• Đậu nành biến đổi gen trong sản xuất thức ăn thủy sản - liệu có an toàn?
    Hầu hết đậu nành sử dụng làm thức ăn thủy sản đều có nguồn gốc biến đổi gen nhằm giảm thiểu sử dụng thuốc trừ sâu và tăng sản lượng. Nhiều nghiên cứu khoa học đã chỉ ra ngũ cốc biến đổi gen an toàn, nhưng sự thiếu sót và sai lệch của truyền thông đã khiến người tiêu dùng vẫn còn e ngại loại sản phẩm này.

    Ngành nuôi trồng thủy sản toàn cầu đang hướng đến việc tìm kiếm nguồn thức ăn bền vững, ít tác động môi trường. Do đó, đậu nành trở thành nguồn nguyên liệu thức ăn phổ biến và tiềm năng nhất có khả năng thay thế bột cá, dầu cá. Ngành công nghiệp đậu nành Mỹ đã đầu tư nghiên cứu sâu để nâng cao giá trị dinh dưỡng, dễ tiêu hóa của đậu nành với các loại thủy sản nuôi, nghiên cứu bổ sung chất dẫn xuất trong công thức thức ăn và phát triển loại đậu nành giàu omega-3, ít hàm lượng hydratcarbon. Mark Jackson (ảnh) - Tư vấn viên khoa học kỹ thuật của TED (Tổ chức phi chính phủ Các ý tưởng đáng được truyền bá) và cũng là chủ nông trại trồng đậu ở Iowa, Mỹ đã chia sẻ về lợi ích của đậu biến đổi gen mà ông đã theo đuổi suốt hơn 20 năm qua và nhận thấy sự khác biệt rõ nét về lợi ích của các loại ngũ cốc biến đổi gen.

    16942562861_9e01975f46_o.jpg 
    Tại sao ông lựa chọn trồng các loại ngũ cốc biến đổi gen?

    Vì chúng mang lại nhiều lợi ích: nguồn nước sạch hơn, đất giàu dưỡng chất hơn và thực phẩm an toàn hơn. Cây trồng biến đổi gen loại bỏ việc sử dụng thuốc trừ sâu, bảo vệ đất và nguồn nước tránh khỏi ô nhiễm.

    Ông phản ứng thế nào trước thông tin cây trồng biến đổi gen làm đất đai bị nhiễm độc?

    Sản phẩm biến đổi gen đã trải qua một quá trình nghiên cứu kỹ lưỡng và nghiêm khắc nhất trước khi tung ra thị trường. Chương trình nghiên cứu này do Chính phủ Mỹ ủng hộ và tài trợ với mục đích mang lại thực phẩm an toàn tới tay người tiêu dùng. Quá trình nghiên cứu, giám sát sản xuất được theo dõi bởi Cục Quản lý và Bảo vệ Môi trường; Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm và Bộ Nông nghiệp Mỹ. Đây là những tổ chức uy tín trên toàn thế giới. Nông dân Mỹ đều sản xuất theo tình hình thực tế đã được kiểm nghiệm kỹ lưỡng trên cơ sở nghiên cứu khoa học.

    Giống đậu biến đổi gen năng suất hơn hẳn, chi phí đầu vào, nhân công thấp, ít tác động tới môi trường. Hơn 20 năm trồng đậu biến đổi gen, tôi thấy năng suất tăng gấp 2, 3 lần so với đậu thường. Điều này còn góp phần tăng dinh dưỡng cho đất và quản lý sản xuất tốt hơn. Nếu loại cây trồng biến đổi gen làm ô nhiễm đất thì năng suất sẽ giảm đi mà không thể tăng đều đặn. Nhiều thế hệ con cháu của chúng tôi tiếp tục sống trên mảnh đất của cha ông, do đó, chúng tôi đều nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ tài nguyên đất.
     
    58777664_35910fc7ec_b.jpg
    Hạt đậu nành biến đổi gen sử dụng làm thức ăn thủy sản

    Trước thông tin cây trồng biến đổi gen làm tăng lượng sử dụng kháng sinh, ông phản ứng thế nào?

