• Ecuador và Ấn Độ cung cấp tôm cho Việt Nam và Thái Lan
    Giá tôm Thái Lan đang tăng lên trong bối cảnh nguồn cung thiếu hụt bởi ít trang trại nuôi vụ đông. Ít nhất một nhà máy chế biến lớn đã chuyển sang mua từ Ấn Độ, khiến cho các nhà máy đóng gói của Việt Nam tiếp tục xu hướng mua hàng từ Ấn Độ, Thái Lan và Việt Nam mong đợi phục hồi sau các vụ nuôi bị thiệt hại do hội chứng tôm chết sớm (EMS). Khác với Việt Nam, chính phủ Thái Lan đã có một quá trình xem xét việc nhập khẩu tôm rất lâu, nghĩa là các nhà máy đóng gói không nhập khẩu tôm cho đến khi thực sự phải nhập. Tuy nhiên, vào tháng 02/2014, các nhà máy đóng gói lớn như Thai Union Frozen Products đã nhập khẩu tôm từ Ấn Độ để đáp ứng nhu cầu vào năm ngoái. Một nữ phát ngôn viên của Thai Union cho biết công ty không có kế hoạch mua tôm từ Ấn Độ vào năm 2015.

    Trong những tuần gần đây, nguyên liệu của Ấn Độ đang bị đẩy giá lên do Việt Nam có nhu cầu mua để bán cho Trung Quốc và cũng để tái chế biến. Giá Ấn Độ hiện đang thấp hơn nhiều so với ở Thái Lan. Tôm còn đầu cỡ 70 con mức giá hiện tại ở Thái Lan là khoảng $ 6,19/kg, trong khi cỡ tương tự ở Ấn Độ là $ 4,49/kg.

    Một nhà cung cấp tôm ở Ecuador cho biết các nhà đóng gói Thái cũng đang hỏi mua hàng vì giá đang giảm.

    Ở Thái Lan, mỗi nhà máy đóng gói muốn mua tôm chỉ để đảm bảo nguyên liệu cho nhà máy hoạt động, Tổng giám đốc Satasap Viriyanantawanit của Siam Canadian Group Thái Lan, có trụ sở tại Bangkok, nhà cung cấp hải sản đông lạnh toàn châu Á cho biết. “Nguồn cung tôm cực kỳ thiếu hụt tại thời điểm này, mặc dù các nhà chế biến Thái Lan hiện có rất ít đơn đặt hàng.” Ông không biết bất kỳ nhà máy chế biến nào của Thái mua từ Ấn Độ, dù vậy với tình hình nguyên liệu hiện nay thì không có gì ngạc nhiên. Một số nhà máy đã cam kết và nợ đơn hàng thì đang phải “cạnh tranh và chiến đấu với nhau để có thể mua tôm dù chỉ số lượng ít… để nhà máy hoạt động”, ông nói.

    Giá tôm nguyên liệu ở Thái Lan đã tăng mạnh kể từ đầu năm. Đối với tôm nguyên liệu cỡ 60 con/kg, giá từ $ 6,29 đến $ 6,43/kg trong tuần từ ngày 09 – 14/02/2015, so với 5,68 $ trong tuần từ ngày 12 – 17/01/2015.

    Tương tự như vậy, giá tôm nguyên liệu 70 con/kg từ 5,98 $ đến 6,29 $ từ ngày 09 – 14/02/2015, so với từ $ 5,52 đến $ 5,61 từ ngày 12 – 17/01/2015.

    Cỡ tôm 80 con giá từ $ 5,92 đến $ 5,99 từ ngày 09 – 14/02/2015, so với từ $ 4,85 đến $ 5,03 từ ngày 12 – 17/01/2015.

    “Chúng tôi hy vọng nguồn cung sẽ được cải thiện vào khoảng cuối tháng 3 hoặc đầu tháng 4, bắt đầu là cỡ nhỏ,” Viriyanantawanit nói. Trường hợp này không phải là do nông dân giữ lại để chờ giá lên. Kể từ khi Thái Lan bị tổn thất do EMS, giá tôm không phải là ưu tiên số một của người nông dân, “tỉ lệ sống ở mật độ cao nhất đã trở thành ưu tiên cao hơn nhiều.”

