• Rãnh Mariana: Nơi sâu nhất hành tinh
    Rãnh Mariana hình lưỡi liềm, ở Tây Thái Bình Dương, phía đông quần đảo Mariana, gần Guam. Bao quanh rãnh biển này là một hệ sinh thái độc đáo.

    Kỳ lạ

    Rãnh Mariana dài 1.580 dặm (2.542 km), gấp 5 lần chiều dài Đại hẻm núi ở Mỹ (Grand Canyon). Tuy nhiên, nơi hẹp nhất của rãnh chỉ rộng 43 dặm (69 km). Guam nằm trong lòng nước Mỹ và 15 hòn đảo Bắc Mariana nằm trong Khối thịnh vượng chung Mỹ, nên Mỹ có thẩm quyền đối với rãnh Mariana. Năm 2009, cựu Tổng thống Mỹ George W. Bush đã thành lập Khu kỷ niệm hải dương quốc gia Rãnh Mariana, nhằm tạo ra một khu bảo tồn hải dương với diện tích xấp xỉ 195.000 dặm vuông (506.000 km2) đáy biển và các vùng nước bao quanh quần đảo nằm ở nơi hẻo lánh. Nơi này bao gồm rãnh Mariana, 21 ngọn núi lửa dưới đáy biển và những khu vực bao quanh 3 quần đảo.

    img01.jpg
    Tàu thám hiểm rãnh Mariana.

    Rãnh Mariana được hình thành từ một quá trình diễn ra trong khu vực sụt giảm, nơi có hai phiến vỏ bề mặt đại dương va nhau. Tại một nơi sụt giảm, một phiến vỏ đại dương sẽ được đẩy lên và nó sẽ đè lên một phiến vỏ khác, phiến vỏ này sẽ chìm sâu dưới lớp vỏ trên đầu nó. Nơi hai lớp vỏ giao cắt nhau thì một rãnh sâu sẽ xuất hiện và uốn cong trên lớp vỏ bị chìm. Trường hợp này, lớp vỏ Thái Bình Dương sẽ uốn cong bên dưới lớp vỏ Philippines. Lớp vỏ Thái Bình Dương, còn gọi là đĩa kiến tạo địa chất, hình thành cách đây 180 triệu năm, nằm trong rãnh. Đĩa Philippines trẻ và nhỏ hơn đĩa Thái Bình Dương.

    LR-02_MM8108_20120326_23579.jpg
    Đạo diễn James Cameron trước chuyến thám hiểm thành công xuống Mariana.

    Một chuỗi núi lửa nhô cao lên sóng biển đã hình thành một vòng cung hình lưỡi liềm của rãnh Mariana. Xen kẽ với quần đảo Mariana là nhiều ngọn núi lửa kỳ lạ. Núi lửa chìm Eifuku phun ra khí carbon dioxide lỏng từ các lổ thông thủy nhiệt tương tự ống khói. Chất lỏng thoát ra các ống khói này 103 độ C. Tại núi lửa ngầm Daikoku, các nhà khoa học đã khám phá ra một hồ lưu huỳnh nóng chảy tại độ sâu 410 m dưới bề mặt biển, nơi này chẳng giống với bất kỳ đâu trên trái đất.

    Sự sống

    Những chuyến thám hiểm khoa học gần đây đã khám phá ra đời sống đa dạng tại những điều kiện hết sức khắc nghiệt. Động vật tại những nơi sâu nhất rãnh Mariana thường  sống trong bóng đêm và áp lực nước cực cao. Thức ăn ở rãnh Mariana đặc biệt rất hạn chế, do bởi độ sâu và nằm cách xa đất liền. Lá cây, dừa và cây cối hiếm khi nằm ở đáy rãnh, còn xác các sinh vật phù du từ mặt nước phải chìm hàng ngàn dặm mới chạm tới vực Thử thách. Thay vào đó, một số vi sinh vật sống phụ thuộc hóa chất, như lưu huỳnh hay Methane, trong khi các sinh vật hải dương khác sống nhờ chuỗi thức ăn tầng dưới.

    z300-Thuy-san-Viet-Nam3556.jpg
    Sinh vật sống dưới rãnh Mariana.

