quả tăng trưởng thu được qua thời gian nuôi dài trong nước trong cũng chứng minh khả năng thay thế bột cá với đậu nành cộng với bột hạt cải dầu (canola).

    Người dịch:Ths.Nguyễn Thị Hồng Vân (nthvan@ctu.edu.vn), TTƯD và chuyển giao CNTS, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
    Nguồn tin: J.A. Suárez a, G. Gaxiola, R. Mendoza, S. Cadavid, G. Garcia, G. Alanis, A. Suárez,, J. Faillace, G. Cuzon. 2009. Substitution of fish meal with plant protein sources and energy budget for white shrimp Litopenaeus vannamei (Boone, 1931). Aquaculture xxx (2009) xxx–xxx. Aquaculture online.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 1 like
    • 14 hours ago
    • Ba Tôm
  • Nghiên cứu quy trình công nghệ bảo quản vận chuyển sống cá Kèo
    Cá kèo (Pseudapocryptes elongatus), một trong những đặc sản của khu vực Nam bộ, hiện đang được thị trường ưa chuộng nhờ giá trị dinh dưỡng và hương vị đặc trưng. Bài viết này giới thiệu kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường và công nghệ tới tỷ lệ sống của cá kèo trong quá trình bảo quản vận chuyển từ nơi đánh bắt tới nơi sử dụng. Bốn yếu tố chính đã được khảo sát là mật độ cá, nhiệt độ môi trường; độ mặn; phương pháp cấp oxy (bao bì kín có nạp oxy một lần ban đầu; bao bì kín nạp oxy mỗi ngày; thùng hở…).

    Kết quả cho thấy bảo quản vận chuyển sống cá kèo ở điều kiện thích hợp nhất là: mật độ cá/nước là 3/1; Nhiệt độ 22 – 23oC; độ mặn 12 ppt và bảo quản trong khay để hở. Áp dụng quy trình như nghiên cứu đề xuất, cá kèo có thể được bảo quản và vận chuyển kéo dài tới 4 ngày với tỷ lệ sống trên 90%, đủ thời gian để vận chuyển bằng các phương tiện đường bộ, đường sắt và đường không tới mọi miền đất nước.

    Nguồn: Lê Đức Trung, Cao Đại Thắng, Đào Trọng Hiếu. 2012. Nghiên cứu quy trình công nghệ bảo quản vận chuyển sống cá Kèo. Viện Nghiên cứu NTTS II.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 3 likes
    • 20 hours ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Ba Tôm and
    • Vu Nguyen Hoang
  • Cá bò titan – Titan triggerfish
    Cá bò titan có tên khoa học là Balistoides viridescens – là con cá có tính lãnh thổ cực kỳ cao sống ở các vịnh vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương xung quanh các rạn san hô.

    Giống như tất cả các loài cá bò, cá này có hình dạng của một quả bóng đá không bơm hơi. Vây lưng ngắn và chỉ gồm ba tia cứng. Thông thường những gai này xếp vào thân, nhưng khi áp lực tạo ra lên tia thứ hai (giống như cò súng), nó khóa tia thứ nhất ở vị trí thẳng đứng. Vào đêm, khi bị đe dọa, cá bò có thể dùng tia này để khóa nó an toàn và chắc chắn trong các khe đá ở rạn san hô.

    Cá bò có cách bơi đặc trưng. Thay vì dùng đuôi, chúng dùng hai vây bên trên và dưới đuôi. Các vây vẫy nhẹ, cho phép chúng bơi một cách chậm rãi. Chúng chỉ dùng đuôi khi cần bơi nhanh trốn tránh kẻ săn mồi.

    Cá bò titan là một trong những loài cá bò lớn nhất và có thể dài tới 75cm. Chúng có khuynh hướng màu xanh lá cây với những rìa đen, và các vảy tạo thành dạng ca rô.

    Chúng có miệng nhỏ nhưng hàm và răng rất mạnh được dùng để nhai các con mồi vỏ cứng, như cua, nhuyễn thể, cầu gai. Thường những con cá nhỏ tập trung xung quanh một con cá bò đang ăn để ăn phần còn lại.

    Chúng là những động vật sống đơn độc và dành nhiều thời gian ở một mình hay với một con bạn tình, và chúng bảo vệ lãnh thổ chống lại bất kỳ con vật nào xâm nhập.

    Những người lặn thường đủ khôn ngoan để tạo một khoảng cách giữa họ và một con cá bò titan, nếu không có thể chịu rủi ro bị tấn công. Khi bảo vệ tổ, những con cá này được biết là có thể cắn những người dám liều lĩnh đến gần.

    Cá bò titan thỉnh thoảng được bắt để làm thực phẩm, mặc dù thịt của chúng có liên hệ tới nhiễm độc ciguatera. IUCN chưa đánh giá tình trạng loài cá này.

    Nguồn: Viết bởi Sarah Bedolfe, Blog Biển và Người.
    • By Admin
    • 0 comments
    • 2 likes
    • 21 hours ago
    • Trieu Thanh Tuan and
    • Ba Tôm
  • Sự oxy hóa chất béo trong bột cá được dự trữ ở các điều kiện khác nhau lên sinh ...
    Năm khẩu phần thức ăn chứa bột cá (FM) được dự trữ trong các điều kiện khác nhau, tương ứng với 5 nghiệm thức, được sử dụng làm thức ăn cho tôm sú bao gồm:

    - Thức ăn 1 (đối chứng): bột cá mới sản xuất (TBARS=7.87mgMAD/kg FM)
    - Thức ăn 2: Mức ôi thấp, FM không xử lý ethoxyquin (chất bảo quản, chống oxy hóa) được dự trữ ở 4oC trong 1.5 tháng (TBARS=15.02 mgMAD/kg FM)
    - Thức ăn 3: Mức ôi trung bình, FM được xử lý ethoxyquin và dự trữ ở nhiệt độ biến động trong 4.5 tháng (TBARS=22.52mgMAD/kg FM)
    - Thức ăn 4: Mức ôi trung bình, FM không xử lý ethoxyquin được dự trữ ở nhiệt độ biến động trong 3 tháng (TBARS=25.67 mgMAD/kg FM)
    - Thức ăn 5: Mức ôi cao, FM không xử lý ethoxyquin được dự trữ ở nhiệt độ biến động trong 4.5 tháng (TBARS=62.31 mgMAD/kg FM)

    Thí nghiệm 5 loại thức ăn này được tiến hành trong 60 ngày với hệ thống nuôi bán khép kín gồm 30 bể nuôi, mỗi bể chứa 25 tôm sú giống có trọng lượng 0.25g. Kết quả cho thấy tôm có trọng lượng cuối cùng, % tăng trọng và tăng trưởng tương đối thấp nhất cũng như có tỷ lệ dị dạng tế bào ở tuyến gan tụy cao nhất (50%) là ở tôm được cho ăn khẩu phần thức ăn 3 (p<0.05), và tiếp đó là tôm ăn khẩu phần thức ăn 5. Sự tăng trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn và các tế bào gan tụy của tôm ăn khẩu phần thức ăn 2 không khác biệt đối với tôm ăn thức ăn đối chứng. Tỷ lệ sống của tôm nằm trong phạm vi 87-92% và không khác biệt có ý nghĩa giữa các nghiệm thức.

    Người dịch:Ths. Nguyễn Thị Hồng Vân (nthvan@ctu.edu.vn), TT Ứng dụng và chuyển giao công nghệ TS, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
    Nguồn tin: Rapeepan Laohabanjong, Chutima Tantikitti, Soottawat Benjakul, Kidchakan Supamattaya và Mali Boonyaratpalin. 2009. Lipid oxidation in fish meal stored under different conditions on growth, feed efficiency and hepatopancreatic cells of black tiger shrimp (Penaeus monodon). Aquaculture 286 (2009) 283–289.
    • By Admin
    • 0 comments
    • 2 likes
    • 21 hours ago
    • Trieu Thanh Tuan and
    • Ba Tôm
  • Ảnh hưởng của việc lai cận huyết lên sinh trưởng của tôm thẻ chân trắng Pacific ...
    Trong các chương trình sinh sản nhân tạo động vật, quá trình chọn giống với số lượng hạn chế về mặt di truyền có thể làm cho sự cận huyết xảy ra nhanh chóng (trong một hoặc hai thế hệ).

    Mặc dù những ảnh hưởng của lai gần đã được nghiên cứu rộng rãi ở các động vật trên cạn và ở một số các loài thủy sản nhưng những hiểu biết về ảnh hưởng của nó trên tôm biển thì vẫn còn rất ít. Mục tiêu của nghiên cứu này là tim hiểu các ảnh hưởng của việc lai gần lên sự sinh trưởng của tôm thẻ chân trắng giai đọan nhỏ (trại giống) và khi nuôi thịt. Thí nghiệm được tiến hành trong 2 năm và số liệu thu được từ hai thế hệ liên tiếp (G2 và G3) khi cho lai anh chị em với nhau (lai gần) và lai xa được đem phân tích. Có tất cả 11 nhóm lai gần và 12 nhóm lai xa ở thế hệ G2, 9 lai gần và 10 lai xa ở G3. Hệ số cận huyết (F) cho nhóm lai xa là 0.00 và nhóm lai gần là 0.25 đối với thế hệ G2 và 0.00 và 0.375 cho thế hệ G3 theo thứ tự tương ứng. Tốc độ tăng trưởng đối với nhóm lai xa và lai gần hầu như tương đương trong cả G2 và G3. Tỷ lệ nở đối với nhóm lai gần thấp hơn 33.1% so với lai xa ở G2 và cũng thấp hơn 47.1% ở G3 và so với nhóm lai xa. Sự suy giảm sức sống do cận huyết (IBD, sự thay đổi tương đối trong kiểu hình trên 0.1 tăng ở F) ± 95% CI (Confidant Interval: khoảng tin cậy trong phép thống kê) đối với tỷ lệ nở là -12.3± 10.1%.

    Tỷ lệ sống của ấu trùng đối với nhóm lai cận huyết thấp hơn 31.4% so với nhóm lai xa ở G2 và thấp hơn 33.8% ở G3. IBD đối với tỷ lệ sống của ấu trùng là -11.0± 5.7%. Tỷ lệ sống ở giai đọan nuôi thịt ở lai gần thấp hơn 1.9% so với lai xa đối với G2 và thấp hơn 19.6% ở G3. IBD đối với tỷ lệ sống ở giai đọan nuôi thịt là -3.8± 2.9%. Phân tích thống kê cho thấy có sự tương quan hồi quy có ý nghĩa giữa IBD của tính trạng tỷ lệ sống và tỷ lệ sống bình quân của nhóm lai xa. Ở nhóm lai xa có tỷ lệ sống cao thì IBD là thấp (thí dụ như tỷ lệ sống giai đoạn nuôi thịt ở G2), tuy nhiên IBD trở nên gay gắt hơn khi tỷ lệ sống của nhóm lai xa thấp đi. Điều này đưa tới đề xuất rằng stress (liên quan đến môi trường sống và hoặc là giai đọan sống) có thể làm IBD tệ thêm đối với tính trạng tỷ lệ sống.

    Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng mức độ cận huyết từ trung bình cho tới cao (>10%) nên được tránh trong các trại sản xuất giống thương mại bởi vì các tác động tích tụ về IBD đối với tỷ lệ nở và tỷ lệ sống của ấu trùng sẽ làm sụt giảm nghiêm trọng năng suất con giống. Vì vậy IBD có thể đủ để được sử dụng trong việc điều chỉnh việc lai cận huyết như một chiến lược bảo vệ sức sống (trong một số trường hợp) đối với các chương trình cải thiện di truyền.

    Người dịch: Ths. Nguyễn Thị Hồng Vân (nthvan@ctu.edu.vn), Trung tâm ứng dụng và chuyển giao công nghệ thủy sản, Khoa thủy sản, Đại học Cần Thơ.
    Nguồn tin: Dustin R. Moss, Steve M. Arce, Clete A. Otoshi, And Shaun M. Moss. 2008. Inbreeding Effects on Hatchery and Growout Performance of Pacific White Shrimp, Penaeus (Litopenaeus) vannamei. Journal of the World aquaculture society, vol. 39, no. 4 August, 2008.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 2 likes
    • 21 hours ago
    • Trieu Thanh Tuan and
    • Ba Tôm
  • Nghiên cứu theo chiều dọc về bộc phát bệnh viêm cơ tim, cơ vân trong tự nhiên ở ...
    Bệnh viêm cơ vân, cơ tim là bệnh lan truyền ở các nông trại nuôi cá hồi đại dương, Salmo salar L. Đặc điểm là viêm cơ tim ngoài và trong, như các sợi cơ, đặc biệt làm đỏ cơ vân. Nguyên nhân gây bệnh này hiện nay còn đang nghiên cứu, mặc dù được nghi ngờ do virút.

    Khi được phát hiện năm 1999, bệnh viêm cơ tim, cơ vân trở nên ngày càng gia tăng ở các nông trại nuôi công nghiệp ở Nauy, với kinh nghiệm của môt số nông trại bị bệnh hằng năm và theo sau là làm giảm kinh tế. Trong nghiên cứu gần đây ở các nông trại nuôi cá hồi Atlantic được thực hiện từ 12/2003 đến 4/2005.

    Các mẫu cá khỏe cũng như các mẫu cá có dấu hiệu bệnh được thu thập hàng tháng và nghiên cứu mô bệnh học. Mẫu cá đầu tiên chẩn đóan là bệnh viêm cơ tim, cơ vân được thu mẫu vào tháng 5, 8 tháng sau chuyển ra biển. Dấu hiệu bệnh được tìm thấy vào tháng 6, khi tất cả các mẫu cá đều có dấu hiệu thương tổn của bệnh viêm cơ tim, cơ vân. Các mẫu tiếp theo có biểu hiện thương tổn tim giảm trong 2 tháng sau khi bệnh bộc phát nhưng nhiều ổ bệnh đã xâm nhập và làm họai tử tế bào tiếp tục ở khắp nơi trong năm. Có xuất hiện sự thay đổi ở vùng thương tổn rất nghiêm trọng ở cơ tim kết đặc trong giai đọan sớm của bệnh bao gồm tâm nhỉ là lớp xốp của tâm thất ở các mẫu thu sau đó. Các mẫu thu sau đó cho thấy sự xơ hóa mô cơ tim. Kết luận, bệnh viêm cơ tim, cơ vân xuất hiện là bệnh rất nghiêm trọng với tỉ lệ chết cao có thể đến 100% và kéo dài trong một thời gian.

    Người dịch: Ks. Đặng Thụy Mai Thy (dtmthy@ctu.edu.vn), BM Sinh học và bệnh thủy sản, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
    Nguồn tin: Kongtorp R T, M Halse, T Taksdal and K Falk. Longitudinal study of a natural outbreak of heart and skeletal muscle inflammation in Atlantic salmon, Salmo salar L. Journal of Fish Diseases 2006, 29, 233–244.
    • By Admin
    • 0 comments
    • 2 likes
    • 22 hours ago
    • Trieu Thanh Tuan and
    • Ba Tôm
  • Nghiên cứu tiêu hóa in vitro protein của cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) đố...
    Kết quả nghiên cứu tiêu hóa in vitro của cá tra ở các giai đoạn phát triển (50g, 300g và 600g) đối với một số nguyên liệu cung cấp protein bao gồm bột cá, bột xương thịt, bã đậu nành và thức ăn cá tra thương mại như CG, UP, LS và V2feed bằng phương pháp pH- stat cho thấy với các nguyên liệu động, thực vật có hàm lượng protein thay đổi trong khoảng từ 44 - 55%, mức tiêu hóa in vitro DH% của cá ở các giai đoạn phát triển đối với nguyên liệu này thay đổi trong khoảng từ 46 - 81%, trong đó bột cá Vũng Tàu 55% có mức tiêu hóa từ 77 - 81%, bột xương thịt Hungary từ 58 - 67% và bã đậu nành Argentina khoảng 46 - 61%.

    Tiêu hóa in vitro (DH%) của bột cá > bột xương thịt > bã đậu nành và mức tiêu hóa DH% đối với các nguyên liệu tăng dần khi cá càng lớn và không có sự khác biệt có nghĩa về mức tiêu hóa DH% đối với nguyên liệu và thức ăn sau 4giờ và 6 giờ thủy phân. Đối với các loại thức ăn có hàm lượng protein thô trong khoảng 20 - 33%, kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ tiêu hóa in vitro (DH %) thay đổi từ khoảng 53 – 59% và tăng dần theo kích cỡ của cá.

    Nguồn: Nguyễn Văn Nguyện, Phạm Duy Hải, Nguyễn Thành Trung, Trần Văn Khanh. 2012. Nghiên cứu tiêu hóa in vitro protein của cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) đối với một số nguyên liệu và thức ăn. Viện Nghiên cứu NTTS II.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 1 like
    • 21 hours ago
    • Ba Tôm
  • Các hợp chất ức chế hoạt động của mầm bệnh vi khuẩn Edwardsiella ictaluri và Fla...
    Bệnh nhiễm trùng máu (ESC) do vi khuẩn Edwardsiella ictaluri và bệnh trắng da do vi khuẩn Flavobacterium columnare là những bệnh phổ biến xuất hiện trên cá nheo Ictalurus punctatus ở Nam Mỹ.

    Mặc dù người nuôi có thể nhờ vào kháng sinh và những cách chữa bệnh thường dùng để quản lý những bệnh này, nhưng sự tìm ra một số hợp chất mới an toàn với môi trường và hiệu quả hơn cách sử dụng kháng sinh và các phương pháp trị bệnh thông thường sẽ mang lại lợi nhuận cao hơn cho ngành công nghiệp nuôi cá nheo. Một phương pháp thí nghiệm nhanh được sử dụng để đánh giá hiệu quả của những hợp chất này.

    Kết quả là acid tannic, một chất có độc tính cao đối với E. ictaluri và F. columnare đã cho thấy hứa hẹn có hiệu quả trong việc chống lại bệnh nhiễm trùng máu và bệnh trắng da. Sodium percarbonat cũng là một hợp chất an toàn với môi trường cho hiệu quả điều trị nhằm ngăn ngừa sự bùng nổ F. columnare trong hệ thống nuôi cá nheo với quy mô nhỏ hoặc trong quá trình vận chuyển.

    Người dịch: Ks. Nguyễn Thị Thúy Liễu, BM sinh học và bệnh thủy sản, khoa Thủy sản, trường Đại Học Cần Thơ.
    Nguồn tin: Kevin K. Schrader. Compounds with Inhibitory Activity against the Channel Catfish Pathogens Edwardsiella ictaluri and Flavobacterium columnare. Communication. North American Journal of Aquaculture 70:147-153, February 7, 2008.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 1 like
    • 22 hours ago
    • Ba Tôm
  • Kỹ thuật sinh sản cá bống tượng
    Cá bống tượng thân hình thoi tròn, thịt dày, ngon, có giá trị kinh tế, được nuôi nhiều ở các tỉnh phía nam.

    Chọn cá bố mẹ

    - Cá bố mẹ phải khỏe mạnh, không dị hình, không nhiễm bệnh, độ tuổi 1 năm trở lên, trọng lượng >200g. Cá bố mẹ không thương tật, dị tật, mất nhớt. Đặc biệt không sử dụng cá câu, cá mắc lưới, chích điện để nuôi vỗ. Trước khi thả cá nuôi vỗ phải tắm cho cá bằng nước muối 2% trong 3 - 5 phút.
    - Ao nuôi vỗ có diện tích 500 - 1.000m2, mực nước sâu 1 - 1,2m. Cải tạo ao thật kỹ, bón vôi bột 2 - 10 kg/100m2, phơi đáy ao 3 - 5 ngày, sau đó lấy nước vào ao. Ao nuôi vỗ cá bố mẹ cần đảm bảo: nhiệt độ nước 28 - 31oC; pH 6,5 - 8; ôxy hòa tan 3 - 4 mg/l.

    Mật độ và chăm sóc

    - Cá bố mẹ thả với mật độ 0,2 - 0,3 kg/m2 ao. Nếu nuôi riêng cá đực 0,5 kg/m2; cá cái 0,2 kg/m2. Nếu nuôi vỗ chung thì tỷ lệ đực cái 1:1.
    - Hằng ngày cho cá ăn bằng cá vụn, cá tạp tươi sống, ốc, tép. Thức ăn cắt vừa miệng cá, cho thức ăn vào sàng để kiểm tra sức ăn của cá bố mẹ và điều chỉnh. Cứ 50m2 thì đặt 1 sàng ăn. Cho cá ăn ngày 2 lần, sáng và chiều.
    - Hằng ngày kiểm tra thức ăn, chất lượng nước, định kỳ 1 tuần thay 20 - 30% lượng nước ao.
    - Kiểm tra độ thành thục của cá: Khi cá đã thành thục, vuốt nhẹ gần gai sinh dục sẽ có sẹ trắng chảy ra. Cá cái có gai sinh dục lớn hơn, dài, đầu gai sinh dục tròn, có màu đỏ ửng, bụng to tròn; dùng que thăm trứng thấy trứng đều, hơi rời, kích thước 0,5 - 0,6mm là cá đã sẵn sàng đẻ trứng.

    Cho cá đẻ tự nhiên trong ao

    - Ao cho cá đẻ được cải tạo và diệt tạp tốt, thả cá bố mẹ vào nuôi vỗ, mật độ nuôi 5 - 10 kg/100m2 ao.
    - Đặt giá thể xuống ao (gạch tàu, mê bồ), đặt ở bào ao nghiêng 45 độ, cách đáy ao 20cm.
    - Đến nước ròng, cho nước chảy vào ao nuôi mạnh, cá kích thích tự sinh đẻ và trứng nở tự phát triển trong ao.
    - Thời gian này, gây màu nước tạo thức ăn tự nhiên cho cá; cho cá con ăn bằng thức ăn nhân tạo như ương cá con. Cá lớn vẫn tiếp tục cho ăn cỡ lớn vừa, cá phát dục đẻ tiếp trong ao.

    Cho cá đẻ nhân tạo

    Muốn thu được nhiều trứng phải dùng kích dục tố: Liều lượng sử dụng cho 1kg cá cái là 1 - 2mg đối với não thùy và 250 - 300 UI đối với HCG, liều lượng tiêm cho cá đực bằng 1/3 - 1/2 cá cái. Sau khi tiêm kích dục tố, thả cá vào ao đặt sẵn giá thể, thường sau 10 - 12 giờ tiêm thì cá đẻ.

    Thụ tinh nhân tạo và ấp trứng

    - Sau khi tiêm kích dục tố, đến thời điểm cá rụng trứng, tiến hành vuốt trứng và sẹ, sau đó rải trứng lên giá thể rồi đem ương. Nếu ấp trứng bằng bình Weys thì phải khử dính trứng bằng nước dứa hoặc dung dịch tananh.
    - Môi trường ấp trứng phải đảm bảo nhiệt độ 28 – 30oC, ôxy hòa tan >5mg/l, pH 7 - 7,5; nước sạch, không nhiễm hóa chất và sinh vật hại trứng.
    - Mật độ ấp 1.000.000 - 1.500.000 trứng/m3 nước. Nếu ấp trứng theo phương pháp nước tĩnh có sục khí thì mỗi ngày thay nước 2 lần, mỗi lần 50 - 80%. Tùy thuộc nhiệt độ và phương pháp ấp, trứng sẽ nở sau 34 - 82h. Cá nở sau 2 - 3 ngày chuyển sang bể ương.

    Ương cá bột

    - Chuẩn bị ao ương: Ao ương có diện tích 200 - 500m2, nước sâu 0,8 - 1m. Ao được cải tạo kỹ (san vét bùn đáy, lấp hang hố, sạch cây cỏ...). Nước bơm vào ao cần được lọc kỹ qua lưới lọc. Nếu trong ao có cá thì cần diệt bằng dây thuốc cá 2 kg/100m3 nước.
    - Đáy ao được san phẳng, thấp dần về phía cống thoát. Dùng vôi bột liều lượng 7 - 10 kg/100m2, phơi nắng ao 2 - 5 ngày. Ao ương cần đảm bảo nhiệt độ nước 28 - 30oC, hàm lượng ôxy hòa tan 4 - 5 mg/l, pH 6,5 - 7,5
    - Mật độ thả: Cá bột sau 3 ngày vừa hết noãn hoàng, thả với mật độ 200 - 300 con/m2.

    Chăm sóc và cho ăn

    - Sau khi thả cá bột vào ao ương phải cho ăn ngay.
    - 10 ngày đầu cho cá ăn 5 lòng đỏ trứng gà (vịt) và 0,5kg bột đậu nành/100m2 ao trong ngày. Cho ăn 5 lần/ngày.
    - 15 ngày tiếp theo 6 - 8 lòng đỏ trứng và 0,6 - 0,7kg bột đậu nành/100m2/ngày. Cho ăn 4 lần/ngày.
    - Từ ngày thứ 26 đến 40 (cá đạt 2 - 3cm): cho ăn trùn chỉ, cá tạp, tép, ốc xay nhuyễn. Lượng thức ăn trong ngày 0,5 - 1,5 kg/ngày/100m2 ao.

    Lưu ý: Cá sau 20 ngày tuổi có thể ăn được động vật phù du, côn trùng... Vì vậy có thể gây màu nước tạo thức ăn tự nhiên.

    Kiểm tra cá: Dùng ống tre hoặc ống nhựa PVC đặt dưới ao để cá chui vào; khi muốn kiểm tra thì bịt hai đầu ống rồi đưa cá lên.

    Sau giai đoạn này có thể ương tiếp 3,5 - 4 tháng nữa, cá sẽ đạt 8 - 10cm. Từ giai đoạn này nuôi thêm 2 tháng sẽ thành cá lứa 50 - 70g/con để nuôi thành cá thịt. Nếu ương cá bống tượng trong bể xi măng hoặc bể bạt thì phải sục khí trong suốt quá trình ương, xiphong bể để loại bỏ chất thải, thức ăn thừa. Khi cá giống lớn, thay hằng ngày 10 - 20% lượng nước trong bể, để đảm bảo cá phát triển và phòng dịch bệnh.

    >> Cá bống tượng (Oxyleotris marmorata) có kích thước lớn nhất trong họ cá bống nước ngọt. ĐBSCL quanh năm nắng ấm và mưa, thích hợp cá bống tượng sinh trưởng, phát triển.

    Nguồn: Đoàn Quân, thuysanvietnam.com.vn.
    • By Truong Huynh Nhu
    • 2 comments
    • 4 likes
    • 2 days ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Ba Tôm
    • Nguyễn Trọng Ân and
    • 1 other
    • Ba Tôm Ở Bạc Liêu thì 7000đ- 14000đ/con tuỳ theo trọng lượng và kích cỡ. Có khi ra chợ còn mua đc 1kg với giá 90.000đ mua về kho tiêu ( cá rồng rồng cũng hay thấy bán)
      • 0 likes
      • Like
      • Reply
      • 8 hours ago
    • Nguyễn Trọng Ân giá cả con giống ntn chị nhỉ ? :)
      • 0 likes
      • Like
      • Reply
      • 2 days ago
  • Wetropolis: Dự án xây dựng thành phố nổi trên rừng ngập mặn phòng chống lũ lụt ở...
    Bangkok, thủ đô của Thái Lan, đang nhanh chóng bị nhấn chìm. Vấn đề càng tồi tệ hơn khi mà mực nước biển trên khắp đất nước đang tăng lên nhanh chóng do sự nóng lên toàn cầu.

    Thay vì xây dựng những con đê hoặc đập, công ty S + PBA đặt vấn đề - Tại sao không sử dụng nguồn lực hiện có của tự nhiên để ngăn ngừa thảm họa thiên nhiên đang ảnh hưởng đến không chỉ các thành phố lớn nhất của Thái Lan mà cả cộng đồng dân cư dễ bị tổn thương nhất? Câu trả lời của công ty là một dự án mới nhất của mình: một cộng đồng được thiết kế lấy cảm hứng từ truyền thống bản địa của Thái Lan dựa trên hình tượng những dòng nước không chỉ hiện đại, bền vững mà còn trực quan tuyệt đẹp.

    Thành phố Bangkok ban đầu được xây dựng trên vùng đầm lầy hơn 300 năm trước đây, đang chứng kiến ​​sự xuống cấp nhanh chóng của bề mặt đất. Sự phát triển nhanh chóng của thành phố bên trên đã làm cạn kiệt nguồn nước ngầm, khiến họ không thể xử lý nước lũ.

    Thành phố được bao quanh bởi các vùng nước bị ô nhiễm do sự bùng nổ của ngành công nghiệp nuôi tôm của Thái Lan và ngày càng trầm trọng hơn bởi các dự án phát triển liên tục mà bỏ qua vấn đề xử lý môi trường của đất nước.

    Thay vì thực hiện giải pháp phát triển thành phố bỏ qua sự khủng hoảng của nước lũ, S + PBA đã đem thực tế của môi trường vào thiết kế của họ. Kế hoạch Wetropolis của họ là xây dựng thành phố ngay trên rừng ngập mặn, các loài thực vật bản địa sẽ đảm nhận vai trò là bộ lọc nước tự nhiên, cung cấp nguồn không khí trong lành, và đối phó với sự nóng lên toàn cầu bằng cách làm mát toàn thành phố bởi các vùng biển xung quanh. Thiết kế của S + PBA cũng bao gồm kế hoạch phát triển các khu nuôi tôm bền vững xung quanh thành phố, do nguồn nước được lọc liên tục bởi các loại cây rừng ngập mặn. Cộng đồng và nhà ở, nơi mọi người có thể sống trên mặt nước trong một mạng lưới các căn hộ và các con đường được nối liền với nhau.

    © Triệu Thanh Tuấn, www.aquanetviet.org.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 1 comment
    • 2 likes
    • 2 days ago
    • Trieu Thanh Tuan and
    • Ba Tôm
    • Trieu Thanh Tuan Thành phố trong mơ, hy vọng dự án này thành hiện thực!
      • 0 likes
      • Like
      • Reply
      • 2 days ago
  • Các qui tắc quốc tế về nuôi tôm có trách nhiệm
    Nguyên tắc 1: Đặt trại nuôi tôm theo quy hoạch quốc gia và khuôn khổ pháp luật tại những địa điểm phù hợp về mặt môi trường, sử dụng tài nguyên đất và nước hiệu quả và theo cách thức bảo tồn được đa dạng sinh học, nơi cư trú và các chức năng của hệ sinh thái nhạy cảm về mặt sinh học với ý thức rằng những hoạt động sử dụng đất đai, con người và loài khác cũng dựa vào cùng hệ sinh thái này.

    Các tiêu chí cụ thể:

    • Xây dựng các trại tôm mới cao hơn khu vực bãi triều
    • Đảm bảo về tổng diện tích rừng ngập mặn hoặc các khu cư trú ngập nước nhạy cảm khác không giảm đi
    • Không đặt trại nuôi tôm ở trên cát hoặc những nơi mà sự rò rỉ hoặc việc thải nước mặn có thể ảnh hưởng xấu đến đất nông nghiệp và các nguồn cung cấp nước ngọt
    • Không đặt trại nuôi mới ở những vùng đã đạt tới giới hạn năng lực chứa
    • Duy trì các vùng đệm và hành lang cư trú giữa các trại nuôi với những người sử dụng và khu vực cư trú khác
    • Địa điểm đặt trại nên tuân theo luật sử dụng đất đai và quy hoạch khác đồng thời tuân theo các quy hoạch quản lý vùng ven biển
    • Cải thiện các trại tôm đã có ở khu vực bãi triều và các vùng rừng ngập mặn thông qua việc khôi phục rừng ngập mặn, bỏ đi các đầm kém hiệu quả và nâng các vùng đầm nuôi còn lại lên trên khu vực bãi triều.

    Nguyên tắc 2: Thiết kế và xây dựng đầm nuôi tôm theo cách thức giảm thiểu ảnh hưởng xấu đối với môi trường

    Các tiêu chí cụ thể:

    • Kết hợp các vùng đệm và các kỹ thuật, kỹ năng xây dựng nhằm giảm thiểu sự xói mòn và nhiễm mặn trong quá trình xây dựng và vận hành.
    • Giảm thiểu việc đào xới tầng đất nhiễm phèn trong quá trình xây dựng và hoạt động
    • Bảo tồn đa dạng sinh học và khuyến khích việc tái thiết lập những nơi cư trú trong quá trình thiết kế ao
    • Giảm thiểu việc gây suy thoái đất như việc mặt bằng đất đai không được sử dụng hoặc các hố đất tạm thời
    • Thiết kế đập, mương và cơ sở hạ tầng theo cách thức không gây ảnh hưởng bất lợi về thuỷ văn học
    • Cống tháo nước và cống cấp nước cần được xây dựng riêng rẽ để làm giảm tình trạng tự gây ô nhiễm và duy trì đa dạng sinh học.

    Nguyên tắc 3: Giảm thiểu tác động của nước sử dụng trong nuôi tôm đối với nguồn nước

    Các tiêu chí cụ thể:

    • Không sử dụng nước ngọt ngầm để kiểm soát độ mặn
    • Sử dụng nước có hiệu quả thông qua việc giảm thiểu lượng nước lấy vào đầm nuôi.
    • Giảm thiểu việc thải nước và chất thải của đầm nuôi ra môi trường
    • Hướng tới việc thải nước với hàm lượng chất dinh dưỡng và chất hữu cơ thấp hơn ra hệ sinh thái so với hàm lượng chất dinh dưỡng trong nước lấy vào đầm nuôi.
    • Đưa ao chứa và ao lắng vào trong thiết kế cống lấy nước vào và cống thải nước ra.
    • Quản lý chất lượng nước để duy trì các điều kiện chất lượng nước thích hợp trong ao nuôi
    • Tuân theo luật và hướng dẫn của nhà nước về sử dụng nước và nước thải

    Nguyên tắc 4: Ở những nơi có thể, sử dụng các nguồn tôm bố mẹ và tôm giống sạch bệnh/ hoặc kháng bệnh đã được chọn lọc và thuần hoá để tăng cường an toàn sinh học, giảm tỷ lệ mắc bệnh và tăng năng suất đồng thời giảm được nhu cầu về con giống tự nhiên

    Các tiêu chí cụ thể:

    - Tránh các tác động tiêu cực tiềm tàng đối với đa dạng sinh học của địa phương
    - Ưu tiên giống địa phương, bản địa
    - Tránh sử dụng tôm giống đánh bắt ngoài tự nhiên
    - Thực hiện các biện pháp cách ly tại ao và an toàn sinh học để giảm tỷ lệ
    dịch bệnh
    - Sử dụng nguồn giống đã được thuần hoá ở những nơi có thể sử dụng
    - Thả con giống có chất lượng tốt để tăng cơ hội vụ nuôi thành công
    - Tuân theo các tiêu chí của quốc gia, khu vực và quốc tế về di chuyển và cách ly động vật.

    Nguyên tắc 5: Sử dụng thức ăn và các quy tắc thực hành quản lý thức ăn để sử dụng có hiệu quả các nguồn thức ăn sẵn có, tăng cường khả năng tăng trưởng hiệu quả của tôm, giảm thiểu việc tạo và thải ra các chất dinh dưỡng

    Các tiêu chí cụ thể:

    - Sử dụng thức ăn chế biến theo công thức có chất lượng tốt, chứa ít bột cá và hàm lượng protein thấp hơn
    - Sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên
    - Giảm thiểu thức ăn thừa

    Nguyên tắc 6: Các kế hoạch quản lý sức khoẻ cần được áp dụng nhằm giảm stress, giảm thiểu nguy cơ dịch bệnh tác động đến cả loài tự nhiên và loài nuôi và tăng cường an toàn thực phẩm.

    Các tiêu chí cụ thể:

    - Thực hiện các quy tắc quản lý sức khoẻ nhằm mục tiêu giảm stress và tập trung vào phòng bệnh hơn chữa bệnh
    - Duy trì an toàn sinh học và giảm thiểu việc lây lan dịch bệnh giữa tôm bố mẹ, trại giống và vật nuôi
    - Thực hiện các chiến lược quản lý để tránh lây lan dịch bệnh tôm trong trại và từ trại ra ngoài
    - Nâng cao khả năng kiểm soát về sức khoẻ và dịch bệnh trong nông dân và các tổ chức hỗ trợ
    - Bảo đảm việc sử dụng thuốc thú ý hợp lý và có trách nhiệm và giảm thiểu việc (chỉ) sử dụng các kháng sinh được phép sử dụng.

    Nguyên tắc 7: Bảo đảm an toàn thực phẩm và chất lượng các sản phẩm tôm trong khi giảm bớt các nguy cơ từ sử dụng kháng sinh đối với hệ sinh thái và sức khoẻ con người.

    Các tiêu chí cụ thể:

    - Hoàn toàn không sử dụng các loại thuốc và hoá chất bị cấm
    - Sử dụng hợp lý thuốc thú y và hoá chất được phép sử dụng
    - Đào tạo công nhân đầm nuôi về cách bảo quản và sử dụng các loại thuốc và hoá chất
    - Áp dụng quản lý chất lượng đối với các sản phẩm lành và sạch
    - Thu hoạch, bảo quản và vận chuyển tôm thành phẩm một cách vệ sinh

    Nguyên tắc 8: Xây dựng và vận hành các trại nuôi một cách có trách nhiệm xã hội, có nghĩa là có lợi cho trại nuôi, cộng đồng địa phương và quốc gia và đóng góp một cách có hiệu quả vào phát triển nông thôn, đặc biệt là giảm nghèo ở các vùng ven biển và đồng thời không làm tổn hại đến môi trường.

    Các tiêu chí cụ thể:

    - Giảm thiểu các xung đột xuất phát từ hoạt động xây dựng và vận hành trại nuôi với các cộng đồng dân cư địa phương cũng như bảo đảm được rằng dự án mang lại lợi ích cho nhiều phía.
    - Bảo đảm các lợi ích về nuôi tôm đến với cộng đồng rộng lớn hơn
    - Bảo đảm phúc lợi của công nhân
    - Giảm thiểu các nguy cơ cho các hộ sản xuất quy mô nhỏ
    - Đào tạo ngư dân và công nhân về các quy tắc thực hành nuôi tôm có trách nhiệm và bảo quản sử dụng thuốc và hoá chất an toàn
    - Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng hiệu quả

    Tài liệu tham khảo
    FAO 1998. Report of the Bangkok FAO Technical Consultation on Policies for Sustainable Shrimp Culture. Bangkok, Thailand, 8-11 December 1997. FAO Fisheries Report No. 572. Rome. 31p.
    World Bank. 1998. Report on Shrimp Farming and the Environment – Can Shrimp Farming be Undertaken Sustainability? A Discussion Paper designed to assist in the development of Sustainable Shrimp Aquaculture.
    World Bank, NACA, WWF and FAO. 2002. Shrimp Farming and the Environment. A World Bank, NACA, WWF and FAO Consortium Program “To analyze and share experiences on the better management of shrimp aquaculture in coastal areas”. Synthesis report. Work in Progress for Public Discussion. Published by the Consortium. 126 pages (available at www.enaca.org/shrimp).
    Nguồn: vietlinh.com.vn
    • By Truong Huynh Nhu
    • 0 comments
    • 2 likes
    • 2 days ago
    • Trieu Thanh Tuan and
    • Ba Tôm
  • Cá tu sĩ - Monkfish
    Monkfish (hoặc headfish) là tên tiếng Anh của một số loại cá ở phía tây bắc Đại Tây Dương, đặc biệt là các loài cá vây chân (anglerfish) thuộc giống Lophius và cá mập thiên thần (angelshark) thuộc giống Squatina.

    Cá tu sĩ có thể phát triển đến chiều dài hơn 1,5 m (5 ft); đa số những con bắt được có chiều dài khoảng 1 m (3 ft). Con cá lớn nhất từng bắt được nặng 115 kg (253 lb) vào ngày 07 tháng 01 năm 2012, bởi Frank-Rune Kopperud ở Na Uy. Kỷ lục trước đó là một con nặng 99,4 kg (219 lb).

    Thân thể đầy nhớt của nó được bao phủ bởi các gai nhọn và những cục bướu, cái miệng to lớn với hàng đống răng sắc nhọn trông rất đáng sợ. Thực sự, cá Monkfish ghê tởm đến mức một số nước, như Pháp, đã từng cấm chúng, vì hình dáng của chúng gây sợ hãi đến mức người ta không dám mua cá khi có sự hiện diện của chúng cùng với các loài thủy sản khác. Giải pháp để giảm bớt sự sợ hải là cắt đầu chúng đi, chỉ để lại phần đuôi. Thật may mắn, đuôi cá là phần thịt rất ngon. Sau khi bỏ cái đầu đáng sợ, nó nhanh chóng trở thành món ngon ở nhiều nơi trên thế giới. Đuôi cá có thịt mọng nước, ít chất béo.

    Ở châu Âu và Bắc Mỹ, nhiều người khen đuôi cá monfish giống đuôi tôm hùm, tương tự về mùi vị và cơ cấu thịt và chúng thường có giá tương đương với tôm hùm, trong một số trường hợp thậm chí giá còn cao hơn tôm hùm và các loại hải sản quí khác. Ngày nay, cá monkfish thường được dùng làm thực phẩm phổ biến ở Bồ Đào Nha và các khu vực ven biển phía Bắc và phía Nam của Tây Ban Nha, chẳng hạn như Catalonia, Valencia và Galicia.

    © Triệu Thanh Tuấn, www.aquanetviet.org.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 1 comment
    • 4 likes
    • 2 days ago
    • Truong Huynh Nhu
    • Admin
    • Ba Tôm and
    • 1 other
    • Trieu Thanh Tuan Theo kinh nghiệm của tôi thì những con cá đẹp, màu sắc sặc sỡ thường có thịt rất tệ. Trái lại, những con cá xấu xí trông đáng sợ lại có thịt rất ngon. Cá lau kính ở Việt Nam là một con như thế, nếu có dịp bạn hãy nếm thử thịt của chúng nhé, rất tuyệt. Thậm chí nhiều người còn so sánh thịt cá lau kính với thịt gà thả vườn. Ăn cá lau kính cũng là một cách góp phần bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học ở Việt Nam khi mà số lượng cá lau kính đang tăng lên ở mức báo động, có nguy cơ đe dọa môi trường sống của các loài thủy sản khác ở nước ta.
      • 0 likes
      • Like
      • Reply
      • 2 days ago
  • Thế nào là một "big fish"?
    Cắc chắn bạn sẽ nghĩ ngay đến một "con cá lớn" khi nghe đến thuật ngữ "big fish", tuy nhiên không phải lúc nào "big fish" cũng là một con cá lớn. Mark Wollacott giải thích cho các bạn nhiều điều thú vị khác về thuật ngữ này.

    Một người được gọi là một “big fish” là một người quan trọng. Điều này thường kèm theo một giả thuyết không được nói ra là tất cả những người khác xung quanh anh ta kém quan trọng hơn. Những người như vậy thường được gọi là “small fry”, hay “cá non nhỏ”. Người quan trọng đó được so sánh với những người khác trong phạm vi một lĩnh vực giới hạn nhất định như trong một công ty, một môn nghệ thuật hay một nơi nào đó.

    Nguồn gốc chính xác của từ này chưa được biết, nhưng người ta nghĩ nó đến từ Mỹ. Là một “con cá lớn trong một cái ao nhỏ” đầu tiên được viết trong Galveston News vào tháng 6 năm 1881. Nguồn gốc câu chuyện có thể là có một con cá lớn bất thường sống ở một cái ao nào đó, mặc dù cái ao này, nếu nói về câu cá, có thể là một dòng sông hay một cái hồ; “cái ao” cũng có thể là một uyển ngữ ám chỉ Đại Tây Dương ngăn cách Anh và Mỹ. Thuật ngữ này ám chỉ một người siêu việt hơn những đồng nghiệp của anh ta hay cô ta; trong trường hợp này, đó là một dấu hiệu của sự tôn trọng.

    Nó cũng được dùng để nói đến sự thiếu tham vọng. Giả thuyết là một con cá lớn sống trong ao nhỏ là không muốn tìm một vị trí tốt hơn hoặc chuyển đến một thành phố lớn hơn. Nó cũng ám chỉ một người thấy tiện lợi hơn hay hạnh phúc hơn khi là một big fish so với một small fry.

    Trong thể thao, một big fish là một cầu thủ tài năng chơi cho một đội làng nhàng. Thông thường, một big fish sẽ chuyển đến một câu lạc bộ lớn hơn để anh ta có thể tốt hơn, nhưng không phải luôn luôn như vậy. Một cầu thủ như thế, Steve Bull, dành toàn bộ sự nghiệp cầu thủ của mình chơi cho đội bóng quê nhà, Wolverhampton Wanderers, mặc dù đội này chỉ được xếp hạng hai của bóng đá Anh.

    “Big Fish” là tên một quyển sách của Daniel Wallace và chuyển thể phim của nó được đạo diễn bỡi Tim Burton. Câu chuyện gồm nhiều chi tiết hoang đường và truyền thuyết, sự tưởng tượng và thực tế. trong đó, nhân vật chính Edward Bloom kể lại cuộc đời mình như một loạt các câu chuyện phóng đại và khó có thể xảy ra khi băng qua các bang miền nam của nước Mỹ trong nửa sau thế kỷ hai mươi. Bloom là một Big Fish, người rời khỏi cái ao, nhưng nhận thấy sự cần thiết phải phóng đại cuộc sống của mình để vẫn quan trọng, ngay cả khi anh ta không cần phải làm thế.

    Nguồn: Blog Biển và Người.
    • By Truong Huynh Nhu
    • 1 comment
    • 3 likes
    • 2 days ago
    • Admin
    • Tigôn_lanhlung and
    • Ba Tôm
    • Ba Tôm Trong tất cả member aquanetviet thì A.Tuấn là 1 BIG FISH. :)
      • 1 like
      • Like
      • Reply
      • 1 day ago
  • So sánh cấu trúc hệ vi khuẩn trong các ao nuôi tôm thâm canh, quảng canh và khu ...
    Cấu trúc hệ vi khuẩn trôi nổi được xác định trong các ao nuôi tôm thâm canh thí nghiệm nơi có một hệ thống nuôi thủy sản kết hợp tôm – rừng đước, một ao nuôi tôm quảng canh và một khu vực rừng đước ở Thái lan với phương pháp phân tích DGGE (denaturant gradient gel electrophoresis) của phản ứng chuỗi polymerase (PCR) được khuyếch đại một đoạn gen 16S rRNA.

    Cấu trúc hệ vi khuẩn trong các ao nuôi tôm thâm canh rất khác biệt so với khu vực rừng đước. Trong các ao nuôi tôm quảng canh, cấu trúc hệ vi khuẩn có sự tương đồng với khu vực rừng đước tuy nhiên lượng vi khuẩn cao ngang bằng với lượng vi khuẩn có trong các ao nuôi thâm canh. Trong các ao nuôi thâm canh, cấu trúc hệ vi khuẩn cũng cho thấy có sự khác biệt giữa hệ thống nuôi khép kín và hệ thống nuôi kết hợp tôm – rừng đước. Hơn nữa hệ vi khuẩn trong các ao được trồng đước rất gần với các ao nuôi thâm canh khi có bố trí tôm thí nghiệm nhưng nó lại giống với hệ vi khuẩn ở khu vực rừng đước khi không nuôi tôm. Kết quả này cho thấy rằng nuôi tôm thâm canh với lượng thức ăn đưa vào đã có ảnh hưởng đến cấu trúc của hệ vi khuẩn trong ao.

    Người dịch: Ths. Nguyễn Thị Hồng Vân (nthvan@ctu.edu.vn), Trung tâm Ứng dụng và CGCN, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
    Nguồn tin: Tomoko SAKAMI, Yoshimi FUJIOKA AND Toru SHIMODA. Comparison of microbial community structures in intensive and extensive shrimp culture ponds and a mangrove area in Thailand. FISHERIES SCIENCE 2008; 74: 889–898.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 1 like
    • 2 days ago
    • Ba Tôm
  • Nghiên cứu việc tăng năng suất chất béo từ tảo Chlorella vulgaris nước ngọt
    Nghiên cứu việc tăng năng suất chất béo từ tảo Chlorella vulgaris nước ngọt được thực hiện bằng việc khảo sát các yếu tố quan trọng như ảnh hưởng của lượng CO2, chất đạm và thời gian thu hoạch cũng như phương pháp chiết xuất.

    Thời gian làm khô khi chiết xuất chất béo từ sinh khối tảo đã ảnh hưởng đến thành phần và hàm lượng chất béo. Sấy khô mẫu ở nhiệt độ rất thấp cùng với hút chân không cho kết quả tốt nhất, sấy khô ở 60oC tuy vẫn duy trì thành phần chất béo nhưng làm giảm đi hàm lượng chất béo tổng cộng. Sấy khô mẫu ở nhiệt độ cao hơn đã làm giảm lượng chất béo triacylglyceride (TG). Tán nhuyễn mẫu khô bằng sóng siêu âm không làm ảnh hưởng đến hàm lượng chất béo hoặc thời gian ly trích mẫu. Việc tăng hàm lượng chất béo trong các tế bào tảo cũng là kết quả của việc nuôi cấy trong môi trường hầu như không có chất đạm. Kết quả cho thấy việc thay đổi từ môi trường dinh dưỡng bình thường sang môi trường nuôi hầu như không có chất đạm sẽ làm thay đổi thành phần chất béo từ dạng giàu acid béo tự do sang dạng chứa phần lớn TG. Hàm lượng chất béo cao hơn khi tảo sinh trưởng rất chậm vì thiếu đạm, do đó cần kết hợp giữa hàm lượng chất béo và thời gian thu hoạch để đạt được các kết quả cao hơn về cả về lượng và thành phần chất béo.

    Sinh trưởng của tảo có thể được cải thiện đáng kể thông qua việc tăng hàm lượng CO2, hàm lượng CO2 cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tăng năng suất chất béo. Ở hàm lượng CO2 từ thấp đến trung bình, năng suất chất béo cao nhất có thể đạt được khi môi trường thiếu đạm và giá trị này vượt trội hơn so với nuôi trong điều kiện dinh dưỡng bình thường. Ở hàm lượng CO2 cao, việc thu hoạch vào cuối pha tăng sinh (linear phase) trong điều kiện dinh dưỡng bình thường cho năng suất chất béo cao nhất. Tuy nhiên, bằng cách giảm thời gian nuôi trong điều kiện thiếu chất đạm, hàm lượng chất béo cũng như năng suất chất béo cao hơn vẫn có thể đạt được.

    Người dịch: Ts. Ngô Thị Thu Thảo (thuthao@ctu.edu.vn). BM Kỹ thuật nuôi Hải sản, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
    Nguồn tin: Arief Widjaja, Chao-Chang Chien and Yi-Hsu Ju. 2009. Study of increasing lipid production from fresh water microalgae Chlorella vulgaris. Journal of the Taiwan Institute of Chemical Engineers Volume 40, Issue 1, Pages 13-20.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 1 comment
    • 3 likes
    • 2 days ago
    • Admin
    • Thuy Loan Tran and
    • Ba Tôm
    • Thuy Loan Tran món này ngon bổ lắm nè ;)
      • 1 like
      • Like
      • Reply
      • 2 days ago
  • Ảnh hưởng của các khẩu phần thức ăn chứa tỷ lệ protein- năng lượng khác nhau đến...
    Nhằm đánh giá ảnh hưởng của các tỉ lệ protein- năng lượng khác nhau đến sự tăng trưởng và thành phần sinh hóa cơ thể tôm chân trắng giai đoạn giống (trọng lượng trung bình 0,09g ± 0,002g) , thí nghiệm gồm 12 nghiệm thức thức ăn được phối chế chứa 4 mức hàm lượng protein (300, 340, 380 và 420 g/kg thức ăn) và 03 mức hàm lượng lipid (50, 75 và 100 g/kg thức ăn) được tiến hành trong 10 tuần.Mỗi nghiệm thức thức ăn được bố trí ngẫu nhiên với 3 lần lặp lại trong bể 260L chứa 30 tôm/bể.

    Trong suốt thời gian thí nghiệm nhiệt độ dao động trong khoảng 28.5±2oC và độ mặn là 28 ± 1g/L. Kết quả thí nghiệm cho thấy các nghiệm thức thức ăn ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê (P<0,05) đến sự tăng trưởng của tôm nuôi. Tôm được cho ăn với thức ăn chứa hàm lượng protein 300g/kg có tốc độ tăng trưởng chậm nhất. Tuy nhiên, tôm được cho ăn thức ăn chứa hàm lượng lipid 75g/kg chỉ lớn nhanh hơn chút ít so với tôm cho ăn bằng thức ăn chứa lipid ở mức 50g/kg khi có cùng hàm lượng đạm, thậm chí tôm có chút suy giảm tăng trưởng khi hàm lượng lipid tăng lên 100g/kg. Tôm chân trắng giống khi được cho ăn thức ăn chứa protein ở mức 420g/kg và lipid là 75g/kg có tốc độ tăng trưởng đặc biệt cao nhất; nhưng tôm cho ăn bằng thức ăn chứa 340g/kg protein và 75g/kg lipid lại thể hiện sự tăng trưởng tốt, hiệu quả sử dụng protein, chuyển hóa năng lượng và hiệu quả sử dụng thức ăn cao nhất so với các nghiệm thức khác. Hàm lượng Triglycerides và Cholesterol tổng số trong huyết thanh của tôm chân trắng tăng lên khi tăng hàm lượng lipid trong thức ăn có cùng hàm lượng protein. Sự tăng hàm lượng lipid trong cơ thể tôm và năng lượng với sự tăng hàm lượng lipid trong khẩu phần thức ăn không phụ thuộc vào hàm lượng protein chứa trong thức ăn.

    Các kết quả thu nhận được từ nghiên cứu này cho thấy khẩu phần thức ăn chứa 340g/kg protein và 75g/kg lipid (tỉ lệ protein tiêu hóa/ năng lương tiêu hóa là 21,1 mg/kJ) là hàm lượng tối ưu cho tôm chân trắng giai đoạn giống, và việc tăng hàm lượng lipid trong thức ăn không làm tăng hiệu quả tiết kiệm protein.

    Người dịch: Ths. Bùi Châu Trúc Đan (bctdan@ctu.edu.vn), BM Kỹ thuật nuôi Thủy sản nước ngọt, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
    Nguồn tin: Y. Hu, B. Tan, K. Mai, Q. Ai, S. Zheng and K. Cheng. 2008. Growth and body composition of juvenile white shrimp, Litopenaeus vannamei, fed different ratios of dietary protein to energy. Aquaculture Nutrition, Volume 14, Pages 499-506.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 3 likes
    • 2 days ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Admin and
    • Ba Tôm
  • Ảnh hưởng của hóa chất đến quá trình biến thái của ấu trùng trai ngọc Pinctada f...
    Trai ngọc Pinctada fucata martensii là đối tượng thủy sản quan trọng ở vùng biển Nam Trung Quốc và có giá trị thương phẩm cao trong ngành công nghiệp ngọc trai.

    Những khó khăn của việc nuôi thương phẩm thương liên quan đến vấn đề biến thái chuyển sang sống đáy của ấu trùng trai ngọc. Điều quan trọng là tìm ra phương pháp đơn giản, ít tốn kém và hiệu quả để kích thích quá trình biến thái và chuyển sang sống đáy đồng loạt của ấu trùng. Nghiên cứu này khảo sát ảnh hưởng của 11 loại hóa chất đến việc kích thích ấu trùng P. fucata martensii biến thái.

    Ấu trùng được thử nghiệm với thời gian 96h trong môi trường có hóa chất. Trong số các hóa chất thử nghiệm, K+ (10 và 20 mM), Ca2+ (1 và 50 mM), axít γ-aminobutyric (10-4 M), 3-isobutyl-1-methylxanthine (10-4 M), choline (10-3, 10-4 M), acetylcholine (10-4 M), và serotonin (10-3, 10-4, 10-5 M) đã kích thích phần lớn ấu trùng chuyển sang sống đáy mà không gây độc, trong khi Mg2+, NH4+, dopamine, và 3-(3,4-Dihydroxyphenyl)-L-alanine đã tỏ ra kém hiệu quả ở tất cả các liều thí nghiệm. Serotonin với liều 10-4 M cho kết quả ấu trùng biến thái cao nhất nhưng lọai hóa chất này đắt tiền. K+ có hiệu quả thấp hơn nhưng rẻ hơn do đó có thể có hiệu quả kinh tế trong việc sản xuất đại trà.

    Người dịch: Ts. Ngô Thị Thu Thảo (thuthao@ctu.edu.vn), BM Kỹ thuật nuôi Hải sản, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
    Nguồn tin: Xiujuan Yu, Weihong He, Ji-Dong Gu, Maoxian He and Yan Yan. 2008. The effect of chemical cues on settlement of pearl oyster Pinctada fucata martensii (Dunker) larvae. Aquaculture Volume 277, Issues 1-2, Pages 83-91.
    • By Admin
    • 0 comments
    • 2 likes
    • 2 days ago
    • Ba Tôm and
    • Nguyễn Trọng Ân
  • Acid béo thiết yếu của cua biển Scylla serrata: những thiếu hụt khả năng sinh tổ...
    Nghiên cứu này đánh giá ảnh hưởng của các acid béo thiết yếu (EFA) đến tỷ lệ sống, sự phát triển và chuyển hóa sinh học của acid béo ở ấu trùng cua biển Scylla serrata.

    Ấu trùng cua được giữ trong các cốc nhựa 1 lít (30 con/lít) và cho ăn luân trùng được giàu hóa bằng oleic (18:1n-9, OA), linoleic (18:2n-6, LA), linolenic (18:3n-3, LNA), eicosapentaenoic (20:5n-3, EPA) và docosahexaenoic (22:6n-3, DHA) ở giai đoạn Zoea 1 và Zoea 2. Trước khi chuyển qua giai đoạn Zoea 3, luân trùng được thay thế bằng Artemia không giàu hóa hoặc Artemia giàu hóa với EPA hoặc DHA. Để so sánh ảnh hưởng của luân trùng đã giàu hóa đến thành phần acid béo của giai đoạn Z2, ấu trùng cua cho ăn loại thức ăn này được thu hoạch trước khi đạt đến giai đoạn Z2 và sử dụng cho việc phân tích acid béo.

    Lượng EFA trong Artemia ảnh hưởng mạnh hơn trong luân trùng đến tỷ lệ sống của ấu trùng cua. Ấu trùng cua ăn Artemia không giàu hóa có dấu hiệu thiếu EFA như tỷ lệ sống thấp, thời gian lột xác kéo dài và giáp đầu ngực nhỏ hơn ở giai đoạn cua I chứng tỏ rằng DHA có vai trò trội hơn EPA, tiếp theo là LNA và LA. Thành phần acid béo của cơ thể ấu trùng Z2 ăn luân trùng giàu hóa với OA, LA hoặc LNA cho thấy EPA giảm từ 1,2 đến 0,4 -0,8 và DHA giảm từ 0,5 đến 1,0-0,2. Hơn nữa, thành phần acid béo 1 nối đôi tăng lên từ 1,4 đến 2,5-3,2 cho thấy sự thiếu hụt EFA trong khẩu phần. Có thể kết luận rằng, ấu trùng cua biển có khả năng rất hạn chế hoặc không đáng kể để chuyển hóa các acid béo C18 chưa bão hòa thành các acid béo chưa bão hòa có mạch carbon dài hơn.

    Người dịch: Ts. Ngô Thị Thu Thảo (thuthao@ctu.edu.vn), BM Kỹ thuật nuôi Hải sản Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
    Nguồn tin: M. Agus Suprayudi, Toshio Takeuchi and Katsuyuki Hamasaki. 2004. Essential fatty acids for larval mud crab Scylla serrata: implications of lack of the ability to bioconvert C18 unsaturated fatty acids to highly unsaturated fatty acids. Aquaculture Volume 231, Issues 1-4, Pages 403-416.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 1 like
    • 2 days ago
    • Ba Tôm
  • Vai trò của a xít hữu cơ đối với phòng trị bệnh tôm
    A xít hữu cơ có vai trò quan trọng trong phòng trị bệnh đường ruột của nhiều loài vật nuôi kể cả gia súc, gia cầm và hiện nay đang được ứng dụng trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản.

    Các a xít hữu cơ quan trọng có khả năng ức chế sự phát triển của nhiều loài vi khuẩn Vibrio spp gây bệnh cho tôm, đặc biệt Vibrio harveyi. Chủ yếu là nhóm a xít hữu cơ mạch ngắn, bao gồm:

    1. Acetic acid
    2. Butyric acid
    3. Formic acid
    4. Propionic acid

    Trong đó, Formic Acid đã được đánh giá khả năng ức chế Vibrio harveyi tốt hơn so với các a xít hữu cơ khác, kế đến là Acetic Acid, Propionic Acid, Butyric Acid.

    Vì vậy, việc đưa a xít hữu cơ vào đường ruột của vật nuôi để ngăn ngừa các mầm bệnh Vibrio spp. là rất quan trọng cho các loài vật nuôi gia súc, gia cầm và thủy sản. Tuy nhiên, các nguồn a xít hữu cơ tổng hợp không phải là lựa chọn tốt cho đối tượng tôm nuôi vì khác với các đối tượng gia súc, gia cầm thì tôm rất dễ bị stress (sốc) khi môi trường thay đổi quá nhanh vì vậy việc đưa a xít hữu cơ tổng hợp vào ruột tôm sẽ gây nên sự thay đổi pH đường ruột đột ngột, làm sốc tôm (stress) và việc sử dụng liều cao các a xít hữu cơ tổng hợp thường phải dùng liều cao nên ít nhiều sẽ ảnh hưởng đến các nhu mao đường ruột nên tốt nhất là nên đưa các chủng Vi sinh đường ruột có lợi để các vi sinh này tiết ra các a xít hữu cơ tự nhiên làm giảm pH đường ruột một cách từ từ và các a xít hữu cơ tự nhiên này không làm ảnh hưởng đến nhu mao thành ruột.

    Tóm lại: người nuôi tôm cần đưa a xít hữu cơ vào đường ruột của tôm giúp ức chế Vibrio spp. phát triển nhưng phải chọn các chủng vi sinh đường ruột có khả năng tiết ra a xít hữu cơ tự nhiên (đa số là Bacillus) - người nuôi không nên can thiệp bằng a xít hữu cơ tổng hợp. Ngoài a xít hữu cơ ra, vitamin C chất lượng tốt cung cấp cho đường ruột cũng có vai trò rất tốt trong phóng bệnh cho tôm.

    Nguồn: TS. Nguyễn Duy Hòa, contom.com.vn
    • By Truong Huynh Nhu
    • 0 comments
    • 4 likes
    • 3 days ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Admin
    • Ba Tôm and
    • 1 other
  • Cá bướm má xanh - Bluecheek Butterfly Fish
    Cá bướm má xanh có tên khoa học là Chaetodon semilarvatus, thuộc giống Chaetodon, giống phụ (Subgenus) Rabdophorus thuộc họ Chaetodontidae. Cá bướm má xanh phân bố ở Biển Đỏ và Vịnh Aden, ở độ sâu từ 3 đến 20 m. Chiều dài của nó có thể lên đến 23 cm (9,1 in).

    Cá bướm má xanh thường có màu vàng sáng với những vạch vàng trên cả hai bên thân. Chúng cũng có một mảng màu đậm phía sau mắt. Đa số được nuôi thành cặp trong các bể cá, loài cá có hình dáng chiếc đĩa này là một sinh vật được nuôi làm cá cảnh phổ biến. Môi trường sống của nó là các rạn san hô, có thể thấy chúng tập trung thành đàn tới 20 con và thường ăn san hô sống. Trong thực tế, sự có mặt của cá này với số lượng nhiều là một chỉ thị về sự đa dạng sinh học của rạn san hô trong một khu vực cụ thể.

    © Triệu Thanh Tuấn, www.aquanetviet.org.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 3 likes
    • 3 days ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Admin and
    • Ba Tôm
  • Dao cắt sushi và sashimi của Nhật Bản có gì đặc biệt?
    Khi người Phương Tây nói về dao cắt sushi, họ thường chỉ tới một loại dao cắt nói chung được dùng cho mọi thứ từ xắt rau tới cắt những cuộn sushi cuối cùng. Ở đây, chúng ta phân biệt những loại dao phương tây và những loại dao Nhật Bản bỡi hai khác biệt chính: vật liệu và độ sắc bén.

    Sushi là món ăn Nhật Bản được làm từ cơm và rau hoặc hải sản, thỉnh thoảng có thêm trứng. Ở Phương Tây, loại sushi thông thường nhất là loại makizushi, nơi mà các nguyên liệu khác được gói trong một miếng rong biển gọi là nori, cơm có thể bên trong hay bên ngoài miếng gói. Sushi thường sử dụng cá sống, ví dụ như cá hồng hay cá ngừ, là thành phần chính.

    Trong truyền thống, dao sushi được làm từ thép carbon chất lượng cao, cùng loại được dùng để rèn katana, một loại kiếm Nhật truyền thống. Một con dao trung bình, thỉnh thoảng được gọi là dao bento, người ta có thể thấy trong các nhà bếp ngày nay không sử dụng loại vật liệu có chất lượng cao như vậy, thay vì thế họ dùng thép không rỉ loại tốt. Tuy nhiên, các công cụ hiện đại vẫn dựa vào thép có hàm lượng carbon cao.

    Một khác biệt lớn nữa giữa dao sushi và dao bình thường ở Phương Tây là cách nó được làm bén. Trong khi hầu hết dao Phương Tây thường làm bén hai phía của lưỡi, dao được thiết kế chuyên cắt sushi được làm bén chỉ một phía, kiểu được gọi là kataba. Cho những đầu bếp thuận tay phải, nó được làm bén ở phía phải, và một số ít hơn được sản xuất cho những đầu bếp thuận tay trái, nó được làm bén phía trái. Dao làm bén một phía làm cho miếng cắt sạch hơn và chính xác hơn, nhưng học sử dụng dao này hơi khó và làm tốn thời gian cho những người mới bắt đầu thành thạo.

    Xem xét sâu hơn những điều chung chung, có rất nhiều khác biệt trong các loại dao dùng để sáng tạo sushi. Mỗi cái được thiết kế theo một cách, làm cho nó nổi trội hơn ở một kiểu cắt đặc biệt, một số loài cá đặc biệt có dao được thiết kế riêng để cắt chúng.

    Có ba loại dao để cắt sashimi cá là yanagiba, fuguhiki và takohiki. Dao yanagiba trông tương tự như dao gọt vỏ Phương Tây, và được dùng cho đa số các loại cá. Dao fuguhiki được thiết kế đặc biệt để cắt một con cá nóc, hay fugu. Dao takohiki có lưỡi dài hơn, mỏng hơn được dùng cho bạch tuộc và mực. Đối với những loại cá có kích thước khó quản lý, ví dụ như cá ngừ lớn, có một loại dao đặc biệt có thể dài hơn 6 feet (2 mét).

    Deba bocho là một kiểu dao sushi nữa, rộng hơn yanagiba nhiều, và giống với dao lạng của Phương Tây về phương diện nào đó. Chúng được dùng để cắt những miếng cá dày hơn, nhưng chủ yếu là để cắt những loại thịt không phải cá như thịt bò hay thịt gà. Chiếc dao phay này được dùng để cắt thô những con cá , trước khi dùng dao yanagiba hay một loại dao khác, nhỏ hơn cắt những miếng thịt này thành những miếng nhỏ để làm sushi.

    Dao unagisaki được thiết kế để fillet lươn, một loài thường dùng làm sushi. Dao này gần như có hình vuông, có một điểm bén và một góc vuông ở đầu. Điểm nhọn này được thiết kế để đâm vào đầu lươn để thân của nó được cắt lát dễ hơn.

    Rau củ thường được cắt bỡi hai loại dao, hoặc là usuba, hoặc nakiri. Dao này có cạnh thẳng để chúng có thể cắt rau dễ hơn với chỉ một lần cắt, không cần đưa tới đưa lui hay ấn nó xuống. Lưỡi dao này mỏng, bảo đảm một vết cắt chính xác và sạch mà không làm rau bị dập. Dao nakiri được làm bén hai phía, làm chúng thích hợp hơn cho những người mới, trong khi usuba chỉ được làm bén một phía.

    Một con dao sushi đa mục đích đơn giản cũng có thể tìm mua được từ các nhà cung cấp dao với giá không đắt lắm. Những con dao đặc biệt và chất lượng cao có thể có giá rất đáng kể, và sưu tập một bộ dao đầy đủ có thể là một nhiệm vụ khó khăn. Đối với những người dùng dao ở nhà, nên mua một con dao từ một nhà sản xuất tin cậy có chất lượng thích hợp để dùng ở nhà mà không phải vét túi.

    >> Maguro-kiri, hay tuna knife, hay dao cắt cá ngừ là loại dao đặt biệt để cắt và fillet những con cá ngừ lớn nguyên con. Dao này có lưỡi và tay cầm dài hơn nhiều so với những con dao tiêu biểu. Những con dao rất dài này được thiết kế một cách khéo léo với lưỡi được làm từ thép carbon mềm hơn so với những con dao khác, làm cho nó dễ dàng hơn để sửa chữa những sứt mẻ nhỏ cho lưỡi dao trong việc fillet những con cá lớn vô cùng vất vả. Dao cắt cá ngừ thường được bán ở các chợ cá ở Nhật Bản, như chợ cá Tsukiji, nơi họ tổ chức đấu giá cá ngừ vào mỗi buổi sáng.

    Nguồn: Blog Biển và Người
    • By Truong Huynh Nhu
    • 0 comments
    • 3 likes
    • 3 days ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Admin and
    • Ba Tôm
  • Ảnh hưởng của việc thay thế Casein bằng bột cá, bột đậu nành và bột giáp xác tro...
    Thí nghiệm đánh giá ảnh hưởng của việc thay thế Casein trong thức ăn cho bào ngư, Haliotis discus hannai Ino được tiến hành trong 16 tuần. Bào ngư sử dụng cho thí nghiệm này có trọng lượng ban đầu là 13,5 ± 0,12g, được bố trí cho ăn các nghiệm thức thức ăn sau:

    - CS: thức ăn chứa 350g casein/kg thức ăn
    - FS: thay thế toàn bộ Casein bằng: 300g bột cá + 200g bột đậu nành cho 1 kg thức ăn
    - FSK: thay thế toàn bộ Casein bằng: 200g bột cá + 200g bột đậu nành + 130g bột nhuyễn thể cho 1 kg thức ăn.
    - FSC: thay thế toàn bộ Casein bằng: 200g bột cá + 200g bột đậu nành + 280g bột cua đỏ cho 1 kg thức ăn
    - FSS: thay thế toàn bộ Casein bằng: 200g bột cá + 200g bột đậu nành + 130g bột đầu tôm cho 1 kg thức ăn
    - FSG: thay thế toàn bộ Casein bằng: 300g bột cá + 200g bột đậu nành +50g phụ phẩm trà xanh cho 1kg thức ăn
    - ST: thức ăn là tảo biển (nghiệm thức đối chứng).

    Khi kết thúc thí nghiệm tăng trọng, dài vỏ và rộng vỏ của bào ngư được cho ăn các loại thức ăn sử dung các nguyên liệu thay thế Casein (FS, FSK, FSC, FSS và FSG) khác biệt không có ý nghĩa so với nghiệm thức CS. Tuy nhiên, bào ngư ở tất cả các nghiệm thức được cho ăn bằng thức ăn phối chế đều có tăng trọng và rộng vỏ lớn hơn so với bào ngư được cho ăn bằng tảo biển (nghiệm thức ST). Các kết quả thu được từ nghiên cứu này cho thấy lượng Casein trong khẩu phần thức ăn của bào ngư có thể được thay thế hiệu quả bằng việc sử dụng phối hợp các nguyên liệu bột cá, bột đậu nành, bột nhuyễn thể, bột cua và (hoặc) bột đầu tôm mà không ảnh hưởng đến sự phát triển của bào ngư.

    Người dịch:Ths. Bùi Châu Trúc Đan (bctdan@ctu.edu.vn), BM Kỹ thuật nuôi Thủy sản nước ngọt, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
    Nguồn tin: CHO, S.H., J. PARK, C. KIM and J.H. YOO. 2008. Effect of casein substitution with fishmeal, soybean meal and crustacean meal in the diet of the abalone Haliotis discus hannai Ino. Aquaculture Nutrition, Volume 14, Pages 61-66.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 2 likes
    • 3 days ago
    • Admin and
    • Ba Tôm
  • Kết quả dự án sản xuất thử nghiệm sản phẩm Diệp hạ châu trong phòng bệnh đốm trắ...
    Hợp chất chiết xuất từ cây Diệp hạ châu đắng (Phyllanthus amarus) gồm có các thành phần: Niranthin, Hypophyllanthin và Phyllanthin được thử nghiệm phòng bệnh đốm trắng do virus gây hội chứng đốm trắng (WSSV) trên tôm sú.

    Bước đầu cho phép ghi nhận sản phẩm Diệp hạ châu với liều lượng 8 g/kg thức ăn/ngày trong điều kiện thí nghiệm cho tỷ lệ sống (Relative percent survival - RPS) là 73,33% sau cảm nhiễm và ngoài ao nuôi có tác dụng phòng bệnh do virus gây hội chứng đốm trắng (WSSV) gây ra trên tôm sú trong chu kỳ nuôi 4 tháng. So sánh hiệu quả kinh tế của các ao sử dụng và không sử dụng sản phẩm Diệp hạ châu cho thấy giá thành tôm sú tăng không đáng kể (trung bình từ 500 đồng đến 1.000 đồng/kg tôm trong 3 tháng sử dụng sản phẩm này.

    Nguồn: Lý Thị Thanh Loan, Võ Hồng Phượng, Mã Tú Lan, Chung Minh Lợi. 2012. Kết quả dự án sản xuất thử nghiệm sản phẩm Diệp hạ châu trong phòng bệnh đốm trắng do virus gây hội chứng đốm trắng (WSSV) trên tôm sú (Penaeus monodon). Viện Nghiên cứu NTTS II.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 6 comments
    • 2 likes
    • 3 days ago
    • Admin and
    • Ba Tôm
    • liemtran308 15-20 năm về trước, nuôi với mật độ vừa phải, thức ăn công nghiệp chưa có tran lan, lúc đó tình trạng nước trong ao gần như CÂN BĂNG HỆ SINH THÁI.

      15-20 trở lại lại đây, mật độ thả dầy, thức ăn công nghiệp tràn lan, nước trong ao MẤT CÂN BẰNG HỆ SINH THÁI, thay vì dùng con men vi sinh dọn dẹp ao để cân bằng hệ sinh thái, nước trong ao bị ô nhiểm.

      Ao tôm ao cá bị bệnh hoạn...à há...cá tôm bệnh hoạn thì phải có thuốc điều trị....thì các công ty thuốc thức ăn thủy nhào vô thừa cơ hội "MƯỢN GIÓ BẺ MĂNG" tung ra đủ thứ đủ loại thuốc để trị bệnh thủy sản.

      15-20 năm trở lại đây sự điều trị có khả thi không, có lật thế cờ trở lại thời vàng son của 15-20 năm về trước hay không?

      Dạ thưa không!!!

      Tại sao không khả thi mà chúng ta người nuôi cứ cấm đầu cấm cổ làm chuyện dư thừa không hiệu quả....mất tiền mua thuốc mà không thể cứu được ao tôm cá khi bệnh hoạn xảy ra trong ao.


      Tại sao cứ một mực là phải điều trị....hay là bởi vì danh hiệu, danh xưng "BÁC SĨ" hấp vẫn đối với người nuôi trồng chưa bao giờ có tấm bằng lận lưng quần chăng???

      Chỉ có con men vi sinh mới CÂN BẰNG HỆ SINH THÁI trong thời nhiễu nhương MẬT ĐỘ DẦY VÀ THỨC ĂN CÔNG NGHIỆP TRÀN NGẬP AO NUÔI.


      Nếu người nuôi là Tám Lúa thì Tám Lúa chịu làm người ngu đánh men vi sinh hơn là làm người khôn mua thuốc trị liệu.

      Chúc người nuôi dùng thuốc trị liệu được nhiều may mắn trong lúc đang nuôi.....và chia vui khi người nuôi không còn cục đất chọi chim.

      Nên nhớ nuôi với công nghệ cao Biofloc chưa bao giờ có bệnh hoạn trong ao nuôi, chưa có 1 ca nào...vậy Biofloc có cần trị liệu không?

      Do đó ao đất nếu ta biết sử dụng con men vi sinh đúng mức phát huy "SỰ TỐI ƯU" của nó....thì ta có cần dùng KHÁNG SINH HAY CÂY CỎ để trị liệu không???

      - Người ngu dùng men vi sinh

      - Người khôn dùng thuốc trị liệu để chứng tỏ là người có dư thừa tiền và trao tặng cuốn sổ đỏ cho Ngân Hàng để chứng tỏ mình là người có đẳng cấp.
      • 0 likes
      • Like
      • Reply
      • 2 days ago
    • Thuy Loan Tran Vậy chú Tám có đồng ý phương pháp làm sao mà ng nông dân có thể sử dụng trực tiếp cây thảo dược trong vườn để phòng bệnh cho tôm không? -Vốn là sự nghiệp của người nghiên cứu mà đúng không a [1432,Trieu Thanh Tuan] ?
      • 1 like
      • Like
      • Reply
      • 3 days ago
    • liemtran308 Những chất này Niranthin, Hypophyllanthin và Phyllanthin diệt được khuẩn thì sao hả các người ĐẦU TO ÓC TRÁI NHO:


      - Diệt Khuẩn mà cứt đái của tôm cá vẫn còn đầy ao?????

      - Diệt rồi diệt kiến mà rác, cứt vẫn còn đầy trong nhà


      Nếu người không có Đầu To Óc Trái Nho thì phải biết làm gì rồi.


      Càng nói nhiều....thì càng tỏ ra ngu dốt....nghìn năm cũng không thay đổi được Tư Duy.
      • 0 likes
      • Like
      • Reply
      • 3 days ago
    • 3 more comments
  • Ảnh hưởng của nồng độ muối lên tăng trưởng và nguồn năng lượng của tôm sú giống,...
    Thí nghiệm về tăng trưởng được bố trí ở nhiệt độ 28.8±1.8°C nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của nồng độ muối lên tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng đặc biệt (SGR), hiệu quả sử dụng thức ăn (FCE) và các thông số về năng lượng của tôm sú giống, Penaeus monodon có trọng lượng ban đầu 1.20±0.05 g. Tôm sú được nuôi ở các nồng độ muối 5, 10, 15, 20, 25, 30 và 35ppt.

    Kết quả cho thấy tỷ lệ sống của tôm không bị ảnh hưởng bởi nồng độ muối trong phạm vi từ 5-35ppt. Tuy nhiên, tỷ lệ sống thấp nhất và khác biệt có ý nghĩa thống kê (P < 0.05) được quan sát thấy ở tôm nuôi với nồng độ muối 5ppt. Tốc độ tăng trưởng đặc biệt và hiệu quả sử dụng thức ăn tốt nhất (3.24±0.25%/ngày và 54.90±2.97 theo thứ tự tương ứng) được tìm thấy ở nồng độ muối 25ppt. Nồng độ muối có ảnh hưởng lớn đối với nhiều thông số về năng lượng như năng lượng tích tụ cho tăng trưởng (G), năng lượng mất đi do hô hấp (R), do bài tiết (U), thải phân (F) và lột xác (E) tuy nhiên nó có ảnh hưởng rất ít đến tốc độ cho ăn (FR). Điều này có nghĩa là sự khác nhau về tốc độ tăng trưởng trong điều kiện các nồng độ muối khác nhau không phải là do sự khác nhau về việc tiếp nhận thức ăn từ tốc độ cho ăn mà chủ yếu là do sự khác nhau trong quá trình đồng hóa và dòng năng lượng chuyển vào hô hấp.

    Hiệu quả tăng trọng thực chất đạt cao nhất ở nồng độ muối 25ppt và ngoài phạm vi 20-35ppt sẽ làm gia tăng nguồn năng lượng chuyển vào hô hấp, bài tiết và lột xác và dẫn đến việc giảm đáng kể về tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn. Vì vậy nồng độ muối thích hợp nhất cho việc nuôi tôm sú nên được chọn ở khoảng 25ppt nơi mà nguồn năng lượng trung bình là: 100C (100% năng lượng được tiêu thụ từ thức ăn) = 14.51(±1.05)G + 66.68(±1.56)R + 14.54(±0.72)F +3.33(±0.24)U + 0.93(±0.07)E.

    Người dịch:Ths. Nguyễn Thị Hồng Vân (nthvan@ctu.edu.vn), TT Ứng dụng và chuyển giao công nghệ TS, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
    Nguồn tin: Le Ye, Shigui Jiang, Xiaoming Zhu, Qibing Yang, Weigeng Wen, Kaichang Wu. 2009. Effects of salinity on growth and energy budget of Juvenile Penaeus Monodon. Aquaculture online PII: S0044-8486(09)00098-2.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 1 like
    • 3 days ago
    • Ba Tôm
  • Thiết kế và vận hành hệ thống nuôi cá tuần hoàn “không thay nước’’ kết hợp với t...
    Mục đính của nghiên cứu này đánh giá sự tác động của hệ thống tuần hoàn kết hợp với bồn lọc sinh học yếm khí USB lên sự sinh trưởng của cá nuôi và chất lượng nước (nitrate, nitrite, TAN, phosphate).

    Kết quả cho thấy tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng đặc trưng, năng suất và hệ số chuyển đổi thức ăn của cá trê không bị ảnh hưởng khi kết hợp với USB (P >0,05). Hệ thống USB tác động làm giảm nồng độ nitrate và nitrite đáng kể (P<0,05). Hiệu suất khử nitrogen của USB đạt từ 269 - 283 g/m3 thể tích USB/ngày. Khi kết hợp USB với hệ thống tuần hoàn (RAS) không làm giảm hiệu suất khử nitrogen của toàn bộ hệ thống nuôi (P > 0,05). Ước tính trung bình 121g Natri bicarbonate/kg thức ăn tiêu thụ thêm vào hệ thống RAS +USB để duy trì pH nước. Trung bình hằng ngày số lượng bùn tích tụ trong hệ thống 13,5 lít và 1kg thức ăn tiêu thụ sinh ra 4,7 lít bùn. Bùn thải sau khi xử lý qua USB chứa hàm lượng volatile solid 30,7 g, 2,9g Kjeldahl-N và 17,5 g chất tro trên 1kg thức ăn tiêu thụ.

    Nguồn: Nguyễn Nhứt, Mac Verdegem, Ep Eding, Johan Verreth. 2012. Thiết kế và vận hành hệ thống nuôi cá tuần hoàn “không thay nước’’ kết hợp với thiết bị lọc ngược bùn yếm khí (USB). Viện Nghiên cứu NTTS II.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 6 comments
    • 1 like
    • 3 days ago
    • Ba Tôm
    • Ba Tôm Ở chỗ mình(Bạc Liêu) bể tròn 20 khối giá 25tr. Trong hình mình đoán 8 bể tròn đó có thể tích mỗi bể khoảng 25 khối. 8x25tr = 200tr. 12 bể dài chắc có âm xuống đất nữa. mỗi bể giá khoảng 120tr. 12x120tr= 1440tr. Hệ thống ống dẫn nước, máy thổi oxy......nhà vách tôn......Thầu 2,5 tỷ......có dư.
      • 1 like
      • Like
      • Reply
      • 2 days ago
    • Nguyễn Trọng Ân 1 hệ thống nuôi này giá khoảng 5 tỷ không thầy Tuấn ?
      • 0 likes
      • Like
      • Reply
      • 2 days ago
    • Ba Tôm Nuoi artemia cung dc, nuoi luan trung,.........:)
      • 0 likes
      • Like
      • Reply
      • 3 days ago
    • 3 more comments
  • Vắc-xin cho cá: lần đầu tiên được chấp thuận tại Việt Nam
    Cục Thú y (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) vừa công bố một loại vắc-xin bảo vệ cá tra chống lại vi khuẩn Edwardsiella ictaluri. Vắc-xin ALPHA JECT ® Panga 1 được cấp phép tiếp thị kể từ ngày 10/4/2013.

    Ông Kjersti Gravningen (Giám đốc Công ty PHARMAQ Châu Á) chia sẻ: “Chúng tôi rất vui mừng khi giấy phép được thông qua. Đây là bước đột phá cho ngành nuôi trồng thủy sản Việt Nam cũng như cho PHARMAQ. Chúng tôi tin rằng, ALPHA JECT Panga 1 sẽ là công cụ hiệu quả trong việc giảm tổn thất do khuẩn E. ictaluri gây ra và sẽ góp phần cải thiện sức khỏe cũng như gia tăng giá trị của cá”.

    ALPHA JECT Panga 1 là loại vắc-xin dùng qua đường tiêm. Tiêm chủng là một biện pháp quan trọng và cần thiết trong việc kiểm soát các bệnh phổ biến ở cá tra nuôi. Vắc-xin cũng đã được chứng minh có hiệu quả thông qua các cuộc thử nghiệm được PHARMAQ thực hiện trong hai năm qua.

    Ông Morten Nordstad (Giám đốc điều hành của PHARMAQ) chia sẻ: “Hoạt động tại Việt Nam là bước đầu tiên của PHARMAQ trong chiến lược tiếp cận ngành nuôi trồng thủy sản Châu Á. PHARMAQ rất tự hào khi được cấp phép của Việt Nam cho loại vắc xin này. PHARMAQ sẽ tiếp tục hỗ trợ ngành nuôi trồng thủy sản Việt Nam hướng đến các biện pháp tăng cường hơn nữa sức khỏe cho cá.”

    Nguồn: Tổng cục Thủy sản
    • By Admin
    • 3 comments
    • 2 likes
    • 3 days ago
    • Ba Tôm and
    • thuongthuong
    • Trieu Thanh Tuan Vaccine này mà dùng cho nuôi cá tra thương phẩm chỉ có làm nghèo thêm cho người dân. Dùng cho cá bố mẹ hay một số loài cá cảnh hay cá có giá trị kinh tế cao thì may ra còn chấp nhận được.
      • 0 likes
      • Like
      • Reply
      • 3 days ago
    • liemtran308 Có ai biết người nuôi cá Tra đánh men vi sinh định kỳ không?


      Tám Lúa đã từng đi tham quan nuôi cá tra ở An Giang rồi:

      - Đến trại giống
      - Đến nơi nuôi cá bột
      - Đến nơi nuôi cá hương

      Chưa thấy ai dùng men vi sinh

      =================

      Giờ thì nghe tiêm vaccine vi khuẩn Edwardsiella ictaluri cho cá, lại thêm màn trình diễn làm giàu cho bọn tài phiệt rồi.

      - Người nuôi phải Chi tiền mua cái dư thừa


      Dù cho thuốc vaccine vi khuẩn Edwardsiella ictaluri tốt nhất trên trần gian....cứ ngồi đó tiêm chủng đi.....ẹc ẹc

      Tám Lúa chờ xem.....nam_cho_sung_rung.....ka ka......có khả thi không cho biết !!!!!!!!!!!!!
      • 1 like
      • Like
      • Reply
      • 3 days ago
  • Cá kèn vàng - Yellow trumpetfish
    Cá kèn vàng có tên khoa học là Aulostomus chinensis, thuộc giống Aulostomus, họ Aulostomidae. Cá kèn vàng phân bố nhiều ở Trung Quốc, nên chúng còn có tên là cá kèn vàng Trung Quốc.

    Không giống như những con cá khác, cá kèn vàng có thân rất dài với hàm nhỏ ở đầu. Những con cá này có thể bơi thẳng đứng, chúng thường ngụy trang bằng cách nép mình vào các vật thể thẳng đứng dưới biển như rong biển hay bọt biển và khả năng này được chúng sử dụng như một chiếc bẫy để săn mồi. Chúng có thể trông giống một khúc gỗ bất động với những sinh vật biển bơi xung quanh khác trong nước.

    Chúng có thể sống ở các vùng biển sâu từ 0,5 - 30 m (1,6 - 100 feet) và có thể đạt 40 - 80 cm (15-31 inch) chiều dài. Chúng ăn chủ yếu là cá nhỏ, chẳng hạn như Wrasses và atheriniformes, bằng cách bất ngờ hút con mồi vào miệng của mình.

    © Triệu Thanh Tuấn, www.aquanetviet.org.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 3 likes
    • 4 days ago
    • Truong Huynh Nhu
    • Admin and
    • Ba Tôm
  • Cơ sở của kỹ thuật kết cụm vi khuẩn (bioflocs technology), nguồn thức ăn bổ sung...
    Sự phát triển của nghề nuôi trồng thủy sản bị hạn chế bởi các áp lực mà nó gây nên cho môi trường do việc đổ các chất thải vào các thủy vực nước và còn bởi sự phụ thuộc của nó vào dầu cá và bột cá. Nuôi thủy sản dựa trên kỹ thuật kết cụm vi khuẩn (BFT: bioflocs technology) là giải pháp cho cả hai vấn đề trên.

    Kỹ thuật này kết hợp việc lấy đi các chất dinh dưỡng trong nước thông qua sự sản xuất sinh khối vi khuẩn và vi khuẩn này sau đó được sử dụng bởi các loài động vật thủy sản như là một nguồn thức ăn bổ sung. Việc nắm vững cơ sở của BFT là rất quan trọng trong việc ứng dụng thực tiễn. Các tế bào trong bông cặn (flocs: cụm vi khuẩn) có lợi thế với dòng chảy bình lưu và vì vậy nó sẽ bám giá thể tốt hơn là tế bào thực vật. Cơ chế này rất thích hợp cho những hệ thống nuôi có cường độ dòng chảy từ thấp cho tới trung bình thường áp dụng cho các hệ thống nuôi thủy sản (0.1–10 W/m3). Vì vậy những nhân tố khác như hàm lượng oxy hòa tan, lựa chọn nguồn Carbon hữu cơ và tốc độ cung cấp của chất hữu cơ có ảnh hưởng lớn đến sự tăng trưởng của flocs. Có thể nói rằng cả hai quá trình: sự liên kết các ion theo lý thuyết DLVO và sự liên kết các phân tử Velcro thông qua khả năng sản xuất các tế bào và kết dính ngoại bào đóng một vai trò quan trọng trong quá trình hình thành bioflocs.

    Các nhân tố khác có liên quan đến sự hình thành bioflocs như thay đổi bề mặt tế bào kết dính do các polyme (hợp chất cao phân tử) ngoại bào hoặc là số lượng tạo thành cũng đáng quan tâm. Sự đo đạc các yếu tố sinh hóa như là lượng protein, poly-β-hydroxybutyrate và các acid béo cũng có thể dung để phân biệt các loại cụm vi khuẩn. Các phương pháp phân tử như là FISH, real-time- PCR và DGGE cũng được dùng để phát hiện những loài vi khuẩn đặc hữu, đánh giá sự sinh trưởng và ổn định cũng như thành phần của quần xã vi khuẩn hợp thành, số lượng các gene họat hóa chuyên biệt. Cuối cùng, trên quan điểm thực tiễn đối với nuôi trồng thủy sản, mối quan tâm là có được nguồn vi khuẩn bổ sung có chất lượng và dinh dưỡng cao, về phương diện này, chiến lược là tạo ra dòng vi khuẩn ưu thế, dễ tiêu hóa cho các động vật thủy sản hoặc là các sản phẩm có nguồn năng lượng cao, dễ dự trữ như là poly-β-hydroxybutyrate.

    Người dịch: Người dịch:Ths. Nguyễn Thị Hồng Vân (nthvan@ctu.edu.vn), TT Ứng dụng và chuyển giao công nghệ TS, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
    Nguồn tin: P. De Schryver, R. Crab, T. Defoirdt, N. Boon, W. Verstraete. 2008. The basics of bio-flocs technology: The added value for aquaculture. Aquaculture 277 (2008) 125–137.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 2 comments
    • 2 likes
    • 4 days ago
    • Truong Huynh Nhu and
    • Ba Tôm
    • liemtran308 Đọc phía dưới sẽ thấy cụm "the young researcher = nhà nghiên cứu trẻ" tức là Peter de Schryver.


      Những đứa con nít (nhà nghiên cứu trẻ) ngu dốt này Research cái gì....nói phỏng chừng NHẠI theo....biết cái giống gì mà viết....mà diễn tả.....về Biofloc.


      Xem cái link dưới cuối....chúng đọc sách vỡ của người khác rồi tóm lựợc....ngu dốt vẫn là ngu dốt.


      http://aquanetviet.org/post/190211/c-s-c-a-k-thu-t-k-t-c-m-vi-khu-n-bioflocs-technology-ngu-n-th-c

      European Probiotic Association ...
      www.efeedlink.com, 22 Nov 2012 [cached]
      European Probiotic Association awards Peter de Schryver (Press release) eFeedLink - European Probiotic Association awards Peter de Schryver (Press release)
      ...
      European Probiotic Association awards Peter de Schryver
      Press release
      The European Probiotic Association (EPA) awarded the Jules Tournut Probiotics Prize 2012 to Peter de Schryver, from Ghent University, for his innovative research project on the use of microbial products and microorganisms in animal nutrition.
      ...
      Peter de Schryver's project aimed at improving performance and welfare in aquaculture thanks to an original approach: the use of poly-ß- hydroxybutyrate (PHB), which he describes as a microbial energy storage polymer, an important source of energy for bacteria. PHB thus appears to play a prebiotic role in aquatic species, resulting in improved performance and resistance to pathogens.
      By combining this compound to a probiotic bacteria (synbiotic approach), the young researcher showed that both agents had a synergistic effect to protect fish against pathogens. Nevertheless, when asked if this new approach could be applied to various species Peter de Schryver reckons that, "it could certainly work in land farmed animals that have an even more developed digestive system".
      ...
      E. Auclair (EPA Treasurer), Peter de Schryver and L. Dussert (EPA President).
      eFeedLink - Newsroom - Livestock - Home
      www.efeedlink.com [cached]
      European Probiotic Association awards Peter de Schryver (Press release)

      ================================

      http://onlinelibrary.wiley.com/doi/10.1111/j.1574-6941.2010.00926.x/full
      Yiying Liu1,
      Peter De Schryver2,
      Bart Van Delsen1,
      Loïs Maignien2,
      Nico Boon2,
      Patrick Sorgeloos1,
      Willy Verstraete2,
      Peter Bossier1,
      Tom Defoirdt1,2
      • 0 likes
      • Like
      • Reply
      • 4 days ago
  • Khả năng ức chế quá trình phát sáng sinh học ở Vibrio harveyi bởi enzyme AHL-lac...
    Trong vòng ba thập kỷ trở lại đây, các nhà khoa học đã khám phá ra quá trình “quorum sensing” như là một quá trình giao tiếp ở thế giới vi khuẩn, trong đó việc tổng hợp và dò tìm một loại phân tử tín hiệu thực hiện điều hòa việc biểu hiện gen. Quá trình này được chứng minh là có liên quan trực tiếp đến sự biểu hiện gen mã hóa các yếu tố độc lực ở một số loài vi khuẩn gây bệnh trên động vật thủy sản, ví dụ như Vibrio harveyi, V. parahaemolyticus, Aeromonas hydrophila, Edwardsiella tarda, Edw. ictaluri. Hệ thống quorum sensing ở Vibrio harveyi bao gồm ba đường dẫn khác nhau đều ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát sáng sinh học ở loài vi khuẩn này. Trong đó đường dẫn thứ nhất được điều tiết bởi phân tử AHL (N-acyl homoserine lactone), một loại phân tử tín hiệu quorum sensing rất phổ biến ở nhóm vi khuẩn Gram âm.

    AHL-lactonase là một trong hai loại enzyme có khả năng phân hủy phân tử AHL. Enzyme này được mã hóa bởi gen aiiA hiện diện ở các loài vi khuẩn thuộc nhóm Bacillus spp. Có khá nhiều nghiên cứu trên thế giới trong việc ứng dụng enzyme AHL-lactonase tái tổ hợp như là một biện pháp kiểm soát sinh học đối với các bệnh trên cây trồng có liên quan đến quá trình tiết ra phân tử AHL. Trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản chỉ mới có hai nghiên cứu được công bố gần đây trong việc sử dụng enzyme AHL-lactonase tái tổ hợp để kiểm soát bệnh do Aeromonas hydrophila gây ra trên cá chép (Chen và ctv., 2010; Cao và ctv., 2012).

    Trong nghiên cứu này (nghiên cứu được tài trợ bởi Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia), enzyme AHL-lactonase tái tổ hợp có nguồn gốc từ gen aiiA của chủng Bacillus cereus N26.2 phân lập từ môi trường ao nuôi cá tra, được dòng hóa (clone) và biểu hiện vượt mức ở chủng E. coli BL21(DE3)pLysS. Enzyme AHL-lactonase tái tổ hợp được khảo sát khả năng phân hủy phân tử AHL có liên quan đến độc lực ở V. harveyi và Edw. ictaluri, với mục tiêu lâu dài là nhằm ứng dụng enzyme AHL-lactonase tái tổ hợp trong việc kiểm soát bệnh do hai loài vi khuẩn này gây ra trên tôm sú và cá tra.

    Trong phạm vi bài báo này, chúng tôi trình bày một số kết quả nghiên cứu trong việc khảo sát hoạt tính phân hủy phân tử AHL, thông qua khả năng ức chế quá trình phát sáng sinh học ở vi khuẩn V. harveyi. Hai chủng V. harveyi được sử dụng: chủng hoang dại BB120 hiện diện cả ba đường dẫn quorum sensing, và chủng đột biến JMH606 chỉ hiện diện đường dẫn liên quan đến phân tử AHL. Các chủng V. harveyi được nuôi cấy lắc qua đêm trong môi trường Marine Broth, cho đến khi OD600 đạt giá trị khoảng 1,0 thì tiếp tục được pha loãng 1/5000 trong môi trường Marine Broth và phân bổ vào các giếng của đĩa nhựa 96 giếng, với thể tích 100 µl/giếng. Enzyme AHL-lactonase tái tổ hợp được bổ sung vào giếng ở ba nồng độ (5 µg/ml, 15 µg/ml và 25 µg/ml, 6 lần lập lại/nồng độ). Cường độ phát sáng (luminescence intensity, LI) của các chủng V. harveyi ở nghiệm thức đối chứng (không bổ sung enzyme) và ở các nghiệm thức có bổ sung enzyme AHL-lactonase tái tổ hợp, được đo bằng máy quang phổ Multireader apparatus Infinite M200 liên tục trong 6 giờ, với khoảng cách là 1 giờ.

    Kết quả ở cho thấy pha log của đường cong tăng trưởng của V. harveyi bắt đầu khoảng sau 4 giờ sau khi nuôi cấy. Việc bổ sung enzyme AHL-lactonase tái tổ hợp ở các nồng độ khác nhau đã không ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của V. harveyi, thể hiện qua giá trị OD600 không có sự khác biệt theo thời gian ở các nghiệm thức khác nhau.

    Tuy nhiên, khi đánh giá về cường độ phát sáng thì cho kết quả khác biệt giữa các nghiệm thức. Cường độ phát sáng của chủng hoang dại BB120 đã bị suy giảm một cách có ‎ý nghĩa thống kê (p < 0,05) ngay ở thời điểm sau 2 giờ, khi enzyme AHL-lactonase tái tổ hợp được bổ sung ở nồng độ 15 µg/ml hoặc 25 µg/ml (Đồ thị 2A). Tương tự, cường độ phát sáng của chủng JMH606 cũng bị ức chế có ‎ý nghĩa thống kê (p < 0,05) ở cùng nồng độ của enzyme AHL-lactonase tái tổ hợp, nhưng chậm hơn 1 giờ. Ngoài ra, khả năng ức chế của nồng độ 25 µg/ml có khác biệt có ‎ý nghĩa thống kê so với nồng độ 15 µg/ml.

    Qua các kết quả thí nghiệm đã trình bày, cho thấy enzyme AHL-lactonase tái tổ hợp có nguồn gốc từ gen aiiA của chủng Bacillus cereus N26.2, đã có khả năng ức chế quá trình phát sáng sinh học có liên quan đến độc lực ở loài vi khuẩn gây bệnh Vibrio harveyi. Kết quả này mở ra hướng nghiên cứu sử dụng enzyme AHL-lactonase tái tổ hợp như là liệu pháp sinh học trong việc kiểm soát bệnh do V. harveyi gây ra trên động vật thủy sản, cũng như khả năng mở rộng hướng ứng dụng đối với các loài vi khuẩn gây bệnh khác trong nuôi trồng thủy sản.

    Nguồn: Nguyễn Thị Ngọc Tĩnh. 2012. Khả năng ức chế quá trình phát sáng sinh học ở Vibrio harveyi bởi enzyme AHL-lactonase tái tổ hợp. Viện Nghiên cứu NTTS II.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 1 like
    • 4 days ago
    • Ba Tôm
© Vietnam Aquaculture Network Privacy & Terms Facebook Twitter About Contact
  • Facebook
    Like us on Facebook!
  • Twitter
    Follow us on Twitter!
This text will display in the Announcement Box.
×