    Nông dân nuôi tôm Thái Lan chỉ muốn tập trung vào việc nuôi được càng nhiều càng tốt, Chaiwaruth Arunsopha là người có gia đình sở hữu nhà máy chế biến kho lạnh Tey Seng và các trang trại nuôi tôm ở tỉnh Trat, miền đông Thái Lan gần biên giới Campuchia cho biết. “Họ không quan tâm nhiều đến giá cả tại thời điểm này. Thành thật mà nói, tất cả quan tâm của họ là tỉ lệ sống 100%,” Arunsopha nói.

    Tại Ấn Độ, giá tôm thẻ nguyên con Penaeus vannamei trong tuần bắt đầu từ ngày 09/02/2015 tăng trở lại từ 0,16 $ đến 0,32 $ cho mọi cỡ. Giá tôm nguyên con 50 con là $ 5,63, 60 con là $ 4,99 và 70 con là $ 4,63.

    Mặc dù giá cả đã phần nào ổn định, nhưng vẫn đang xa các mức năm ngoái. Vào tháng 9 năm ngoái, giá tôm nguyên con 50 con là 7,24 $, 60 con là $ 6,11 và 70 con là $ 5,47.

    Tình trạng hiện nay giá tăng nhẹ, theo Chaipat Kunapiwatkul, giám đốc phát triển kinh doanh của Siam Canada, phần lớn là do nhu cầu từ Việt Nam. “Dường như một số nhà máy đóng gói một lần nữa đang nhận được đơn hàng cho thị trường Việt Nam. Theo chúng tôi biết, khối lượng mua cho Trung Quốc và Việt Nam có thể sẽ tăng sau Tết Trung Quốc vì đã có những đồn đoán về tình trạng thiếu tôm ở Trung Quốc vào tháng 3. Kết quả là nhu cầu tôm có khả năng tăng lên.”

    Các nhà máy chế biến Việt Nam đang mua tôm đông lạnh loại A, còn vỏ còn đuôi và tái chế biến để tăng gia tăng giá trị cho xuất khẩu sang Mỹ, EU và một số nước Nhật Bản.

    Việt Nam vẫn còn phải nỗ lực chống lại EMS và những vấn đề khác trong hệ thống nuôi tôm và có thể nhập khẩu nhiều hơn mức 30% tổng sản lượng. Có vẻ như năm 2015 sẽ không phải là một năm đầy hứa hẹn cho nuôi tôm ở Việt Nam, vì thế nhập khẩu tôm nguyên liệu là cách để Việt Nam duy trì xuất khẩu.

    Thủy sản Minh Phú, nhà máy chế biến lớn nhất Việt Nam có thể đã nhập khẩu khoảng 500 container từ Ấn Độ vào năm 2014.

    Do tình hình vụ mùa ở Ấn Độ nên sẽ không có tôm cho đến tháng 5. Ấn Độ hiện có thể là một nguồn cung tôm nguyên liệu cho các nước châu Á khác, nhưng cũng đang bị vấn đề bệnh riêng.

    BioAqua.vn
    Nguồn: Peace and Freedom: Policy and World Ideas. Vietnam, Thailand Look To India, Ecuador As Possible Suppliers of Shrimp During Shortage. Tom Seaman (undercurrent@undercurrentnews.com).
  • Thành tựu trong sản xuất tôm giống
    Ngành sản xuất tôm giống trên thế giới đã tiến bộ vượt bậc, tạo được những đàn tôm bố mẹ và tôm giống chất lượng cao. Đó là những thành tựu gắn liền với lịch sử phát triển của ngành.