    Sinh vật phổ biến ở đáy rãnh Mariana là Xenophyophores, Amphipods và những con hải sâm nhỏ xíu (Holothurian). Các con Xenophyophores đơn bào giống con Amip khổng lồ, hấp thụ thức ăn quanh chúng. Con Amphipod thân hình sáng bóng, ăn xác thối, thường thấy tại các rãnh biển sâu. Loài Holothurian có thể là một dạng sinh vật mới, những con hải sâm trong suốt. Loài Holothurian chưa từng thấy và nó khá dồi dào. Các nhà khoa học cũng nhận dạng hơn 100 loài vi sinh vật vốn được thu hoạch từ bùn ở vực Thử thách. Bùn được mang về phòng thí nghiệm dưới dạng đất khô, trong những hộp đặc biệt. Chúng được giữ trong điều kiện mô phỏng áp lực và độ lạnh. Trong chuyến thám hiểm Cameron 2012, các nhà khoa học đã phát hiện ra những thảm vi sinh vật ở vực Sirena, phía đông của vực Thử thách. Những khối vi sinh vật này ăn Hydrogen và Methane thoát ra từ các phản ứng hóa học giữa nước biển và đá.

    Một số thông tin thêm về rãnh Mariana

    - Năm 1875, rãnh Mariana được khám phá bởi tàu Hải quân Hoàng gia Anh HMS Challenger sử dụng công nghệ âm thanh trong một chuyến du lịch vòng quanh thế giới.

    - Năm 1951, rãnh được đo âm thanh lần nữa bởi tàu HMS Challenger II. Vực được đặt tên sau khám phá.

    - Năm 1960, một "tàu lặn sâu" tên là Bathyscaphe Trieste đã chạm đáy vực Thử thách. Đây là con tàu đầu tiên làm điều này. Nó được lái bởi Trung tướng hải quân Mỹ Don Walsh và nhà khoa học Thụy Sỹ - Jacques Piccard.

    - Năm 1995, tàu ngầm không người lái của Nhật Bản - Kaiko đã thu thập các mẫu và dữ liệu hữu ích từ rãnh Mariana.

    - Năm 2009, Mỹ phái đi một cỗ máy hoạt động độc lập tên là Nereus chạm đáy vực Thử thách. Con tàu ở tại đáy gần 10 giờ.

    - Năm 2012, tàu có người lái Cameron đã chạm đáy vực nhưng không chụp bức ảnh nào, do sự rò rỉ chất lỏng thủy lực. Con tàu này sau đó được tặng cho Viện Hải dương học Woods Hole.

    >> Ngày 26/3/2012, vị đạo diễn lừng danh thế giới (Titanic; Avatar) James Cameron đã lặn sâu 10.898 mét ở rãnh Mariana. Sau chuyến thám hiểm thành công, ông chia sẻ: "Dường như tôi lạc đến một hành tinh khác rồi về. Đáy đại dương là nơi hoàn toàn khác biệt, như thế giới sinh vật ngoài hành tinh. Nơi đây trơ trọi, hoang sơ, tách biệt với phần còn lại của Trái đất.

    Source: Thanh Hả, Tạp chí Thủy sản VN.
  • Năm 2016 sẽ có giống tôm bố mẹ “made in Việt Nam”
    Ngày 27.11, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản Phạm Anh Tuấn khẳng định: Trong thời gian tới sẽ kiểm soát chặt nguồn cung đồng thời nhanh chóng thẩm định đánh giá kết quả bước đầu của giống “made in Việt Nam” tiến tới chủ động nguồn cung giống trong năm 2016.

    Mỗi năm, Việt Nam cần 130 tỉ con tôm giống trong đó có 100 tỉ con tôm chân trắng và 30 tỉ con tôm sú giống. Để đáp ứng được nhu cầu này thị trường cần 210.000 con tôm giống bố mẹ. Hiện nay, có các nguồn tôm cung ứng cho thị trường là nhập khẩu (NK) từ: Mỹ, Thái Lan, Singapore, Indonesia… và khai thác từ nguồn tự nhiên và sản xuất trong nước. Tuy nhiên NK và khai thác từ nguồn tự nhiên cũng có nhiều khó khăn do không chủ động được nguồn cung, giá thành NK tương đối cao đối với giống tôm bố mẹ trung bình 50USD/con.

    Còn khai thác từ nguồn tự nhiêu khả năng sạch bệnh rất ít. Hiện nay, chúng ta phải NK tôm giống bố mẹ chân trắng 100%, tôm sú giống bố mẹ mới sản xuất cung ứng khoảng hơn 10% nhu cầu của tôm giống bố mẹ mà thị trường cần.

    Theo ông Phạm Anh Tuấn – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản: “Nếu chủ động được nguồn giống bố mẹ thì chúng ta sẽ giảm chi phí được 30%. Đồng thời nếu Việt Nam chủ động được nguồn giống có thể đảm bảo chất lượng giống thủy sản sạch bệnh là cơ sở để có thủy sản thương phẩm chất lượng cao trong thời gian tới”.

    Hiện nay, Tập đoàn Việt – Úc đã nghiên cứu và có kết quả đã giống tôm bố mẹ dòng 2 (G2) đang trong quá trình đánh giá khảo nghiệm. Trên cơ sở kết quả đó, Tổng cục Thủy sản đã cho phép sử dụng ngay đàn G2 vào trang trại của tập đoàn nhưng yêu cầu phải ghi rõ thông tin, đây là cách để giảm số lượng NK. Nếu thuận lợi năm 2016 giống tôm chân trắng dòng bố mẹ chất lượng thương hiệu “made in Việt Nam” sẽ được nhân rộng đưa ra thị trường.

    Bên cạnh việc đẩy mạnh lai tạo tôm giống bố mẹ, cơ quan quản lý sẽ kiểm soát chặt việc NK tôm. Tổng cục Thủy sản đã đánh giá nhà cung cấp. Qua kiểm tra cho thấy đã có nhà cung cấp nguồn giống không đảm bảo chất lượng và cơ quan quản lý đã loại 2 nhà cung cấp không đảm bảo.

    Trong thời gian tới, Tổng cục Thủy sản sẽ kiểm soát nguồn cung giống tôm bố mẹ bằng cách chuyển từ kiểm soát theo lô sang kiểm soát điều kiện sản xuất và hệ thống sản xuất. Trên có sở đó không phải doanh nghiệp nào cũng có thể NK giống mà sẽ có sự sàng lọc”.

    Source: Báo Lao Động
  • Pufferfish makes an extraordinary sand sculpture to attract and win a mate
    Một con cá nóc Nhật Bản đã tạo nên một "kiệt tác" nghệ thuật trên cát để thu hút bạn tình. Để chiếm được trái tim của "người đẹp" không dễ dàng chút nào đâu. Mấy anh em FA nên xem lại mình và phấn đấu nhiều hơn nhé.

    A Japanese pufferfish makes an extraordinary sand sculpture to attract and win a mate.
  • Ngành tôm Thái Lan và những thách thức năm 2014
    Dịch bệnh EMS và chính sách thuế XK bất lợi khiến cho ngành tôm Thái Lan năm nay càng thêm khó khăn sau khi giảm sút mạnh năm 2013. Khối lượng XK tôm 8 tháng đầu năm giảm 32% đạt 89.462 tấn, giá trị 1,16 tỷ USD, giảm 17%. XK sang các thị trường đều giảm: Mỹ 35.000 tấn (-23,9%) trị giá 454 triệu USD (-5,6%); Nhật Bản: 23.670 tấn (-38,2%), giá trị 283 triệu USD (-30,5%). EU: 11.034 tấn (-39,5%) đạt 156 triệu USD (-38,5%). Dự báo XK tôm Thái Lan không thể hồi phục trước QII/2015 do EMS.

    Dịch bệnh EMS làm giảm sản lượng

    Dịch bệnh EMS xảy ra ở khu vực Đông Thái Lan từ cuối 2012, sau đó lan rộng ra khu vực nuôi trồng thủy sản ở miền Nam nước này, khiến sản lượng tôm nuôi giảm 42% còn 270.000 tấn trong năm 2013; XK giảm 34% còn 187.000 tấn. Trước 2012: sản lượng tôm trung bình của Thái Lan đạt 500 -600.000 tấn/năm.

    Năm 2014, dịch bệnh EMS đã được kiểm soát nhưng điều kiện thời tiết xấu tiếp tục ảnh hưởng đến sản xuất tôm Thái Lan. XK tôm của nước này bị ảnh hưởng rất mạnh và nhiều nhà máy chế biến buộc phải ngừng sản xuất vì thiếu nguyên liệu.

    Quý I/2014, 3 công ty lớn của Thái Lan đã phải đóng cửa nhà máy chế biến tôm vì thiếu nguyên liệu. Tập đoàn CP FOOD đã phải cho 1.200 công nhân nghỉ việc, chỉ tập trung cho dây chuyền sản xuất hàng GTGT. CP FOOD cũng lập một nhà máy chế biến mới ở Việt Nam bắt đầu sản xuất từ tháng 2/2014. Những động thái này cho thấy ngành tôm Thái Lan đã chuyển sang chiến lược giảm XK nguyên liệu, tăng sản phẩm GTGT.

    Giá tôm chân trắng trong nước tăng 60-85% (thời điểm giữa năm 2014) so với năm trước nên XK tôm nguyên liệu sẽ bất lợi cho các nhà chế biến. Vì vậy, họ đẩy mạnh XK hàng GTGT sang các thị trường chính: Nhật Bản, Mỹ và EU.

    Người nuôi tôm Thái Lan năm nay cũng giảm mật độ thả nuôi để tránh dịch bệnh và tập trung hơn vào nuôi tôm cỡ nhỏ.

    Ước tính năm 2014, sản lượng tôm Thái Lan sẽ đạt 200.000 tấn, giảm 26% so với năm 2013; XK khoảng 150.000 tấn, giảm 25% so với 2013.

    Do thiếu hụt nguyên liệu nên Thái Lan tăng cường NK tôm để chế biến hàng GTGT. Theo Hiệp Hội Thực phẩm đông lạnh Thái Lan (TFFA), năm 2014 nước này cần NK 40.000 tấn tôm để bù đắp thiếu hụt nguyên liệu.

    Giảm cạnh tranh tại thị trường EU và Mỹ

    Tuy nhiên, tôm XK của Thái Lan đang bị giảm cạnh tranh vì không được hưởng thuế ưu đãi. Tôm hấp chín của Thái Lan không được hưởng thuế ưu đãi GSP của EU . Năm 2014: Thuế tôm hấp và chế biến của Thái Lan tại EU là 20%. Tôm nguyên liệu cũng bị mất thuế GSP 4% từ 1/2015 và Thái Lan phải chịu mức 12%. Hiện nay Thái Lan đang đàm phán FTA với EU về vấn đề này.

    15895097265_c8430162d2_o.jpg

    Ngoài ra, báo cáo Nạn buôn người (TIP) hàng năm của Mỹ xếp Thái Lan vào cấp độ 3 cũng là một thách thức đối với ngành thủy sản Thái Lan, làm mất cơ hội XK sang thị trường Mỹ

    Năm nay Thái Lan tập trung sản xuất tôm cỡ nhỏ, trong khi nhu cầu tôm cỡ lớn trên các thị trường NK tăng khiến giá tôm cỡ nhỏ giảm, ảnh hưởng đến người nuôi.
     
    Source: Lê Hằng, VASEP
  • Các trại nuôi cá hồi vân Italia đầu tiên đạt chứng nhận ASC
    Những trại nuôi cá hồi vân ở miền trung Italia Umbria và Marche đạt chứng nhận đối với tiêu chuẩn cá hồi nước ngọt ASC cho nuôi trồng thủy sản có trách nhiệm.

    Trại nuôi Biselli, Freddara di Norcia và Sefro Farm thuộc sở hữu của công ty the Azienda Agricola Troticoltura Erede Rossi Silvio là loạt trại nuôi thứ 2 trên toàn cầu đạt chứng nhận ASC đối với Tiêu chuẩn cá hồi nước ngọt ASC. Các trại nuôi này đạt chứng nhận ASC sau khi được đánh giá độc lập bởi nhà chứng nhận thứ 3 Bureau Veritas Đan Mạch.

    Tại Đức, nhãn hiệu thủy sản chất lượng Gottfried Friedrichs đã ra mắt sản phẩm trứng cá hồi nuôi có trách nhiệm trong tháng này, 'Forellen-Caviar von Gottfried Friedrichs' được thu mua từ 3 trại nuôi đạt chứng nhận của Erede Rossi Silvio Group's.

    Erede Rossi Silvio Group có tổng cộng 12 trại nuôi với sản lượng hàng năm khoảng 5.000 tấn, được phân phối sang Italia và các nước châu Âu khác như Bỉ, Đức, Pháp và Hà Lan.

    6 trại nuôi cá hồi vân khác – 4 trại nuôi của Italia và hai của Đan Mạch hiện đang được đánh giá theo tiêu chuẩn cá hồi nước ngọt.

    Các trại nuôi cá hồi đạt chứng nhận ASC phải chứng minh được chúng sử dụng các phương pháp nuôi trồng thủy sản có trách nhiệm, giúp giảm thiểu tác động môi trường và xã hội.

    Source: VietFish, Theo Fis
  • An Giang sản xuất thành công giống cá rô biển nước ngọt
    Sau 2 năm triển khai (2012-2014), tỉnh An Giang đã nghiên cứu thành công và nghiệm thu đề tài “Sản xuất giống cá rô biển” nhằm tạo con giống nhân tạo để phát triển nghề nuôi và bảo tồn nguồn cá nước ngọt bản địa đang ngày càng bị khai thác cạn kiệt.

    Đề tài do thạc sỹ Phan Phương Loan, giảng viên khoa Nông nghiệp và Tài nguyên thiên nhiên (Trường Đại học An Giang) làm chủ nhiệm.

    Đề tài đã xây dựng hoàn chỉnh quy trình nuôi vỗ, kích thích sinh sản nhân tạo và ương giống cá rô biển, nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản cá, kỹ thuật nuôi vỗ thành thục cá rô biển trong giai đoạn đặt trong ao đất, nghiên cứu kích thích sinh sản nhân tạo và ương cá rô biển từ cá bột lên cá giống.