    Sự thật hoàn toàn ngược lại, ngũ cốc biến đổi gen giảm đáng kể lượng trừ sâu sử dụng. Một số loại ngô, đậu biến đổi gen có chứa protein kháng khuẩn gây hại tới nguồn đất và một số loại sâu bọ phá hủy mùa màng đã giúp tôi ngừng sử dụng hàng ngàn pound thuốc trừ sâu sâu dạng xịt.

    Nhiều thông tin cho rằng các công ty chế tạo giống hạt ngũ cốc biến đổi gen gây sức ép buộc nông dân phải mua loại hạt này, điều đó đúng không?

    Không ai tạo sức ép với nông dân, bởi thị trường có nhiều loại hạt giống, sự lựa chọn nằm ở người nông dân. 90 - 95% nông dân Mỹ đều chọn hạt biến đổi gen vì năng suất cao. Nhiều nhà máy chế biến thức ăn thủy sản, gia súc đều sử dụng sản phẩm đậu biến đổi gen. Chắc hẳn không người nông dân nào muốn bỏ qua cơ hội thị trường rộng lớn này.

    Source: Vũ Anh, Tạp chí Thủy sản VN.
    Theo GAA
  • Công nghệ có thể thay đổi bộ mặt ngành công nghiệp thủy sản
    Với công cụ cầm tay đơn giản có thể xác định chất lượng và độ tươi của cá trong vòng chưa đầy một giây.

    Bạn có muốn sở hữu một công cụ đơn giản có thể cho bạn biết tức thì chất lượng sản phẩm thủy hải sản mà bạn đang mua?

    Công cụ này có thể cho bạn biết thời gian sử dụng còn lại của sản phẩm và nếu sản phẩm này đã được đông lạnh trước khi sử dụng?

    Và với những tiện ích vừa nêu, chỉ có cách kiểm tra theo khoa học mới có thể nhận biết chính xác. Bạn có muốn sở hữu công cụ này không? Vâng, bạn sẽ được sở hữu nó trong tương lai gần. Seafood Analytics có trụ sở tại Mỹ là nơi các Hội nghị triển lãm hải sản Boston thể hiện chứng nhận chất lượng từ công cụ Reader (CQR) – công cụ này sử dụng điện sinh học để đo lường mức độ xuống cấp của hải sản từ thu hoạch đến khi bị hỏng chưa đầy một giây.

    Gọi nôm na, công cụ này đo lường sự thay đổi về tính toàn vẹn của sản phẩm sau thu hoạch. Công ty đã tạo ra hiệu chuẩn cho một số vật nuôi,  Michael LIEDTKE đồng sáng lập Seafood Analytics cho biết.

    Hiệu chuẩn cơ bản của công cụ tạo ra đường cong cho phép đo lường độ tươi ngon của sản phẩm, người sử dụng chỉ cần cho công cụ tiếp xúc với sản phẩm và ngay lập tức bạn sẽ nhận được tín hiệu tức thời và hiệu chuẩn với mức độ chất lượng mà mình mong muốn. “Chúng ta đang đối mặt với nhu cầu ngành công nghiệp thủy sản đầu tiên từ sau khi cá bị đánh bắt”, LIEDTKE nói thêm.

    Source: Huyền Thoại, TepBac.Com
    Theo Intrafish.com
  • Thủy sản Nhật Bản vẫn bị ảnh hưởng bởi phóng xạ Fukushima
    Báo cáo mới đây của tổ chức môi trường Green Cross về thảm họa nhà máy nguyên tử hạt nhân Fukushima Daiichi vẫn khiến người ta lo ngại về độ an toàn của thủy sản do nồng độ phóng xạ có trong trong cá ngừ và các hải sản khác.

    Phóng xạ bị phát tán từ nhà máy hạt nhân Fukushima Daiichi đang tập trung chủ yếu ở Nhật Bản và Thái Bình Dương.

    Ước tính, 80% phóng xạ bị phát tán tập trung ở Thái Bình Dương và 20% còn lại chủ yếu bị phân tán trong vòng bán kính 50 km về phía tây bắc của nhà máy Daiichi ở quận Fukushima. Một lượng phóng xạ đã lan tới lục địa Bắc Mỹ, nhất là ở các khu vực bờ biển tây bắc của Mỹ.

    Khả năng phóng xạ phát tán ở Thái Bình Dương gây ung thư ở người là khá nhỏ.

    Cùng với chất phóng xạ bị phát tán ở đại dương, sự rò rỉ nước ở nhà máy hạt nhân Fukushima Daiichi vẫn là một mối quan ngại 4 năm sau sự cố.

    Các báo cáo về đường ống bị vỡ và nước rò rỉ từ các thùng chứa sau khi xảy ra sự cố vẫn là 1 lo ngại đối với công nhân và cộng đồng.

    Green Cross lo ngại về những ảnh hưởng của chất phóng xạ có thể có đối với môi trường và sức khỏe con người. Do hậu quả của biến đổi khí hậu và thảm họa hạt nhân, cộng đồng thế giới cần hợp tác để phát triển và sử dụng các nguồn năng lượng thay thế, thúc đẩy việc sử dụng năng lượng một cách hiệu quả.

    Source: Kim Thu, VASEP
    (Theo fis)
  • Sơ bộ POR9: tôm Việt Nam giảm thuế, tôm Ấn Độ tăng thuế
    Bộ Thương mại Mỹ đã công bố kết quả sơ bộ xem xét hành chính thuế chống bán phá giá (CBPG) tôm NK từ Ấn Độ và Việt Nam vào Mỹ giai đoạn từ 1/2/2013 tới 31/1/2014. Theo đó, mức thuế đối với tôm Việt Nam giảm so với lần xem xét trước (POR8) trong khi thuế đối với tôm Ấn Độ lại tăng cao.

    Đối với Ấn Độ, Bộ Thương mại Mỹ (DOC) đã tính mức thuế CBPG cho Devi Fisheries là 3,28%, Falcon Marine là 2,63% và mức chung cho toàn quốc là 2,96%, áp dụng cho khoảng 200 DN XK tôm của Ấn Độ.

    Mức thuế được điều chỉnh trong POR9 lần này đối với Devi và mức toàn quốc cao hơn so với kỳ POR8 trước đó với mức tương ứng 1,97% và 2,49%.

    Falcon Marine là công ty duy nhất của Ấn Độ có mức thuế giảm xuống so với mức 3,01% trong kỳ POR8.

    Trong khi đó, mức thuế đối với Việt Nam được điều chỉnh  giảm mạnh so với POR8. Minh Phu Seafood Corp có mức thuế 1,50%, Fimex VN: 0% và Thuan Phuoc: 1,06%. Mức thuế cho các công ty khác tham gia trong kỳ xem xét lần này là 0,93%, thấp hơn nhiều so với mức 6,36% kỳ POR8.

    Tuy nhiên, đây mới chỉ là kết quả sơ bộ. Mức thuế sẽ được áp dụng chính thức sau khi công bố kết quả cuối cùng.

    Source: Nguyễn Bích, VASEP
    (Theo undercurrentnews)
  • Ấu trùng Cóc bùn khổng lồ ở Trung Quốc
    Các nhà khoa học Trung Quốc phát hiện một ấu trùng khổng lồ, dài 14 cm thuộc họ Cóc bùn, trong một chuyến thám hiểm hang động.

    U472P886T1D158198F12DT20150316150432.jpg
    Theo China News, các nhà khoa học Trung Quốc hôm 14/3 phát hiện một ấu trùng nòng nọc khổng lồ, dài 14 cm ở một hang động ngoại ô thành phố Tuân Nghĩa, tỉnh Quý Châu, phía bắc Trung Quốc. Ảnh: China News.
     
    825889595e644c02bcbdcf687bf6d250.jpg
    Chuyên gia cho biết, đây là ấu trùng của Oreolalaz rhodostigmatus, một loài lưỡng cư thuộc họ Cóc bùn. Loài này chỉ có ở Trung Quốc, thường sống trong vùng núi ẩm nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới, suối nước ngọt và hang động, là động vật quý hiếm, nằm trong Sách đỏ Trung Quốc. Ảnh: China News
     
    2032363560_0.jpg
    Khi còn ở dạng ấu trùng, loài này còn có tên gọi là cá đầu chày hoặc cá trong suốt. Ảnh: China News
     
    d33adf42b9f949c3ae9e59bcf3816b4e.jpg
    Theo Ifeng, thông thường, chiều dài của nòng nọc từ 10-12 cm, hiếm thấy con nòng nọc nào dài tới 14 cm. Ảnh: China News
     
    16737829070_1964903dda_o.jpg
    Để hoàn tất quá trình sinh trưởng, chuyển từ nòng nọc sang cóc, loài này cần tới 1-2 năm. Ảnh: Ifeng
     
    re-5506f481439c2-1426577555_660x0.jpg
    Chúng thường sinh sống trong môi trường thiếu sáng, nên có làn da trong suốt, nhìn rõ nội tạng bên trong. Ảnh: Ifeng.
     
    2cf5e0fe9925bc31ccd832c65adf8db1ca1370e2
    Nếu đem loài này nuôi dưỡng ở môi trường nhiều sáng, chúng sẽ thay đổi màu sắc, dần chuyển sang ánh tím, không nhìn rõ nội tạng nữa. Trong ảnh là một con Cóc bùn trưởng thành. Ảnh: Baike.

    Source: Hồng Hạnh, VnExpress
  • Cá cóc khổng lồ Trung Quốc đối mặt nguy cơ tuyệt chủng
    Là loài lưỡng cư lớn nhất thế giới, cá cóc khổng lồ Trung Quốc đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng.

    Cá cóc khổng lồ Trung Quốc thực chất là một loài kỳ nhông. Chúng thường sống ở các hang dưới nước, trong các khe đá lớn, nơi con cái đẻ trứng. Con đực sẽ bảo vệ và chăm sóc trứng cho đến khi trứng nở sau hơn một tháng.

    Kỳ nhông Trung Quốc là động vật lưỡng cư lớn nhất thế giới. Con trưởng thành dài tới 1,8 m, nặng tới 50 kg. Tuy nhiên, nòng nọc của loài này chỉ dài khoảng 3 cm.

    Loài vật này xuất hiện trong nhiều huyền thoại và truyền thuyết dân gian Trung Quốc. Bát quái, vòng tròn âm dương nổi tiếng, ban đầu được cho là biểu tượng hai con kỳ nhông quấn lấy nhau.

    16899261166_28106afd58_o.jpg
    Thân dưới cá cóc Trung Quốc, hay còn gọi là kỳ nhông. Ảnh: Natural Vision.

    Ở Trung Quốc, loài kỳ nhông này còn được gọi là "wa wa yu", có nghĩa là "cá sơ sinh", vì chúng có tiếng kêu hệt như tiếng khóc của trẻ sơ sinh. Loài này có dòng dõi cổ xưa là họ Cryptobranchidae, một họ động vật lưỡng từ cách đây 170 triệu năm nay.

    Cá cóc Trung Quốc thường được mệnh danh là "hóa thạch sống', vì chúng có những đặc điểm gần gũi với họ hàng cổ xưa.

    "Chúng không thay đổi nhiều kể từ thời Khủng long bạo chúa Tyrannosaurus", Andrew Cunningham, thành viên Hội động vật học London, Anh nói.

    Tuy nhiên, loài sinh vật này đang ngày càng hiếm trong tự nhiên. Kể từ thập niên 50, số lượng chúng bắt đầu giảm đáng kể. Hiện nay, đây là một trong những động vật được liệt kê vào Sách Đỏ Các loài bị đe dọa của Liên minh quốc tế về bảo tồn thiên nhiên.

    Khoảng một thập kỷ gần đây, số lượng trang trại công nghiệp nuôi kỳ nhông ở Trung Quốc đang gia tăng. Việc này rất có thể đã gây ảnh hưởng đến quần thể kỳ nhông tự nhiên.

    Kỳ nhông được coi là một món khoái khẩu ở Trung Quốc, bất chấp chúng là loài được bảo vệ. Ngoài ra, kích thước khổng lồ khiến chúng trở thành nguồn thức ăn sinh lời lớn. Do đó, kỳ nhông tự nhiên thường bị săn bắt, đem bán lấy tiền và nuôi nhốt trong các trang trại. Kết quả là, số lượng cá thể trong tự nhiên giảm dần, bởi một con kỳ nhông mất tới năm bảy năm để trưởng thành.

    16717833457_bf3134ba83_o.jpg
    "Wa wa yu", cá sơ sinh, là món khoái khẩu của người dân Trung Quốc. Ảnh: galleryhip.com

    Trước đây, khi số lượng còn nhiều, việc săn bắt loài này rất dễ dàng, ông Cunningham cho biết. Tuy nhiên, vì loài này ngày càng hiếm, nhiều người sử dụng các phương pháp săn bắt mang tính hủy diệt như thuốc nổ, súng điện, kể cả thuốc trừ sâu, khiến hầu hết động vật sống quanh nơi kỳ nhông ở cũng bị đầu độc theo.

    Hình phạt dành cho việc săn bắt trộm không đáng kể. "Thậm chí có những báo cáo rằng, các cơ quan bảo vệ mua chúng từ các tay săn trộm, rồi bán lại cho các trang trại", ông Cunningham nói.

    Các bệnh truyền nhiễm lây lan nhanh chóng ở trang trại, đe dọa loài kỳ nhông hoang dã. Theo một báo cáo điều tra ngành công nghiệp nuôi kỳ nhông ở Trung Quốc trên tạp chí Oryx, nếu loài động vật hoang dã này tiếp tục được nuôi dưỡng trong các trang trại, chúng sẽ sớm bị tuyệt chủng trong tự nhiên.

    Hiểu rõ những nguy cơ này, các nhà bảo tồn cho biết họ đang có kế hoạch bảo tồn loài này.

    "Ngành công nghiệp nuôi cá cóc rất lớn, chính phủ trung ương và địa phương Trung Quốc đã đầu tư rất nhiều tiền vào nó", Cunningham nói. "Đóng cửa các trang trại không phải là lựa chọn khả thi".

    Thay vào đó, các trang trại cần được quản lý tốt hơn. Ví dụ, không thả kỳ nhông nuôi nhốt vào tự nhiên.

    241E86DC00000578-2877388-The_Chinese_Gia
    Loài động vật từ thời tiền sử này có tiếng kêu như tiếng khóc của trẻ sơ sinh. Ảnh: www.dailymail.co.uk

    Theo BBC, trước đây, chính phủ Trung Quốc đã khuyến khích thả kỳ nhông nuôi nhốt ra tự nhiên để thúc đẩy số lượng trong đời sống hoang dã. Tuy nhiên, điều này gây hại nhiều hơn lợi.

    Những con được thả ra không được sàng lọc bệnh, do đó, rất có thể, chúng đã lây lan mầm bệnh. Chúng cũng không được kiểm tra gene xem có thích hợp để thả về môi trường tự nhiên không. Ngoài ra, chúng không được giám sát hay đánh giá tổng thể xem xét mức độ thành bại của dự án.

    Cunningham và đồng nghiệp kiến nghị, cá cóc tự nhiên và nuôi nhốt phải được nuôi riêng. Có thể gắn chip lên con nuôi nhốt để phân biệt với con tự nhiên.

    Ngoài ra, cần phải thúc đẩy an toàn sinh học và kiểm soát mầm bệnh trong các trang trại như cách ly chuồng mới, xử lý nước thải để chấm dứt việc xả mầm bệnh ra môi trường tự nhiên.

    Tuy nhiên, Cunningham đánh giá, trước mắt, triển vọng cho loài kỳ nhông hoang dã vẫn rất ảm đạm, dù hàng chục triệu con đang sống tại khắp 43 trang trại ở Trung Quốc. Trước khi chúng thực sự tái sinh, chúng ta cần phải thay đổi quan niệm đối với loài này.

    "Đây là một trong những loài động vật kỳ diệu nhất trên hành tinh", Cunningham nói. "Người Trung Quốc phải học cách trân trọng giống loài đặc biệt này. Chỉ có thế, loài này mới có tương lai tươi sáng được".

    Source: Hồng Hạnh, VnExpress
  • Khả năng tự cách điện của cá chình điện
    Cá chình điện phóng điện để bắt mồi và tránh kẻ thù, nhưng khả năng này không khiến chúng bị thương khi ở dưới nước.

    Cá chình điện (hay còn gọi là lươn điện) sống ở vùng Amazon, với đặc trưng là các cơ quan đặc biệt chuyên phóng điện. Ngoài ra, chúng còn sử dụng xung điện yếu hơn để xác định vị trí của con mồi, tương tự cách định vị tiếng vang của dơi và cá heo.

    Một con cá chình điện có thể dài 2,4 m và nặng gần 23 kg, lớn hơn nhiều so với con mồi của chúng dưới nước. Do đó, dòng điện với hiệu điện thế lên tới 650 V được phóng ra có thể ít tác động đến chính loài cá này hơn so với con mồi.

    Tuy nhiên, khi không ở môi trường nước, một con cá chình điện có thể nhạy cảm hơn với sức mạnh của chính nó. Nhà nghiên cứu Jason Gallant của Đại học bang Michigan, Mỹ từng nghe đến các trường hợp chúng có biểu hiện co giật khi bị kéo lên từ dưới nước. Nhiều khả năng dòng điện của chúng không dễ dàng biến mất qua không khí, mà thay vào đó di chuyển qua lớp da ướt và gây sốc hơn.

    Nhóm của Gallant còn phát hiện rằng nhiều loài cá điện biểu hiện gene giống nhau, có chức năng mã hóa các protein cấu trúc có thể cách điện đối với cơ quan đặc biệt chuyên phóng điện.

    Mặc dù vậy, theo Popsci, tất cả những điều này hiện chỉ là suy đoán. Trên thực tế, các nhà khoa học chưa thực sự tìm ra nguyên nhân cá chình điện không chịu ảnh hưởng trước chính dòng điện chúng phóng đi.

    Source: Anh Hoàng, VnExpress
  • Chương trình chọn giống tôm sú (Penaeus monodon) theo tính trạng sinh trưởng
    Tôm sú Penaeus monodon (Fabricius, 1798) là một trong những đối tượng nuôi thủy sản có giá trị kinh tế cao và được xuất khẩu đi nhiều nước. Vì vậy, chọn giống nhằm hướng tới việc chủ động sản xuất tôm bố mẹ sạch bệnh, có chất lượng di truyền tốt là cần thiết.

    Trên cở sở tiếp nhận những kết quả đạt được từ hai nghiên cứu 1) Gia hoá khép kín vòng đời và sản xuất tôm sú bố mẹ và tôm sú giống sạch bệnh và 2) Ứng dụng công nghệ sinh học và các công nghệ khác nhằm nâng cao sức sinh sản của tôm sú (Penaeus monodon) bố mẹ nuôi trong điều kiện nhân tạo, Viện NCNTTS2 đã mạnh dạn tiến hành chương trình chọn giống trên tôm sú. Mục tiêu của chương trình nhằm tạo ra nguồn vật liệu ban đầu có tính đa dạng di truyền cao và chọn lọc nâng cao tốc độ sinh trưởng tôm sú.

    Vật liệu gốc bao gồm bốn dòng tôm sú bố mẹ có nguồn gốc địa lý khác nhau trong đó ba dòng có nguồn gốc tự nhiên là Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương, tôm tự nhiên của Việt Nam (thu thập từ Cà Mau, Đà Nẵng, Phú Yên) và nhóm thứ tư là dòng tôm Gia hóa. Tất cả tôm bố mẹ sau khi thu thập đều được tầm soát các loại mầm bệnh virus nguy hiểm bao gồm: WSSV, YHV, IHHNV, LSNV. Chỉ những cá thể sạch (âm tính) với tất cả các loại virus kể trên mới được sử dụng. Vật liệu ban đầu (G0) được hình thành bằng cách phối ghép hỗn hợp giữa bốn dòng tôm bố mẹ. Kết quả đã tạo ra 69 gia đình từ 16 ghép phối. Vật liệu này được nuôi tại Trung tâm nghiên cứu trong hệ thống bể xi măng tuần hoàn đáy cát và nuôi thử nghiệm trong các ao tại miền Trung (Nha Trang), miền Tây Nam Bộ (Bạc Liêu) và miền Đông Nam Bộ (Bà Rịa). Kết quả đánh giá dòng thông qua tăng trưởng tại Trung tâm nghiên cứu cho thấy có sự hiện diện của ưu thế lai. Các ghép phối có sự tham gia của dòng tôm gia hóa đều cho kết quả tăng trưởng tốt. Tương tác kiểu gen – môi trường (G x E) cũng được tìm thấy giữa bốn địa điểm nuôi khác nhau và là tương quan thuận, ở mức độ nhẹ (rg = 0,29 – 0,85). Tôm bố mẹ hậu bị hiện đạt trọng lượng trung bình khoảng 80 g và đang được nuôi theo chế độ nuôi vỗ thành thục trong hệ thống bể xi măng đáy cát có hỗ trợ hệ thống tuần hoàn nước. Các bể nuôi tôm bố mẹ đều được bố trí hệ thống injector bổ sung khí đáy và tăng tuần hoàn nước trong bể nuôi. Chế độ chiếu sáng nhân tạo bao gồm 14 giờ chiếu sáng (ban ngày) và 10 giờ hoàn toàn tối (ban đêm). Dự kiến nguồn vật liệu này sẽ được sử dụng để tái tạo quần đàn F1 cho chọn giống vào cuối năm 2014. Dự kiến từ năm 2015 trở đi đề tài có thể từng bước cung cấp tôm bố mẹ đã qua chọn lọc cho các trại sản xuất giống để sản xuất ra số lượng lớn tôm giống chất lượng cao, sạch bệnh.

    Mặc dù đề tài đã cơ bản đã giải quyết được những vấn đề chính trong quy trình nuôi gia hóa, khép kín vòng đời tôm sú. Tuy nhiên, những khó khăn, tồn tại cũng còn đáng kể. Hiện tượng tôm từ giai đoạn 30 g trở đi chết rải rác nhưng chưa rõ nguyên nhân chính chứng tỏ quy trình hiện nay vẫn cần được cải tiến. Những hiểu biết liên quan đến dinh dưỡng cho tôm sú bố mẹ, hệ thống công trình nuôi cho từng giai đoạn phát triển và các vấn đề liên quan đến an toàn sinh học đòi hỏi cần có nhiều nghiên cứu chuyên sâu. Đây vẫn sẽ là những thách thức không nhỏ của đề tài, của Viện trong thời gian sắp tới trước khi Viện có thể hoàn toàn làm chủ công nghệ sản xuất tôm sú bố mẹ cung cấp cho người nuôi tôm trong cả nước.

    Source: Đinh Hùng, Trung tâm Quốc gia Giống Hải sản Nam bộ
  • Một vài kết quả bước đầu của đề tài thử nghiệm sinh sản nhân tạo cá Mao ếch
    Tháng 8 năm 2014, Phân viện Nghiên cứu Hải sản phía Nam đã ký Hợp đồng Nghiên cứu Khoa học và Phát triển Công nghệ số 18/HĐ-SKHCN với Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu về việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu thử nghiệm sinh sản nhân tạo cá Mao ếch (Mang ếch - Allenbatrachus grunniens Linnaeus, 1758) tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu”; Thạc sỹ Cao Văn Hùng làm chủ nhiệm đề tài.

    Đề tài được thực hiện đúng tiến độ, đến  tháng 3 năm 2015 thu được một số kết quả như sau:

    - Thu mua 123 kg cá Mao ếch hậu bị phục vụ nuôi vỗ sinh sản và phân tích sinh học. Đề tài tiến hành thu mẫu và phân tích đặc điểm hình thái phân loại cá mao ếch, xác định các chỉ tiêu hình thái, số vây, công thức vây... Mô tả đặc điểm hình thái phân loại cá Mao ếch tại Bà Rịa - Vũng Tàu.

    16913686952_718abc8c44_o.png
    Hình 1: Tắm cá Mao ếch trước khi thả vào bể nuôi

    - Thu thập số liệu điều tra (90 phiếu) để xác định đặc điểm phân bố của cá Mao ếch tại Bà Rịa - Vũng Tàu thông qua các nghề khai thác khác nhau. Đã xác định được khu vực phân bố chủ yếu của cá Mao ếch tại Bà Rịa - Vũng Tàu ở khu vực vịnh Gành Rái, dọc ven biển từ bờ đến khoảng cách 5 hải lý trở vào. Nền đáy phân bố cá Mao ếch khu vực cửa vịnh là cát bùn (chủ yếu khai thác được bằng nghề lồng bẫy và nghề te xiệp), ra phía ngoài biển thì chúng phân bố ở nền đáy cát sỏi hoặc san hô ở độ sâu 30m nước trở lại.

    16727557800_b19a646ddb_o.jpg
    Hình 2. Hình (a) & (b) Dạ dày cá Mao ếch có thức ăn là ghẹ và tôm

    Kết quả phân tích đã xác định được cá Mao ếch là loài ăn động vật (RGL=Li/Lt=0,61<1). Thành phần tỷ lệ thức ăn bắt gặp như sau: Tỷ lệ phần trăm của cua, ghẹ là chiếm cao nhất 31,70%, tiếp theo là tôm 29,08%. Thức ăn là cá nhỏ (bống, đục) chiếm tỷ lệ 20,76%. Xếp thứ 4 là tỷ lệ của mực chiếm 13,46%; động vật thân mềm và thức ăn khác chiếm tỷ lệ thấp lần lượt là 3,11% và 1,89%.

    16292561844_35b65a13aa_o.png
    Hình 3: Hệ thống bể nuôi cá Mao ếch tại Phân viện Nghiên cứu Hải sản phía Nam

    Nghiên cứu tỷ lệ sống trong quá trình thuần dưỡng và nuôi vỗ: Xác định được tỷ lệ sống của cá Mao ếch trong quá trình thuần dưỡng và nuôi vỗ: 90,4%;  Xác định được các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục cá Mao ếch trong quá trình nuôi nhân tạo. Hệ số thành thục (GSI) của cá Mao ếch trong điều kiện nuôi biến động rất lớn trong các tháng nuôi: Từ 0,02-21,5 đối với cá cái và từ 0,03-0,94 đối với cá đực. Hệ số thành thục bắt gặp cao nhất ở tháng 9/2014 và có xu thế giảm dần ở các tháng tiếp theo.
     
    Source: Nguyễn Thị Phương Thảo, Viện NC Hải sản
  • Canada: Mầm bệnh ở cua xanh có thể tác động xấu tới tôm hùm
    Mầm bệnh trên cua xanh (cua bùn) được phát hiện ở tôm hùm tại một số vùng nuôi ở Canada. Có hiện tượng này là do việc sử dụng cua xanh làm mồi câu tôm hùm trong những năm gần đây, theo nghiên cứu gần đây của Khoa Nông nghiệp thuộc đại học Dalhousie, Canada.

    Theo nghiên cứu, cua xanh mang tới 13 mầm bệnh khác nhau, một trong số đó có thể lây nhiễm sang tôm hùm.

    Giá tôm hùm giảm, chi phí nhiên liệu tăng và chi phí mồi câu cao buộc ngư dân khai thác tôm hùm phải tìm tới mồi câu có giá thấp hơn.

    Số lượng cua xanh tăng ảnh hưởng tới sự phát triển của các giáp xác có vỏ mềm hơn như ngao, hàu ở vùng biển Canada thuộc Đại Tây Dương.

    Ngư dân đang tìm biện pháp để loại bỏ loài cua này khỏi các vịnh.

    Source: Kim Thu, VASEP
    (Theo fis)