    Lịch sử hình thành

    Công nghệ sản xuất tôm giống đầu tiên ra đời tại Nhật Bản, khi GS - TS Fujinaga thành công trong việc nuôi vỗ và cho sinh sản tôm he Nhật Bản (P. japonicus), năm 1934. Fujinaga được coi là ông tổ nghề sản xuất tôm giống thế giới. Năm 1940, người Nhật đề ra hai phương pháp nuôi tảo silic. GS-TS Fujinaga cho rằng tảo Sketonema costatumChaetoceros sp. là thức ăn khởi đầu tiên quyết cho ấu trùng tôm từ giai đoạn Zoea đến Postlavae. Năm 1943, Pannouse phát hiện ra cách nuôi vỗ tôm bố mẹ thành thục bằng phương pháp cắt mắt, được sử dụng đến nay.

    Công nghệ thúc đẩy nghề nuôi tôm ở châu Á

    Từ thành công của Nhật Bản, công nghệ sản xuất tôm giống được áp dụng ở nhiều nước khác. Tại Đài Loan, TS I.Chiu Liao chọn tôm sú (Penaeus monodon) để tiến hành kỹ thuật cho tôm trưởng thành sinh sản, nuôi tôm post và nuôi tôm thương phẩm trong ao có sục khí với thức ăn chế biến. Từ đó thúc đẩy nghề nuôi tôm, đưa Đài Loan trở thành trung tâm của công nghệ nuôi tôm ở châu Á.

    Tôm sú phân bổ khắp Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương, đẻ nhiều trứng, phát triển nhanh nhất, thích nghi tốt thức ăn nhân tạo và nuôi thâm canh. Tôm sú dễ bắt được tôm cái từ biển nên khi công nghệ Đài Loan được chuyển giao khắp châu Á thì tôm sú thành loài tôm nuôi chiếm ưu thế. Tuy nhiên, theo thời gian, tôm cái hoang dã dần bị nhiễm nhiều bệnh; trong đó bệnh đốm trắng (WSSV) tàn phá ngành tôm nhiều nước, nhất là tại châu Á.

    Năm 1990, loài TTCT cải tiến gen, sạch bệnh (SPF) được đưa vào châu Á. Năng suất nuôi tăng cao; người nuôi nhanh chóng chuyển đổi từ tôm sú nhiễm bệnh sang TTCT sạch bệnh, hưởng lợi từ nguồn tôm sạch bệnh này đến nay.

    Tại Việt Nam, việc nghiên cứu sinh sản nhân tạo tôm biển được tiến hành từ đầu những năm 1970, với tôm thẻ bạc (P. merguiensis), tôm he Nhật Bản (P. japonicus) và tôm hùm ma (P. penicilatus). Năm 1985, sinh sản nhân tạo thành công tôm sú ở Nha Trang. TTCT du nhập vào nước ta kéo theo sự phát triển ngành sản xuất giống. Nhiều cơ sở, doanh nghiệp sản xuất giống tôm sú chuyển một phần sang sản xuất giống TTCT gặp khó khăn kỹ thuật, đã nhanh chóng đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, dần làm chủ công nghệ sản xuất giống TTCT. Cả nước hiện có hơn 500 đơn vị, doanh nghiệp sản xuất, ương nuôi giống TTCT.

    Cùng đó, công nghệ sản xuất tôm giống tùy thuộc quy mô, sự đầu tư của các cơ sở, xu hướng chung hiện nay ở các nước có nghề nuôi tôm phát triển là chủ động phát triển đàn tôm bố mẹ kháng bệnh, sạch bệnh (thông qua việc gia hóa), tạo ra những đàn tôm giống (Poslarvae) chất lượng cao.

    Gia hóa (domestication) tôm là quá trình thuần hóa, làm thay đổi mức độ di truyền tính trạng; qua chọn lọc tạo ra những tính trạng tốt nhất (tăng trưởng nhanh, kháng bệnh tốt). Tuy nhiên, gia hóa đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao, đầu tư lớn; không phải doanh nghiệp, cơ sở nào cũng làm được. Do khó khăn kỹ thuật nên hiện nay chỉ vài nước (Mỹ, Thái Lan, Ấn Độ…) có khả năng gia hóa tôm bố mẹ.

    Tại Việt Nam, công nghệ sản xuất tôm bố mẹ từ gia hóa đã được một số viện nghiên cứu phối hợp công ty nước ngoài thực hiện nhưng kết quả còn khiêm tốn. Một số doanh nghiệp sản xuất tôm giống lớn của Việt Nam cũng đang cùng các đơn vị nước ngoài gia hóa tôm bố mẹ nhưng kết quả còn là ẩn số.

    Source: Quốc Minh, Tạp chí Thủy sản VN
  • Nuôi tôm sú kết hợp tôm thẻ chân trắng: Hiệu quả bất ngờ
    Qua nhiều năm thất bại với tôm thẻ chân trắng (TTCT), do ảnh hưởng của dịch bệnh, ông Phạm Văn Tánh (ấp Thanh Nhung I, xã Phước Trung, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang) đã "đánh liều" với số phận bằng cách thử nghiệm mô hình nuôi tôm sú kết hợp TTCT. Điều bất ngờ: Mô hình nuôi kết hợp này đã phát triển tốt, thoát được dịch bệnh, lợi nhuận khá cao, ngay vụ nuôi đầu tiên.

    Ông Tánh kể: Đầu năm 2014, Trạm Khuyến nông Gò Công Đông khảo sát, mời nông dân để phổ biến kế hoạch thực hiện thử nghiệm mô hình nuôi tôm sú kết hợp TTCT. Ban đầu ông ái ngại vì chưa thấy ai nuôi ghép hai loại tôm này với nhau, mà các nhà khoa học lại khuyến cáo nuôi TTCT với tôm sú phải có quy hoạch riêng, không nuôi TTCT chung cùng tôm sú, lây bệnh nguy hiểm cho tôm sú. Qua nhiều lần thuyết phục, ông nhận lời làm thử nghiệm để xem xét khả năng thích nghi cũng như tìm hướng mới để có lãi, vì 3 năm qua ông nuôi TTCT không hiệu quả.

    Khi triển khai mô hình, ông được cán bộ khuyến nông hướng dẫn cặn kẽ quy trình nuôi cũng như những khâu chính cần xử lý định kỳ để phòng bệnh cho tôm nuôi. Thả TTCT vào ao nuôi tôm sú khi tôm sú được 1 tháng tuổi với mật độ 24 con tôm sú/m2 và 5 con TTCT/m2. Áp dụng quy trình nuôi tôm an toàn sinh học, sử dụng men vi sinh đảm bảo không tồn lưu hóa chất, kháng sinh cấm làm ảnh hưởng môi trường cũng như sức khỏe người tiêu dùng. Đồng thời, chọn tôm giống khỏe mạnh và đều cỡ Post 12 - 15 đã qua xét nghiệm PCR và được chứng nhận kiểm dịch. Trong quá trình nuôi, định kỳ bổ sung vitamin, khoáng chất, men tiêu hóa, sử dụng men vi sinh trong quản lý môi trường ao nuôi; định kỳ kiểm tra các yếu tố môi trường (pH, t0, độ kiềm, NH3); được cán bộ kỹ thuật hướng dẫn quản lý môi trường và thức ăn trong suốt vụ nuôi.

    Theo ông Tánh, sau 4 tháng 20 ngày thả nuôi, tính ra tổng chi phí cho ao nuôi 3.500 m2 là 175 triệu đồng; trong khi đó thu hoạch được 1.750 kg tôm cỡ 38 con/kg trong đó, 1.400 kg tôm sú bán 180.000 đồng/kg (250 triệu đồng) và 350 kg TTCT với giá bán 180.000 đồng/kg (63 triệu đồng) với tổng thu 315 triệu đồng; lãi 140 triệu đồng. Qua quá trình nuôi nhận thấy màu nước trong ao nuôi không thay đổi nhiều. Sử dụng quy trình nuôi an toàn sinh học, ít thay nước thì tôm nuôi ít nhiễm bệnh hơn. Với tỷ lệ nuôi ghép và thời gian thả này, trọng lượng TTCT và tôm sú khi thu hoạch tương đương nhau. "Trước khi thực hiện mô hình này, ao nuôi tôm này đã bị bệnh 5 vụ liên tiếp", ông Tánh nhấn mạnh.

    Ông Trần Minh Chiến (cùng xã Phước Trung) cũng thực hiện mô hình nuôi tôm sú kết hợp TTCT trên diện tích 5.000 m2 theo hướng dẫn của cán bộ khuyến nông huyện Gò Công Đông; lãi 140,25 triệu đồng.

    Trung tâm Khuyến nông tỉnh cho biết, mô hình nuôi tôm sú kết hợp TTCT tại hộ ông Phạm Văn Tánh cho năng suất bình quân 5 tấn/ha sau 4,5 tháng nuôi; lợi nhuận 400 triệu đồng/ha. Mật độ 30 con/m2 (tỷ lệ ghép 80% tôm sú, 20% TTCT). Chủ hộ chỉ tính lượng thức ăn dựa theo ước lượng tỷ lệ sống của tôm sú; TTCT chỉ ăn thức ăn thừa. Quá trình nuôi cho thấy màu nước luôn ổn định, tôm ít bị bệnh và tôm thu hoạch có kích cỡ đồng đều hơn ở cả hai loại tôm.

    Source: Thành Công, Tạp chí Thủy sản VN
  • Cộng đồng Thái Bình Dương lên kế hoạch sử dụng FAD để tăng sản lượng cá ngừ
    Ban Thư ký của Cộng đồng Thái Bình Dương (SPC) mới tuyên bố kế hoạch tăng sản lượng khai thác trong khu vực để cải thiện an ninh lương thực.

    Tỷ lệ người dân trong khu vực bị béo phì và tiểu đường đạt cao nhất thế giới do ăn thức ăn nhiều năng lượng nhưng dinh dưỡng thấp. Do vậy, họ đang thay đổi chế độ ăn nhiều cá, trong đó có cá ngừ.

    Năm 2020, người dân ở 22 nước và vùng lãnh thổ ở Thái Bình Dương sẽ cần 268.000 tấn cá/năm để đảm bảo an ninh lương thực. Con số này tăng lên 344.000 tấn năm 2035. Hiện tổng tiêu thụ thủy sản của khu vực đạt 210.000 tấn/năm.

    Cá ngừ được khai thác trong vùng đặc quyền kinh tế của các quốc đảo Thái Bình Dương dự kiến chỉ có thể góp phần đảm bảo an ninh lương thực với khoảng 2% năm 2020 và tăng lên 6% năm 2035 trong khi cá ngừ cần đóng góp 12% năm 2020 và 25% năm 2035, phần còn lại là thủy sản có vỏ và cá khác.

    SPC có ý định tăng cường sử dụng các thiết bị dò cá (FADs) để cải thiện năng suất khai thác cá ngừ khu vực.

    SPC đang thảo luận với các nước khu vực và các đối tác tiềm năng về các khoản đầu tư cần có cho dự án.

    Các khoản đầu tư sẽ cần để mở rộng số lượng FADs gần bờ và để hỗ trợ ngư dân khai thác cá ngừ quy mô nhỏ, cơ sở hạ tầng cần thiết để phân phối cá ngừ nhỏ và khai thác không chủ đích bởi các tàu lưới vây tại các cảng khu vực và cải thiện lượng cá ngừ đóng hộp cho người dân trong vùng.

    SPC cũng hỗ trợ cho nghiên cứu gần đây kêu gọi sự phân bổ đầy đủ lượng cá ngừ để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ cho khu vực.

    SPC là một tổ chức khu vực bao gồm 26 nước thành viên ở Thái Bình Dương. Tổ chức bao gồm tất cả các bang và vùng lãnh thổ ở đảo Thái Bình Dương cũng như Mỹ, New Zealand, Australia và Pháp.

    Source: Kim Thu, VASEP
    (Theo UndercurrentNews)
  • Nuôi trồng thủy sản: Những sáng kiến mang dấu ấn khoa học
    Ngành nuôi trồng thủy sản toàn cầu thời gian qua ghi nhận nhiều thành công thể hiện ở việc có rất nhiều phát minh, sáng kiến khoa học được áp dụng và mang lại hiệu quả cao, góp phần ổn định an ninh lương thực, tạo điều kiện phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.

    Colombia: Sản xuất tôm kháng bệnh đốm trắng

    Hội chứng đốm trắng (WSSV) là bệnh nguy hiểm nhất trong tất cả các bệnh gây ra đối với ngành công nghiệp nuôi tôm toàn cầu. Trung tâm Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản Colombia đã khởi xướng chương trình chọn lọc tôm giống có khả năng kháng bệnh đốm trắng WSSV, từ kinh nghiệm trước đây với dòng tôm có khả năng lớn nhanh có khả năng kháng virus gây hội chứng Taura.

    Phương pháp là tăng áp lực chọn lọc hàng loạt, dựa trên áp lực sống còn trên các bể với số lượng lớn các cá thể. Họ đã nuôi những con còn sống sót từ những ao nuôi công nghiệp bị nhiễm WSSV, với tốc độ tăng trưởng rất chậm, khi trưởng thành khả năng sinh sản kém, cần cắt mắt để tăng khả năng sinh sản. Những lô tôm sinh sản được từ những tôm mẹ này nhiễm WSSV ở giai đoạn PL40, chết rất nhiều. Áp lực chọn lọc là 1: 10.000. Những con sống sót được giữ lại và được nuôi trưởng thành để sản xuất thế hệ tiếp theo. Sau 5 thế hệ được sản xuất với chương trình này đã tăng được số lượng cá thể có khả năng kháng vi khuẩn WSSV. Những con tôm sống sót khi chạy PCR đều không có kết quả dương tính với WSSV, điều đó cho thấy các cá thể có khả năng kháng nhiễm với virus WSSV.

    Mỹ: Hệ thống nuôi vèo trong ao

    Đây là hình thức nuôi dần thay thế cho ao nuôi cá da trơn truyền thống ở Đông Nam Mỹ. Bằng cách chia thành những ao nhỏ hơn, khu vực kiểm soát nhiều hơn. Hiện có khoảng 600 ha nuôi thương phẩm đã được nuôi cá tra thương mại theo hình thức này ở Mississippi, Arkansas, Alabama.

    Với ưu điểm giảm được chi phí hóa chất điều trị, chủ động phòng bệnh dễ dàng và hiệu quả hơn. Khâu quản lý cần tập trung phòng, chống và kiểm soát dịch bệnh. Trong hệ thống nuôi vèo, quản lý sức khỏe của cá bằng việc định kỳ sử dụng thuốc tím hòa tan xử lý nước trong vèo nuôi nhằm giảm tải trọng hữu cơ. Để điều trị bệnh trong một vèo riêng lẻ người ta dùng một rào cản bằng nhựa, xấp xỉ kích thước của vèo. Việc điều trị bệnh như vậy dễ dàng hơn, ít tốn chi phí so với trị bệnh cả ao nuôi. Theo đó, có thể sản xuất được 16.200 kg/ha, trong khi ao nuôi thâm canh truyền thống với quy trình sản xuất tương tự năng suất đạt 5.000 - 6.000 kg/ha.

    Na Uy: Công nghệ nuôi cá hồi siêu công nghiệp

    Viện Nghiên cứu Thủy sản ở Na Uy đã nhận được sự tài trợ của Hội đồng nghiên cứu Na Uy cho một dự án nghiên cứu về điều kiện môi trường và sản xuất các hệ thống nuôi trồng thủy sản tuần hoàn khép kín. Các hệ thống tái chế nước, trái ngược với các hệ thống nước chảy thông thường đòi hỏi phải có một nguồn cung cấp liên tục. Công nghệ tuần hoàn nhanh chóng được ủng hộ tại Na Uy dựa trên những kiến thức về chất lượng nước và điều kiện hoạt động để đáp ứng được đòi hỏi yêu cầu sản xuất cao và điều kiện chăm sóc cá tốt.

    Mật độ nuôi cao là điều kiện rất quan trọng để bảo đảm hiệu quả và lợi nhuận. Họ nuôi thương phẩm cá hồi sử dụng thức ăn công nghiệp với mô hình tuần hoàn khép kín đạt năng suất lên tới 100 kg/m3.

    Thái Lan: Công nghệ nuôi tôm không sử dụng thức ăn công nghiệp

    Copefloc là mô hình nuôi tôm mới tại Thái Lan. Đây là công nghệ được phát triển dựa trên công nghệ Biofloc và gây nuôi thức ăn tự nhiên cho tôm, để tạo ra các hạt floc và thức ăn tự nhiên làm thức ăn cho tôm nuôi và hoàn toàn không sử dụng thức ăn công nghiệp. Đây là những nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng, rất tốt cho sinh trưởng và phát triển của tôm nuôi. Các chất thải được xử lý ngay trong hệ thống bởi các vi khuẩn dị dưỡng. Vì thế công nhệ nuôi này hoàn toàn không sản sinh ra chất thải. Đồng thời, Ammonia tự do trong nước được chuyển hóa thành protein trong sinh khối của vi sinh vật dị dưỡng, tập hợp thành các hạt Biofloc lơ lửng trong nước. Nâng cao mức độ an toàn sinh học, giảm rủi ro lây nhiễm bệnh do không phải thay nước. Giảm chi phí sử dụng thức ăn, thuốc và hóa chất. Tôm có tốc độ tăng trưởng nhanh. Có thể đưa tôm cỡ post 10 - 12 trực tiếp vào ao nuôi, mà không cần giai đoạn ương 30 ngày.

    Việt Nam: Sản xuất thành công thức ăn tôm hùm và giống thủy sản

    Các nhà khoa học thuộc Viện Nghiên cứu NTTS của Đại học Nha Trang đã xác định thành phần dinh dưỡng, nhu cầu tiêu thụ, nghiên cứu thành công quy trình sản xuất thức ăn công nghiệp với nhiều kích thước (đường kính 1,5 - 2 - 2,8 - 3,5 - 5 - 7 - 10 mm; dài 0,5 - 3 cm) phù hợp mọi giai đoạn phát triển tôm hùm. Sản xuất thành công thức ăn công nghiệp cho tôm hùm bông và tôm hùm xanh giải quyết được những hạn chế của việc sử dụng cá tạp, tiết kiệm được 24% chi phí thức ăn và 50% nhân công. Tôm sử dụng thức ăn công nghiệp có tốc độ tăng trưởng nhanh, môi trường được bảo vệ, hạn chế ô nhiễm môi trường nuôi, góp phần kiểm soát dịch bệnh, hạ giá thành tôm hùm thương phẩm.

    Ngoài ra, với việc áp dụng vật chất di truyền ở động vật thủy sản, quy luật di truyền, phương pháp phân tích gen làm cơ sở, Viện Nghiên cứu NTTS I đã sản xuất, chọn tạo được những con giống có tính trạng vượt trội, sinh trưởng, phát triển tốt nhất trong điều kiện nuôi ở Việt Nam, như: tôm sú, cá rô phi, tra, hồng, tráp, giò, song; tôm càng xanh…

    >> Bên cạnh những tiềm năng phát triển lớn, những thách thức đặt ra cho ngành nuôi trồng thủy sản thế giới vẫn là quản lý dịch bệnh, nâng cao năng suất, bảo vệ môi trường, ổn định về giá và tăng cường đầu tư.

    Source: Tạp chí Thủy sản VN
  • