• Giá tôm Ấn Độ giảm, tôm Thái Lan ổn định
    Tại Hội chợ Thủy sản diễn ra tại Thanh Đảo, Trung Quốc, trong khi Thái Lan giữ vững giá bán do nắm bắt tâm lý tìm mua hàng của khách Mỹ nhằm phục vụ nhu cầu tiêu thụ cuối năm, Ấn Độ và Indonesia đồng loạt giảm giá bán.

    Giá tôm nguyên liệu của Thái Lan đã tăng từ 175 – 178 bạt/kg cuối tháng 10 lên 182 – 190 bạt/kg đầu tháng 11 đối với tôm cỡ 70 và tăng từ 157 – 165 bạt/kg lên 168-180 bạt/kg đối với tôm cỡ 80 con/kg.

    Người nuôi tôm Thái Lan muốn giữ hàng chờ giá lên, tuy nhiên, điều này lại không tốt bởi vì giá tôm Thái Lan thường cao hơn một số nước khác ở Châu Á và nếu Thái Lan vẫn giữ nguyên giá như hiện nay có thể làm cho khoảng cách giá sẽ rộng thêm.

    Đại diện một DN cho biết gần 2 tháng qua, công ty này không nhận được bất cứ đơn chào hàng mới nào từ Mỹ và Canada.

    Trong khi đó, Indonesia và Ấn Độ đang hạ giá bán với hy vọng thu hút thêm nhiều khách từ Bắc Mỹ.

    Tại Ấn Độ, giá tôm giảm nhẹ nhờ nguồn cung tốt. Các nhà NK chào mua với giá thấp nhưng không tới mức khó chấp nhận với các nhà cung cấp. Một số hợp đồng cũng đã được ký kết ngay tại Hội chợ.

    Source: Nguyễn Bích, VASEP
    (Theo undercurrentnews)
  • Google đấu tranh chống thủy sản khai thác bất hợp pháp bằng công nghệ mới
    Google đã tham gia chống khai thác thủy sản bất hợp pháp bằng công cụ mới, cho phép công chúng biết địa điểm các tàu khai thác hoạt động trên toàn cầu thông qua mạng internet, Wall Street Journal cho biết.

    Trong dự án này,Google đã hợp tác với công ty lập bản đồ SkyTruth và tổ chức Oceana nhằm thiết lập công cụ mới, dự kiến sẽ có chi phí khoảng 3-5 triệu  USD.

    Cho đến nay, bản chạy thử của công nghệ này có tên là Global Fishing Watch, đã được ra mắt vào ngày 13/11 tại Sydney, Ôxtrâylia.

    Công cụ, nhằm ngăn chặn khai thác thủy sản bất hợp pháp trên toàn thế giới, sử dụng các thiết bị theo dõi được gắn trên tất cả các tàu thuyền lớn, lọc ra các tàu khai thác sử dụng các mẫu được công nhận.

    Được phát triển bởi các lập trình viên Google và SkyTruth, công nghệ này sử dụng công nghệ phân tích dữ liệu của Google để phân tích một lượng lớn thông tin và xác định địa điểm khai thác trên toàn cầu.

    Chương trình này dự kiến sẽ đi vào hoạt động vào năm 2015 hoặc năm 2016.

    Source: VietFish, Theo Undercurrentnews
  • Sử dụng thuốc diệt tạp
    Thuốc diệt tạp thường có hai loại (saponin và rotenone), dùng để diệt cá tạp, giáp xác trong ao tôm giai đoạn xử lý nước đầu vụ nuôi. Việc dùng thuốc sao cho hiệu quả và an toàn cho tôm nuôi cần được chú ý.

    Saponin (bã hạt trà)

    Saponin là một hoạt chất có nhiều trong bã hạt trà, được dùng để diệt cá tạp trong ao nuôi tôm và chỉ gây độc đối với cá nhưng không gây ảnh hưởng nhiều đối với các loài giáp xác (tôm). Saponin là một loại thực vật được xay nhỏ đóng gói và bán trên thị trường dưới dạng bột. Khi sử dụng, người nuôi chỉ việc hòa loãng vào nước té xuống ao để tiêu diệt tất cả các loại cá tạp có trong ao là địch hại của tôm.

    Saponin diệt cá bằng cách ức chế hô hấp và ngăn cản quá trình vận chuyển ôxy trong máu cá. Tác dụng của saponin sau khi té xuống nước sẽ diễn ra sau 2 - 3 giờ. Loại saponin nào diệt cá chết ngay tức khắc thì chắc chắn có phối trộn hóa chất độc, sẽ rất nguy hiểm cho tôm khi thả nuôi.

    Mỗi loài cá sẽ chết ở những liều lượng saponin khác nhau. Thường những loài cá vảy và cá không vảy có cơ quan hô hấp phụ (hoa khế, da, ruột, bóng hơi) thì có sức chịu đựng tốt hơn nên cần lượng saponin nhiều hơn mức bình thường.

    Để sử dụng có hiệu quả, saponin cần được ngâm vào nước trước 1 ngày, sau đó lọc lấy nước và té xuống ao. Không nên té cả bã saponin xuống ao làm ô nhiễm nền đáy.

    Sau khi diệt tạp từ 4 ngày trở lên mới được thả tôm, bởi dư lượng saponin trong ao có khả năng kích thích tôm lột xác và ức chế tôm hình thành vỏ mới, làm yếu tôm và gây chết tôm.

    Độ mặn và nhiệt độ càng tăng thì hoạt tính độc của saponin đối với cá càng tăng theo, khả năng diệt tạp của saponin cũng tăng. Tuy nhiên, khi ở môi trường nước pH cao thì hoạt tính saponin lại giảm; do vậy khi diệt tạp cho ao cần căn cứ vào nhiệt độ và độ mặn của ao để điều chỉnh lượng thuốc diệt tạp cho hợp lý.

    Nên sử dụng saponin vào sáng sớm (4 - 6 giờ), vì giai đoạn này hàm lượng ôxy hòa tan thấp nên cá tạp trong ao nhanh chết hơn các thời điểm khác trong ngày và sau đó nhiệt độ sẽ tăng dần làm cho hoạt tính của saponin tăng.

    Khi diệt tạp cần tháo cạn ao tẩy dọn, sau đó tháo 1 ít nước vào ao (5 - 10 cm), để 1 - 2 ngày cho cá tạp lẩn trốn trong các hang hốc dưới đáy và bờ ao (cá rễ cau, bống, bớp...) chui ra kiếm ăn, lúc này sử dụng saponin mới hiệu quả.

    Ở các độ mặn khác nhau thì có thể dùng liều lượng saponin khác nhau:

    15655502429_a11190cbbf_o.jpg

    Rotenone (dây thuốc cá)

    Dây thuốc cá là một loại cây được trồng nhiều ở vùng Cà Mau, Bạc Liêu, Trà Vinh... để lấy rễ. Rễ dây thuốc cá chứa hoạt chất rotenone, có tính độc với cá (máu đỏ) nhưng ít độc hơn với giáp xác (máu trắng). Rễ được phơi khô nghiền thành bột để sử dụng.

    Rotenone khi bón vào nước có pH thấp (a xít) thì tác dụng diệt tạp sẽ tăng cao hơn môi trường nước có pH cao (kiềm). Rotenone dễ  bị phân hủy nhanh ngay khi tiếp xúc trực tiếp ánh sáng, không khí. Ngoài ra, Rotenone trong nước dễ bị thuốc tím (KMnO4) làm mất độc tính.

    Vậy, để sử dụng dây thuốc cá diệt tạp trong ao nuôi tôm có hiệu quả và tiết kiệm, cần phải tát cạn ao; sau đó để nước ở độ sâu 5 - 10 cm rồi mới dùng thuốc hòa vào nước té xuống ao. Đối với môi trường nước có tính kiềm cao, phải tăng liều lượng sử dụng rotenone so với nước ao có pH thấp. Cần bảo quản rotenone trong bao kín, tránh ánh sáng chiếu trực tiếp và khi sử dụng rotenone thì không nên dùng đồng thời với thuốc tím (KMnO4) để sát trùng nước. Phải cải tạo kỹ ao nuôi tôm trước khi sử dụng và thau nước sau khi diệt tạp. Nồng độ sử dụng hiệu quả rotenone trong nước ao là 1 ppm (loại 5% nguyên chất). Hoạt chất rotenone càng mất hoạt tính khi độ mặn càng cao, vì vậy, đối với ao nước có độ mặn dưới 10‰ thì dùng rotenone. Sau khi diệt tạp, dư lượng rotenone sẽ ảnh hưởng ít nhiều đến sức khỏe tôm; do vậy rotenone thường ít được sử dụng để diệt tạp trong ao nuôi tôm.

    >> Ngoài hai loại thuốc diệt tạp kể trên, hiện nay người nuôi còn sử dụng một số loại hóa chất khác (như cypermethrin, dipterex, antimycin A...). Đây là những loại thuốc trừ sâu và kháng sinh tác dụng diệt tạp tốt, nhưng không nên sử dụng, bởi dư lượng của chúng sẽ gây độc cho tôm nuôi và tồn tại trong sản phẩm, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe người tiêu dùng.

    Source: ThS. Nguyễn Quang Chương, Tạp chí Thủy sản VN.
  • Sản lượng tôm thẻ Ấn Độ có thể ổn định khi vượt mốc 400.000 tấn
    Sản lượng tôm thẻ ở Ấn Độ có khả năng ổn định sau khi đạt mốc 400.000 tấn, nhà xuất khẩu thủy hải sản kỳ cựu chia sẻ với Financial Express.

    Tôm thẻ chân trắng được giới thiệu đến Ấn Độ vào năm 2009 và nhanh chóng mở rộng thị phần so với tôm sú truyền thống.

    Vào năm ngoái, Ấn Độ xuất khẩu 170.000 tấn tôm thẻ chân trắng. Chính điều này giúp khu vực sản xuất thâm nhập vào những thị trường tiên tiến nhất, tạo ra sự cạnh tranh gay gắt của tôm thẻ chân trắng so với tôm sú.

    Hầu hết các nước tham gia vào tôm thẻ chân trắng đã nhận thấy sản xuất phát triển nhanh chóng trong vài năm đầu tiên và sau đó chậm lại bởi các yếu tố khác nhau, Anwar Hashim, giám đốc quản lý của thủy sản Abad và là cựu chủ tịch của Hiệp hội Xuất khẩu Thủy sản Ấn Độ (SEAI) trao đổi với Financial Express.

    "Tại Ấn Độ, tôm không có sức đề kháng để tiếp tục tăng trưởng, đồng nghĩa với người nuôi không thể có được tôm với kích thước và số lượng như mong muốn. Điều này có thể là do một số yếu tố như con giống tạp, mật độ thả cao, thay đổi khí hậu hoặc chậm phát triển, nhưng sức đề kháng không thấy được", ông nói. "Nhu cầu đối với tôm thẻ chân trắng đang gia tăng và với nguồn cung cấp toàn cầu đang cắt giảm đáng kể từ hội chứng chết sớm (EMS).

    Một số trại sản xuất thậm chí còn xuất khẩu tôm thẻ chân trắng với số lượng ít hơn do sự gia tăng về giá cả. Con giống tạp và tôm non được thị trường tìm kiếm do nhu cầu", người nuôi tôm từ Nellore nói.

    Liên đoàn Người nuôi tôm của Ấn Độ báo cáo rằng vào năm 2015, trang trại tôm thẻ có diện tích lớn từ 150.000 ha và hiện tại chỉ còn 80.000 ha. Tuy nhiên, cuối cùng Liên đoàn lo ngại rằng các nhà sản xuất có thể nhìn thấy lợi nhuận suy giảm và EMS mở một số nước bắt đầu phục hồi.

    Rabobank ước tính sản xuất tôm thẻ chân trắng của Ấn Độ sẽ tăng gấp năm lần trong tương lai gần. Ấn Độ báo cáo, trong một số nước có khả năng tăng sản lượng tôm nhiều lần sản lượng hiện tại do hệ thống sông lớn của Ấn Độ cung cấp điều kiện nuôi tôm lý tưởng.

    Ấn Độ đã buộc phải áp dụng nuôi thẻ chân trắng hay tôm thẻ chân trắng vì lý do cạnh tranh. Tôm sú với chi phí sản xuất cao hơn và sản lượng thấp hơn so với tôm thẻ chân trắng.

    Theo nguồn tin SEAI cho biết, sản xuất tôm thẻ chân trắng có giá 2.29 đô/kg, chiếm ½ chi phí sản xuất cho các loài tôm ở Ấn Độ. Nông dân có thể sản xuất 20 tấn tôm thẻ chân trắng từ cỡ nhỏ đến trung bình cho mỗi hecta, nhưng đối với tôm sú thì chỉ đạt từ 2 đến 3 tấn cho mỗi hecta.

    Dịch bệnh vẫn đang tàn phá các trang trại tôm sú, tỷ lệ sống ở hầu hết các trang trại vào khoảng 40%. Giá sản xuất ít nhất  là 15% so với tôm thẻ chân trắng trên thị trường toàn cầu. Tỷ lệ sống của tôm thẻ chân trắng từ 95 - 98% so với tôm sú ở mức 40%.

    Sự phụ thuộc vào một loại tôm là một trong những thách thức đối với ngành tôm Ấn Độ như tôm thẻ chân trắng từ từ lấn sang nuôi tôm sú. Thái Lan là một trong nước rơi vào tình trạng mất kiểm soát EMS. Năm 2010, sản lượng tôm ở Thái Lan đã giảm ở mức cao từ 640.000 tấn xuống còn  khoảng 200.000 tấn vào năm 2014.

    Vào tháng Chín, một doanh nhân Ấn Độ chia sẻ với Undercurrentnews, sản lượng tôm của Ấn Độ có thể đạt 500.000 tấn vào năm 2015.

    "Vào năm 2014, tôi nghĩ rằng chúng tôi sẽ đạt mức sản xuất 350.000 tấn. Và năm 2015, nếu mọi việc suôn sẻ, sản xuất có thể đạt 500.000 tấn”, Marimuthu Sudhakaran, một nhà điều hành trang trại sản xuất giống và mở rộng vào chế biến cho biết.

    "Mặc dù Ấn Độ có vướng một số vấn đề về sản xuất nhưng diện tích nuôi ngày càng tăng. Trong năm 2009, chúng tôi có trang trại 100.000 ha và chỉ có 20% là tôm thẻ chân trắng", ông nói.

    Năm 2014, chỉ có 150.000 ha gồm 80.000 ha tôm thẻ chân trắng và 70.000 ha tôm sú.

    "Đến năm 2015, chúng tôi nghĩ rằng khu vực này có thể tăng 20% và sẽ có 180.000 ha và 150.000 ha tôm thẻ chân trắng và 30.000 ha tôm sú. Chúng tôi đang có vấn đề về dịch bệnh với bệnh đốm trắng và phân trắng, nhưng chúng tôi sẽ có sự tăng trưởng trong khu vực nông nghiệp trong hai năm tới", ông Sudhakaran trao đổi với Undercurrentnews.

    Có 15 nhà máy chế biến tôm đang lên kế hoạch hoặc xây dựng nhà máy ở Andhra Pradesh, ông nói.

    Source: Kiến Duy, TepBac.Com
    Theo Undercurrentnews.com
  • EU cấm thủy sản nhập khẩu từ Sri Lanka do khai thác bất hợp pháp
    Theo công bố của Ủy ban châu Âu (EC), Sri Lanka sẽ bị cấm XK thủy sản sang châu Âu trừ khi hoạt động khai thác bất hợp pháp giảm bớt.

    Từ năm 2010, Sri Lanka bị EC cáo buộc có thiếu sót nghiêm trọng trong việc giải quyết nạn đánh bắt thủy sản bất hợp pháp (IUU). Tháng 12/2012, EU gửi cảnh báo chính thức đến chính phủ Sri Lanka. Lệnh cấm được ban hành do tình hình khai thác thủy sản bất hợp pháp của Sri Lanka ngày càng nghiêm trọng.

    Đồng thời EC cũng gỡ bỏ lệnh cấm đối với Belize. Động thái này được các nhóm môi trường ủng hộ.  Quỹ Công lý Môi trường (EJF), Oceana, Pew và WWF đều khẳng định, luật pháp của EU nhằm giảm khai thác thủy sản bất hợp pháp "đang được thực hiện thành công".

    Bà Maria Damanaki, Cao ủy Nghề cá của EU hy vọng việc công bố biện pháp trừng phạt Sri Lanka sẽ là “tiếng chuông cảnh tỉnh” đối với các quốc gia châu Á trong việc quản lý nghề cá.

    Lệnh cấm dành cho Sri Lanka sẽ có hiệu lực từ tháng 1/2015 và sẽ ảnh hưởng nhiều nhất đến sản phẩm cá ngừ và cá kiếm tươi và ướp lạnh. Sri Lanka XK cá kiếm và cá ngừ tươi và ướp lạnh sang EU. Giá trị XK hàng năm của 2 mặt hàng này từ Sri Lanka sang châu Âu đạt 74 triệu EUR.

    Các thiếu sót của Sri Lanka bao gồm việc kiểm soát kém và thiếu tuân thủ các quy định về thủy sản quốc tế và khu vực. Sri Lanka hiện đang cho phép các tàu lớn khai thác thủy sản ở Ấn Độ Dương mà không có GPS trên biển (VMS), do đó không thể kiểm soát được hoạt động của các tàu này. EU yêu cầu được biết sản phẩm thủy sản có đảm bảo được tính bền vững về môi trường hay không và do đó, sản phẩm thủy sản của Sri Lanka sẽ bị cấm do khai thác bất hợp pháp. Theo lệnh cấm, sản phẩm thủy sản do tàu cá có treo cờ Sri Lanka đánh bắt sẽ không thể thâm nhập thị trường EU từ năm 2015.

    Ngược lại, các biện pháp trừng phạt thương mại cho Belize từ tháng 3/2014 được dỡ bỏ sau khi nước này có cải cách về luật pháp và cải tiến đáng kể các quy tắc kiểm tra, kiểm soát và giám sát tàu.

    EC cũng dỡ bỏ cảnh báo đối với Fiji, Panama, Togo và Vanuatu sau khi các nước này có những hành động chống khai thác thủy sản bất hợp pháp.

    Suy cho cùng, áp lực EU đã giúp các nước hướng đến phát triển nghề cá bền vững. Trong những năm qua, EU đã hỗ trợ hàng chục quốc gia tăng cường khai thác thủy sản có trách nhiệm.  XK thủy sản hàng năm của 5 trong số các nước này sang EU đạt 50 triệu EUR.

    Hàn Quốc, Curacao và Ghana đã bị EU gửi cảnh báo vào tháng 10/2013. Những nước này chưa có nhiều biện pháp để tránh trừng phạt thương mại nhưng EU kéo dài thời gian xem xét đến tháng 1/2015. Lệnh trừng phạt đối với Guinea và Campuchia từ hồi đầu năm nay vẫn được giữ nguyên.

    Source: Thu Trang, VASEP
    (Theo Fish2fork)
  • “Hủ tục” săn cá voi trên đảo Faroe
    Săn cá voi là một trong những nghi lễ truyền thống lâu đời nhất trên thế giới còn tồn tại đến ngày nay. Nhiều nhà khoa học, tổ chức bảo vệ động vật hoang dã thế giới đã kịch liệt phản đối tục lệ đẫm máu này.

    Truyền thống văn hóa hay tội ác?

    Tôi đã từng chứng kiến cảnh một cậu bé mới 8 tuổi tự cầm con dao sắc lẹm để lấy đi mạng sống của một con cá voi vô tội. Cậu bé hào hứng giúp cha săn cá voi trong nghi lễ truyền thống tồn tại hàng ngàn năm trên đảo. Máu cá voi phun xối xả vào tóc và mặt cậu bé, trông cậu hệt như một chiến binh da đỏ Bắc Mỹ trước khi bước vào một cuộc chiến đẫm máu. Sự ấm nóng của dòng máu đỏ sẽ làm cậu nhớ mãi không quên, bới nó tương phản với cái lạnh thấu xương của vùng Bắc Đại Tây Dương thời gian đó.

    san-ca-voi-2.jpg

    Các tổ chức bảo tồn động vật thiên nhiên hoang dã đang ra sức kêu gọi toàn nhân loại bảo vệ cá heo, cá voi. Mọi hành vi giết hại, săn bắn trái phép đều bị lên án giống như một loại tội ác khó dung thứ. Trong vòng 2 tuần, những tình nguyện viên tổ chức bảo vệ động vật Sea Shepherd thực hiện chuyến đi vòng quanh nước Anh, kêu gọi sự hỗ trợ của toàn cộng đồng trong việc thực hiện chiến dịch xóa sổ tục săn cá voi tàn nhẫn trên đảo Faroe. Chiến dịch này đã thu hút sự quan tâm của các hãng truyền thông. Các đoạn video quay lại cảnh cá voi bị thảm sát đẫm máu được phát tán với tốc độ chóng mặt. Hình ảnh những chú cá voi đáng thương bị dồn vào bãi biển, giãy giụa tuyệt vọng trong mớ dây thừng to khỏe và móc kim loại sắc nhọn rồi lịm dần sau vết cắt đứt xương sống ám ảnh cư dân toàn thế giới, đặc biệt là những người yêu động vật.

    san-ca-voi-1.jpg

    Cần được bảo vệ

    Nhiều quốc gia trên thế giới đã thảo những bộ luật nhằm bảo vệ loài cá đặc biệt này. Năm 2013, Ấn Độ đã ban hành luật mới bảo vệ cá voi, năm 2011, Hiệp hội tiến bộ Khoa học kỹ thuật của Mỹ đã bắt đầu ban hành bản tuyên ngôn về quyền của các loài động vật có vú, truyền tải thông điệp “tất cả các loài động vật có vú có quyền được sống”.

    san-ca-voi-3.jpg

    Nhưng việc xóa bỏ một tập tục đã tồn tại hàng nghìn năm trong đời sống văn hóa của cộng đồng là một điều không đơn giản. 50.000 người trên đảo Faroe có truyền thống ăn thịt chim hải âu rụt cổ, mòng biển, hải âu petrel, hải âu fulmar từ thời tổ tiên. Người dân đảo sống dựa vào nguồn thực phẩm từ thịt cá voi. Các chuyên gia cho rằng, tập tục săn cá voi tồn tại trên đảo Faroe hơn 1.200 năm.

    Tuy nhiên, tập tục này nên dừng lại trong lịch sử. Cá voi là thực phẩm duy trì sự sống của tổ tiên người dân đảo Faroe, nhưng ngày nay, ngoài cá voi, người dân đảo còn có nhiều nguồn thực phẩm khác. Cuộc sống của cá voi đang bị đe dọa khắp nơi. Đầu năm 2014, nhà máy Pu Qi ở Trung Quốc bị phát hiện là nơi chế biến hơn 600 con cá mập, cá voi mỗi năm. Cá voi trắng ở sông St Lawrence ở Canada đang bị nhiễm hóa chất siêu độc PCBs… Người Faroe hay bất cứ quốc gia nào trên thế giới, nên dừng lại và tự hỏi, con người có nên từ bỏ việc săn bắn cá voi và cứu chúng khỏi nguy cơ tuyệt chủng?

    >> Vì những tục lệ hay nguồn lợi trước mắt mà con người sẵn sàng ra tay sát hại cá voi và làm ô nhiễm nguồn nước biển. Đó thực sự là vấn đề nhức nhối khi nạn ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái đang biến đổi từng ngày. Điều này phụ thuộc nhiều bởi chính thái độ ứng xử của con người với tự nhiên.

    Source: Đan Linh, Tạp chí Thủy sản VN.
    Theo Tim Eccot
  • Kinh nghiệm chọn và thả tôm giống
    Chất lượng tôm giống và cách thả tôm giống ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng tôm thương phẩm. Tuy nhiên để chọn được tôm giống chất lượng và thả đúng kỹ thuật người nuôi cần lưu ý những yếu tố sau:

    Chọn tôm giống

    Kiểm tra tôm bằng phương pháp cảm quan: Tôm có kích cỡ đồng đều, hệ số chênh lệch không vượt quá 5%, chiều dài >1,2cm. Màu sắc tôm tươi sáng, màu xám hoặc vàng xám (màu da bò), đầu thân cân đối, đuôi tôm xòe ra là con giống tốt. Dùng tay gõ nhẹ vào thành dụng cụ chứa tôm, nếu tôm phản ứng nhanh thì đàn tôm đó khỏe. Tôm bột không khỏe sẽ bơi lờ đờ, không phản ứng và bơi lội cong vẹo. Có thể cho tôm giống vào thau dùng tay khuấy đều, tôm khỏe thường bơi ngược dòng hoặc bám xung quanh thành thau, tôm yếu thường tụ lại ở giữa.

    Nếu có kính lúp, lấy ngẫu nhiên khoảng 15 con tôm giống trong cùng một bể lên soi. Nếu thấy gan tụy, ruột nhỏ hoặc không có thức ăn, có các sinh vật bám vào thân, chân tôm hay có những con bị gãy râu, gẫy chân thì mẻ đó có chất lượng không tốt.

    Có thể chọn tôm bằng phương pháp gây sốc cho tôm bằng cách dùng Formalin test 100 - 150 ppm, hoặc hạ đột ngột độ mặn 15 ppt. Loại A 90 - 100% tôm còn sống, loại B 80 - 89 % còn sống, loại C <79% tôm còn sống sót.

    Nếu có điều kiện tốt nhất người nuôi đem tôm đi để kiểm tra bằng phương pháp PCR để xác định tôm giống không nhiễm mầm bệnh.

    Cách thả

    Nên thả giống vào lúc trời mát. Cân bằng độ mặn trước khi vận chuyển để có độ mặn tương đồng và nhiệt độ phải cân bằng giữa hai môi trường. Tôm giống thả đầu hướng gió để tôm phân tán khắp ao. Có hai cách thả tôm giống an toàn:

    Cách 1: Bao tôm mới vận chuyển về thả trên mặt ao khoảng 15 - 30 phút để cân bằng nhiệt độ bên trong và ngoài bao. Sau đó mở miệng bao ra, tạt từ từ nước ngoài ao vào trong bao, sau đó mở dần miệng bao để tôm bơi ra. Khi thả tránh lội xuống ao làm đục nước ao.

    Cách 2: Chuẩn bị một số thau lớn khoảng 20 lít và máy sục khí. Đổ bao tôm vào thau khoảng 10.000 con/thau và sục khí. Cho thêm nước ao nuôi vào thau từng ít một để tôm thích nghi dần. Sau khoảng 15 - 30 phút nghiêng thau để tôm bơi ra từ từ. Một số dấu hiệu để nhận biết tôm khỏe là thích nghi với môi trường nước khi thuần tôm trong thau, không có hoặc ít tôm chết. Tôm bơi lội linh hoạt, bám vào thành thau. Tôm khỏe sau khi thả trong ao bơi chìm không nổi trên mặt nước.

    >> Khi thả giống phải lưu ý đến thời tiết. Không nên thả giống vào trời mưa và trước khi mưa. Khi mưa các yếu tố môi trường nước biến đổi nhanh, tôm giống mới thả đang yếu khó thích nghi dẫn đến tình trạng hao hụt nhiều.

    Source: Kỹ sư thủy sản Bùi Thế Đức - Giám đốc Công ty TNHH MTV Đầu tư và Phát triển Hưng Đức. Tạp chí Thủy sản Việt Nam.
  • Mô hình nuôi tôm thành công trong vùng dịch tại Bạc Liêu
    Trong những tháng đầu năm 2014, với nền nhiệt của các tỉnh khu vực đồng bằng Sông Cửu Long, biến đổi thất thường giữa ngày và đêm. Biên độ nhiệt giữa ngày và đêm chênh lệch rất lớn là nguyên nhân chính gây ra bùng phát dịch bệnh trên tôm. Một trong những tỉnh chịu thiệt hại nặng nề nhất khu vực đồng bằng Sông Cửu Long là Sóc Trăng, Cà Mau, Bạc Liêu…Tuy nhiên, trong các vùng nuôi tôm dịch bệnh vẫn có những mô hình quản lý chặt chẽ trong quá trình nuôi và cho kết quả tốt, với 7 năm kinh nghiệm trong nghề nuôi tôm và chịu khó tìm hiểu, áp dụng các ứng dụng khoa học kỹ thuật, anh Phạm Thái Hòa thuộc Ấp Bửu 1 – xã Long Điền Đông – Huyện Đông Hải đã thực hành nuôi thành công mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng trên diện tích 4.400m2. Đáng chú ý là mô hình này nằm trong vùng đã xảy ra dịch bệnh đốm trắng và bệnh hoại tử gan tụy trong năm 2013. Với diện tích 4.400 m2, anh Hòa chia thành 2 ao nuôi (1 ao: 2.100 m2và 1 ao 2.300 m2). Sau khi tìm hiểu các quy trình nuôi tôm an toàn và hiệu quả, anh Hòa đã áp dụng nuôi tôm vi sinh, với quy trình thực hành nuôi như sau:

    Xử lý mầm bệnh: Trước khi thả nuôi cần xử lý triệt để các mầm bềnh còn sót lại trang ao bằng Cholrine (30kg/1.000 m3), formol (3-5 lít/1.000 m3) thuốc tím (0,5 – 1 lít/ 1.000 m3)… sau 3- 5 ngày xử lý tiến hành xả nước ra ngoài.

    Cải tạo ao: Sau khi xử lý triệt để các mầm bệnh trong ao thì tiến hành sên vét, loại bỏ lớp bùn đen ra khỏi ao và tiến hành bón vôi  với liều lượng khoảng 700- 1000 kg/ha (pH đất > 6), phơi ao khoảng 7 -10 ngày trước khi lấy nước.

    Lấy nước và xử lý: Nước được đưa vào ao thông qua túi lọc sau đó tiến hành diệt tạp chất bằng saponin (15 – 20 kg/1.000 m3); diệt khuẩn, virus trong ao bằng BKC (2- 3 lít/1.000 m3), formol (20 – 30 lít/1.000 m3)…Ao lắng phải chiếm khoảng 30% diện tích canh tác để chủ động điều tiết nước khi cần.

    Gây màu nước: Sử dụng các chất gây màu có chứa các nhóm vi sinh vật có lợi cho tôm như Bacillus subtilis, Lactobacillus, các vitamin, axit amin thiết yếu. Theo dõi độ trong của nước, cần duy trì độ trong khoảng 30 – 40cm, pH (7,5 – 8,5 ) độ kiềm (80- 120 ppm), khí độc (<0,1ppm).

    Chọn giống tôm: Tôm thả đạt chuẩn Post 10 – 12. Tôm giống phải khỏe mạnh, được kiểm dịch rõ ràng về nguồn gốc và sạch bệnh. Trước khi thả tôm tiến hành gấy sốc bằng formol, nếu tỷ lệ tôm sống trên 90% là đạt yêu cầu.

    Chăm sóc và quản lý tôm nuôi: Định kỳ xử lý, quản lý chất lượng nước bằng chế phẩm vi sinh, khoáng chất đảm bảo chất các thông số kỹthuật về chất lượng nước.Cho ăn và xử lý chất lượng, sử dụng chế phẩm sinh học hàng ngày được ghi chép cụ thể và theo dõi thường xuyên, để có những điều chỉnh phù hợp. Trong quá trình nuôi mô hình không sử dụng hóa chất, kháng sinh ngoài danh mục cấm.

    Trong khi các hộ nuôi trong vùng đều bị thiệt hại do dịch bệnh xảy ra, nhưng với mô hình của anh Hòa đã an toàn, kiểm soát được dịch bệnh và tránh được thiệt hại do dịch bệnh. Sau khi thu hoạch vụ đầu 2014, sản lượng tôm thẻ chân trắng 2 ao thả nuôi đạt 8,5 tấn. Doanh thu khoảng 1,5 tỷ đồng,trừ chi phí đầu tư khoảng 650 triệu đồng, vụ tôm này anh Hòa lãi 850 triệu. Đây là mô hình nuôi tôm vi sinh hiệu quả và an toàn trong vùng dịch, thời gian tới cần nhân rộng mô hình này cho các địa phương khác trong vùng.

    Source: Văn Thọ, Tổng cục Thủy sản.
  • Nghiên cứu nuôi cá chẽm tăng trưởng nhanh với chi phí thấp
    Các nhà khoa học đến từ Đại học James Cook đã phát triển một quá trình nuôi cá chẽm duy nhất với tốc độ tăng trưởng tốt hơn.

    Các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu sản xuất ra cá chẽm cái phát triển nhanh nhất, hay còn được gọi là cá giống, trong một nỗ lực để có được những con cá từ trang trại đến bàn ăn nhanh hơn và rẻ hơn.

    Tiến sĩ Jose Domingos và nhóm nghiên cứu của ông từ Trung tâm thuộc trường đại học Nghề cá nhiệt đới và nuôi trồng thủy sản bền vững ở Townsville đã phát triển một phương pháp truy tìm các gen phát triển nhanh giống như bố mẹ chúng, chỉ vài tuần sau khi cá giống được sinh ra.

    Các xét nghiệm trước đây mất nhiều năm để hoàn thành.

    Tiến sĩ Domingos đã phát triển các kỹ thuật xét nghiệm di truyền để xem xét tỷ lệ của các phân tử RNA và DNA trong ấu trùng cá khi chúng được 18 ngày tuổi.

    Phân tử RNA là một trong những chỉ số về tăng trưởng tế bào, Tiến sĩ Domingos nói.

    "Chúng tôi đã chỉ ra rằng cá con có RNA cao nhất sẽ có tỷ lệ tăng trưởng DNA dài hạn tối ưu đến kích thước thu hoạch", ông nói.

    Trước đó, người nuôi cá chẽm đã phải chờ đến khi cá được thu hoạch vào khoảng 18 tháng để xác định tốc độ tăng trưởng của bố mẹ chúng sau sinh sản nhanh hay chậm.

    Điều này có nghĩa rằng người nuôi phải tạm giữ một số lượng lớn cá thể bố mẹ, đây là một quá trình vô cùng tốn kém.

    Với các xét nghiệm DNA mới sẽ giúp trại sản xuất giống cá chẽm và người nuôi giảm chi phí và tăng cường sản xuất, sau đó cung cấp cá với giá rẻ cho người tiêu dùng.

    "Barramundi là lĩnh vực nuôi trồng thủy sản phát triển nhanh nhất, với nhiều loài cá này hiện nay đến từ các trang trại hơn là đánh bắt trong tự nhiên", Tiến sĩ Domingos nói.

    "Tầm quan trọng của ngành công nghiệp đang gia tăng khi dân số toàn cầu cùng với nhu cầu nguồn protein đang tăng lên".

    Tiến sĩ Domingos chia sẻ thêm “Cá tăng trưởng nhanh cũng đồng nghĩa sẽ sử dụng ít nước hơn”.

    Ngành công nghiệp nuôi cá chẽm tại Úc bắt đầu vào giữa những năm 1980. Hiện tại có khoảng 100 hộ nuôi được cấp phép , theo Hiệp hội Nông dân Barramundi Úc cho biết.

    Mỗi năm ngành công nghiệp sản xuất khoảng 5.000 tấn cá, giá trị ước đạt khoảng 45 triệu tại mỗi trang trại.

    Đa số cá chẽm nuôi đến từ ao nước ngọt hay nước mặn ngoài trời và lồng nuôi biển, ở phía bắc Queensland, Tây Úc và Lãnh thổ phía Bắc. Tuy nhiên, một số hệ thống tuần hoàn nước ngọt đang hoạt động ở vùng đông nam Queensland.

    Rocky Denys cho biết: người nuôi cá chẽm có bước đột phá trong thử nghiệm sẽ mang đến lợi ích cho các nhà khai thác thương mại khác.

    "Nhu cầu đối với cá thịt trắng, trong đó cá chẽm là loài cá thịt trắng cao cấp tại Úc rất đáng kể," ông chia sẻ với ABC News.

    "Bằng cách sản xuất một con cá hiệu quả hơn, nhanh hơn với chi phí thấp hơn chúng tôi có thể đáp ứng nhu cầu và kích thích tăng trưởng ngành công nghiệp tại Úc và quốc tế".

    Source: Lâm Nhất Phong, TepBac.Com
    Theo Brisbanetimes.com.au
  • Ngừng thẩm tra, kiểm tra chỉ tiêu Triphosphates; Polyphosphates và giảm tần suất...
    Ngày 18/11/2014, Cục Quản lý Chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản (NAFIQAD) đã có công văn số 2440/QLCL-CL1 thông báo ngừng việc thẩm tra, kiểm tra bắt buộc đối với các chỉ tiêu Triphosphates đối với chả cá, surimi, Polyphosphates đối với cá tra, basa philê, tôm đông lạnh đồng thời giảm tần suất thẩm tra, kiểm tra chỉ tiêu Trifluraline đối với các lô hàng sản phẩm thủy sản nuôi XK xuống mức 01/20 lô.

    Ngoài ra, NAFIQAD cũng thông báo về việc cập nhật các quy định của EU như sau:

    1. Bổ sung chỉ tiêu Oxytetracycline đối với các lô hàng tôm nuôi và các sản phẩm từ tôm nuôi với giới hạn tối đa cho phép 100 µg/kg.

    2. Điều chỉnh mức giới hạn tối đa cho phép chỉ tiêu Cadimin (Cd) đối với các sản phẩm cá thu, cá trích: 0,05 mg/kg; cơ thịt cá ngừ: 0,15 mg/kg; cơ thịt cá cơm, cá cờ kiếm: 0,25 mg/kg (so với quy định trước đây của EU lần lượt là: 0,1 mg/kg; 0,2 mg/kg và 0,3 mg/kg).

    3. Bổ sung chỉ tiêu Histamine đối với:

    - Thủy sản lên men (không phải nước mắm) từ các loài thủy sản có hàm lượng histidin cao: mức giới hạn cho phép: Mức giới hạn cho phép: n=9; c=2, m=200mg/kg, M=400mg/kg.

    - Nước mắm sản xuất bằng phương pháp lên men: mức giới hạn tối đa cho phép: 400mg/kg.

    Tần suất thẩm tra, kiểm tra các chỉ tiêu nêu trên được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 48/2013/TT-BNNPTNT ngày 12/11/2013 của Bộ NN và PTNT.

    Trước đó, ngày 12/9/2014, VASEP đã gửi công văn số 169/2014/CV-VASEP tới Bộ Nông nghiệp và PTNT kiến nghị về việc rà soát hai Quyết định của Bộ và dừng kiểm tra các chỉ tiêu ATTP đã được kiểm soát hiệu quả, tránh lãng phí và nâng cao năng lực cạnh tranh cho DN XNK thủy sản.

    Tại công văn này, VASEP đề nghị Bộ NN và PTNT chỉ đạo:

    1. Rà soát ngay để thay thế 02 văn bản của Bộ về chỉ tiêu kiểm tra về an toàn thực phẩm đối với lô hàng thủy sản XNK là Quyết định 2864/QĐ-BNN-QLCL ngày 24/11/2011 và 1471/QĐ-BNN-QLCL ngày 20/6/2012 - trong đó cần đánh giá, xem xét điều chỉnh lại các chỉ tiêu ATTP đã được kiểm soát và khắc phục hiệu quả;

    2. Trong thời gian nhất định cho việc rà soát ưu tiên 2 văn bản trên, xem xét ngay việc loại bỏ 2 chỉ tiêu “Trifluraline” và “Polyphosphate” khỏi danh mục kiểm tra theo những báo cáo trên và dữ liệu kiểm soát có sẵn.

    Source: Tạ Hà, VASEP