    Kết quả nghiên cứu đã đưa ra quy trình sinh sản giống nhân tạo cá rô biển trong điều kiện tại An Giang, đạt các thông số kỹ thuật là tỷ lệ thành thục cá bố mẹ trong nuôi vỗ từ 50% trở lên; tỷ lệ cá rụng trứng 60-80%; tỷ lệ thụ tinh 50-60%; tỷ lệ nở 60-80%; tỷ lệ sống từ cá bột lên cá giống là 20-30%; kích cỡ cá giống đạt 3-5cm.

    Đề tài đã chuyển giao quy trình kỹ thuật sản xuất con giống nhân tạo cá rô biển, bàn giao 20.000 con cá rô biển giống nhân tạo, 50kg cá bố mẹ cho Trung tâm Giống thủy sản An Giang tiếp tục sản xuất cung cấp giống cho người nuôi.

    Nghiên cứu thành công sinh sản nhân tạo cá rô biển sẽ góp phần bảo vệ nguồn lợi thủy sản và đa dạng hóa giống loài thủy sản nước ngọt cho tỉnh An Giang cũng như Đồng bằng sông Cửu Long.

    Đây là loài cá bản địa có chất lượng thịt trắng, béo, thơm ngon, dinh dưỡng, không thể thiếu trong bữa ăn của người dân Nam Bộ.

    Cá rô biển đang dần vắng bóng tại các chợ trong vài năm trở lại đây, hiện người dân tiêu dùng cá rô biển từ biển Hồ (Campuchia) theo dòng nước lũ vào địa phận tỉnh An Giang nhưng rất hiếm.

    Cá rô biển còn là loài cá có giá trị kinh tế cao, sống được trong điều kiện nước ngọt hay nước lợ nên thích nghi với biến đổi khí hậu. Giá bán cá tại các chợ hiện rất cao từ 120.000-150.000 đồng/kg./.

    >> Cá rô biển (Pristolepis fasciata Bleeker, 1851) có chất lượng thịt thơm ngon. Đặc biệt, loài cá này có khả năng sống ở nước ngọt, lợ rất phù hợp nuôi trong điều kiện biến đổi khí hậu, sự xâm nhập mặn như hiện nay.

    Source: Vietnam Plus
  • Món lợi khổng lồ từ Geoducks
    Lệnh cấm nhập khẩu nhuyễn thế của Trung Quốc khiến các nhà sản xuất mặt hàng này phải chuyển hướng về thị trường nội địa. Lợi nhuận do nuôi Geoducks sụt giảm nhưng ngư dân Pudget Sound vẫn kiên trì theo nghề.

    Giá trị

    Geoduck còn được gọi là tu hài Canada, ốc vòi voi, hay sò vương, sống ở vùng biển mặn, sạch ở Canada và Tây Bắc nước Mỹ. Chúng có tuổi thọ khoảng 160 năm. Đây là một loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ sống trong nước mặn thuộc họ Triadacnidae. Geoduck là hải sản quý hiếm, giàu dinh dưỡng và có giá trị kinh tế cao. Loại tu hài vòi dài này được đồn thổi là món ăn cực tốt cho sinh lực các quý ông. Đây cũng là món ăn thượng hạng tại Trung Quốc. Lệnh cấm nhuyễn thể vùng West Coast mới đây của Trung Quốc khiến những người yêu thích loại thủy sản này phải hụt hẫng và đẩy các nhà cung cấp vào tình cảnh khó khăn.

    15702737379_e588a173ff_o.jpg

    Geoduck là đặc sản nổi danh của vùng Puget Sound, nó được ví như vàng. Josh Green, một ngư dân Puget Sound nhớ lại những chuyến đi săn Geoduck đầy thú vị vào nửa đêm với đồ nghề chỉ gồm xô, xẻng và ống xiphông để hút Geoduck. Giờ, Green đang là đầu bếp tại nhà hàng chuyên phục vụ các món nhuyễn thể tại Seattle. "Geoduck luôn được coi là đặc sản ở nhà hàng và có thể chế biến được rất nhiều món. Chúng tôi mua nguyên liệu từ trại nuôi nhuyễn thể Taylor Shellfish Farms ở Shelton, Wash" - Josh Green nói.

    Geoduck có mặt trong thực đơn 20 nhà hàng ở Seattle. Loại thủy sản hảo hạng này đã bắt đầu được đón nhận ở thị trường nội địa. Các đầu bếp nổi tiếng ở Seattle bắt đầu đa dạng hóa các món ăn, gồm sushi từ Geoduck. Các chủ nhà hàng nhận thấy, thực khách địa phương đều yêu thích món hải sản này.

    Nhưng không dễ nuôi

    Thông thường, toàn bộ Geoduck vùng Seattle sẽ được vận chuyển sang Trung Quốc. Tại thị trường này, Geoduck có giá 150 USD/pound. Năm 2012, trị giá xuất khẩu Geoduck của Mỹ sang Trung Quốc đạt 68 triệu USD, chủ yếu từ bang Washington. Nhưng sau đó Trung Quốc cấm tất cả các sản phẩm nhuyễn thể nhập  khẩu từ West Coast, trong đó có Geoduck mà nguyên nhân theo như nhà chức trách nước này nói là phát hiện độc tố PSP trong hai lô hàng nhập khẩu từ Alaska và Washington. Cuối năm 2013, cơ quan quản lý nguồn lợi tự nhiên bang Washington thông báo, doanh thu từ hoạt động đánh bắt thủy sản đã giảm 1 triệu USD do lệnh cấm trên.

    Ngoài ra cũng có số ít hộ nuôi nhỏ lẻ khác, nhưng năng suất không cao. Hiện, diện tích nuôi Geoduck ở vùng đới triều khoảng 120 ha.

    geoduck-farming-ddbc86e30f4bc0aa32f4d14a
    Trại nuôi Geoducks ở Totten Inlet, Washington - Nguồn: Npr.org

    Geoduck tự nhiên sinh trưởng rất chậm, sau 39 năm mới trưởng thành và có thể cho thu hoạch. Nhận thấy nguồn lợi lớn từ Geoduck, ngư dân Seattle đã bắt đầu xây trại giống Geoduck, nuôi thử nghiệm loại hải sản này nhưng không thành công vì tỷ lệ sống thấp. Tình hình trên chỉ được cải thiện khi những chuyên gia thủy sản trong vùng bắt đầu sử dụng ống PVC để nuôi Geoduck. Trại giống sẽ chịu trách nhiệm sản xuất con giống, ương nuôi suốt giai đoạn ấu trùng, tới khi chúng đạt kích thước hơn 1 cm thì vào nuôi trong ống PVC. Những ống PVC chứa Geoduck sẽ được cắm trên vùng đới triều, nhô lên khỏi mặt nước 7 cm. Ống PVC luôn được bảo vệ kỹ lưỡng bằng hệ thống lưới đặc biệt để ngăn chặn sự xâm nhập của các loài ăn thịt. Geoduck phát triển rất tốt ở vùng cận triều. Do đó, môi trường sinh sống trong ống PVC sẽ giúp tạo ra một hồ thủy triều thu nhỏ, ngăn nước cạn khô khi thủy triều rút. Geoduck nuôi trong ống PVC sẽ cho thu hoạch sau 5 năm, với trọng lượng 1 - 2 pound.

    Rõ ràng, việc thị trường Trung Quốc đóng cửa lại là cơ hội cho các trại nuôi Geoduck nhìn nhận và định hướng lại thị trường, đưa sản phẩm này cung ứng ngay tại thị trường nội địa rộng lớn và tiềm năng cũng không phải là phương án tồi.

    >> Cách đây 10  năm, hầu hết Geoduck được khai thác tự nhiên, nhưng gần đây, một số trang trại đã bắt đầu nuôi Geoduck và thu về 1,5 - 2 triệu USD/năm. Phần lớn Geoduck đang có mặt trên thị trường là sản phẩm của trại Taylor và Seattle Shellfish ở Shelton.

    Source: Hà Linh, Tạp chí Thủy sản VN.
  • Cách cho tôm càng xanh ăn
    Người nuôi phải nắm kỹ quy trình kỹ thuật nuôi, nhất là kỹ thuật cho tôm ăn và quản lý thức ăn sao cho đạt hiệu quả, vì chi phí thức ăn trong nuôi tôm chiếm hơn 50% chi phí vụ nuôi.

    Đặc điểm dinh dưỡng của tôm càng xanh có những điểm khác các loài thủy sản khác. Khi còn ở giai đoạn ấu trùng, tôm càng xanh ăn các loại phiêu sinh động thực vật và các chất lơ lửng. Trong giai đoạn này người nuôi thường cho tôm ăn ấu trùng Artemia và thức ăn chế biến có kích thước hạt nhỏ (lòng đỏ trứng, sữa, dầu mực…). Đến giai đoạn hậu ấu trùng, tôm càng xanh mang nhiều đặc điểm dinh dưỡng của tôm trưởng thành. Chúng bắt mồi ở đáy ao hồ. Giai đoạn này sử dụng rất tốt các loại thức ăn chế biến hoặc thức ăn tươi sống do con người cung cấp. Thức ăn phù hợp nhất cho giai đoạn này là trùn chỉ, tép xay, cá tươi bằm nhuyễn, ốc, hến băm. Tôm trưởng thành ăn tạp sống ở đáy. Trong tự nhiên, thức ăn của chúng thường là nhuyễn thể (ốc, hến), động vật giáp xác khác, trùn chỉ, chất hữu cơ… Khi trưởng thành, tôm sử dụng tốt các thức ăn nhân tạo, nhất là thức ăn dạng viên.

    Tôm tìm kiếm thức ăn nhờ cơ quan xúc giác, dùng chân ngực kẹp thức ăn đưa vào miệng. Cũng thấy tôm có hiện tượng ăn thịt lẫn nhau khi thức ăn trong ao nuôi bị thiếu, trong đàn có những con lột xác. Tôm ăn mạnh vào buổi tối.

    Có thể sử dụng thức ăn tươi (phế thải lò mổ, ốc, cua, cơm dừa, củ khoai) cho ăn trực tiếp; hoặc thức ăn chế biến (tấm, cám, bột cá…) hấp chín ép thành viên phơi sấy khô để dành cho tôm ăn; hoặc thức ăn viên công nghiệp, khẩu phần thức ăn có hàm lượng đạm 25 - 30%  là đạt yêu cầu.

    Lượng cho ăn dùng thức ăn viên công nghiệp được tính như sau:

    z300-con-tom-1007.jpg

    Cần dựa vào các yếu tố sau để điều chỉnh lượng thức ăn thích hợp:

    + Kết hợp sàng ăn và rải nhiều điểm trong ao để dễ kiểm tra thức ăn tôm sử dụng.

    + Ao bẩn hay những ngày mưa gió lớn nên giảm lượng thức ăn.

    + Cho tôm ăn hơi thiếu vẫn tốt hơn thừa (dùng vó để kiểm tra thức ăn hằng ngày).

    + Tôm thích mồi tanh nên cần trộn thức ăn chế biến với thức ăn tươi sống để gây mùi

    Lưu ý: Thức ăn tươi sống như cua ốc, cá tạp… sau khi giã nhỏ thì nên cho vào sàng, không rải khắp ao, để dễ kiểm tra, loại bỏ thức ăn thừa, tránh làm bẩn nước ao.

    Source: Nguyễn Thị Phương Dung, Tạp chí Thủy sản VN.
  • WTO hội thảo về tiếp cận thị trường quốc tế trong ngành nuôi trồng thủy sản
    Các đại biểu đến từ 11 quốc gia tham dự hội thảo chung được tổ chức bởi Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO) và Info-SAMAK, trong khuôn khổ làm việc của WTO về việc tiếp cận thị trường quốc tế trong ngành thủy sản và nuôi trồng thủy sản. Một bài thuyết trình của FAO, với các báo cáo có sẵn về các tiêu chuẩn thị trường trong thương mại thủy sản nhằm thúc đẩy nghề cá phát triển một cách bền vững.

    Điều đầu tiên được đề cập đến là lý do tại sao thủy sản được dán nhãn sinh thái ngày càng phát triển, bao gồm: nhận thức của người tiêu dùng và nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm thủy sản bền vững ngày càng cao; liên kết dọc theo chuỗi hành trình sản phẩm tạo điều kiện thuận lợi cho việc cung cấp thông tin và ghi nhãn; yêu cầu đối với các nhà bán lẻ toàn cầu đối với các sản phẩm thủy sản bền vững, nhằm thu hút người tiêu dùng mở rộng thị phần; yêu cầu ngày càng cao về mặt pháp lý của nước NK.

    4 yếu tố thông thường đã được xác định tại các thị trường tiêu thụ các sản phẩm dán nhãn sinh thái (chủ yếu là thị trường EU và Mỹ): nhận thức của người tiêu dùng ở các nước này về vấn đề môi trường; các quốc gia này có mức độ đô thị hóa cao; các chuỗi siêu thị (chứ không phải là chợ cá truyền thống) chi phối lĩnh vực bán lẻ hải sản của các nước này; các mô hình tiêu thụ được xây dựng dựa trên vài loài hải sản, đặc biệt là các sản phẩm thủy sản chế biến được dán nhãn (sinh thái).

    Tổ chức Sáng kiến Thủy sản bền vững toàn cầu (GSSI) đã có bài trình bày sáng kiến tập hợp hơn 30 bên liên quan (các công ty thủy sản tư nhân, các tổ chức phi chính phủ và các cơ quan chính phủ quốc gia như GIZ); và FAO đã cung cấp tài liệu kỹ thuật và họp Ban chỉ đạo. Sứ mệnh của GSSI là "cung cấp một bộ tiêu chuẩn chung, thống nhất và toàn cầu để chứng nhận cho các sản phẩm thủy sản; nâng cao niềm tin của người tiêu dùng thủy sản; thúc đẩy thực hiện khai thác một cách bền vững, và khuyến khích cải tiến các chương trình chứng nhận thủy sản.

    Bộ tiêu chuẩn toàn cầu này được dựa trên hướng dẫn chứng nhận của FAO và các khuôn khổ đánh giá của FAO (tiêu chuẩn tối thiểu), các tiêu chuẩn ISO,… Nghiên cứu thí điểm sẽ được thực hiện trên chương trình chứng nhận được lựa chọn trong năm 2014, dự kiến đưa ra công cụ tiêu chuẩn vào năm 2015.

    Source: Nguyễn Hà, VASEP
    (Theo agritrade)
  • Quản lý sức khỏe động vật thủy sản bằng chế phẩm sinh học
    Trong thế giới thủy sinh, mầm bệnh tiềm ẩn trong cơ thể vật chủ và dưới tác động của môi trường bên ngoài chúng có thể sinh sôi nảy nở độc lập. Tác nhân gây bệnh tiền ẩn xâm nhập liên tục vào cơ thể động vật qua con đường thức ăn và không khí.

    Dựa trên mối quan hệ phức tạp của sinh vật thủy sinh với môi trường bên ngoài, chế phẩm sinh học trong nuôi trồng thủy sản được xác định là sinh vật sống có khả năng phát huy tác dụng hữu ích đến vật chủ theo một hay nhiều cơ chế khác nhau:

    1. Thay đổi cộng đồng vi khuẩn liên quan đến vật chủ hoặc môi trường xung quanh.

    2. Bảo đảm cải thiện sử dụng thức ăn bằng cách tăng cường giá trị dinh dưỡng.

    3. Tăng cường bảo vệ vật chủ chống lại bệnh tật.

    4. Nâng cao chất lượng môi trường xung quanh.

    su-dung-thuc-an.jpg

    Thay đổi môi trường xung quanh cộng đồng vi khuẩn

    Khi phát triển trong thành ruột, vi khuẩn probiotic có thể sản xuất các enzym ngoại bào nhằm cải thiện tiêu hóa, hỗ trợ bảo vệ vật chủ bằng cách sản sinh ra hợp chất ức chế. Điều kiện tiên quyết của bất kỳ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của vật chủ là thiết lập vi khuẩn probiotic như là một phần của hệ vi sinh vật đường ruột.

    tang-truong-o-ca-ro-phi.PNG

    Hình 1 cho thấy trong cá rô phi tiền trưởng thành (Oreochromis niloticus), nhờ sử dụng AquaStar® trong nuôi thương phẩm đã cải thiện hệ đường ruột hiệu quả. Vi khuẩn AquaStar® (màu xanh) đã được phát hiện hơn hai tuần sau khi kết thúc điều trị bằng chế phẩm sinh học, mặc dù mật độ giảm nhanh chóng. Vi khuẩn sinh sôi nảy nở trong đường ruột, cá cải thiện việc sử dụng chất dinh dưỡng và dẫn đến việc lưu trữ nitơ tốt hơn trong cơ thể. Chế phẩm sinh học làm giảm hàm lượng nitrat từ chất thải và ít tác động đến môi trường. Có khả năng những lợi ích từ môi trường cũng mở rộng đến chất lượng và số lượng quần thể thực vật phù du trong ao.

    cai-thien-FCR.PNG
    Cải thiện giá trị thức ăn

    Một số chủng probiotic sản xuất ra enzym tiêu hóa, do đó tạo điều kiện sử dụng thức ăn và tiêu hóa. Kết quả là tăng trưởng được cải thiện. Hình 2 cho thấy các thông số tăng trưởng cá rô phi sau khi bổ sung với AquaStar® trong nuôi thương phẩm. Trọng lượng trung bình cũng như tốc độ tăng trưởng (SGR) tăng lên đáng kể. Tỷ lệ chuyển đổi protein (PER) cao hơn và tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (FCR) được cải thiện.

    mucosa.PNG

    Tăng cường các tế bào kháng thể phản ứng đến cá khi không cần mồi. Ngay lập tức cá phát tín hiệu tiêu diệt tế bào bị nhiễm bệnh. Sinh vật có thể bị kích thích trước phản ứng miễn dịch bẩm sinh được thể hiện trong Bảng 1 và Hình 3. Ở mức độ cao hơn, tế bào biểu mô lympho (IELs) bên trong cho thấy có một phản ứng miễn dịch cục bộ ở mức cao (Bảng 1).

    Source: Kiến Duy, TepBac.Com
    Theo Thefishsite.com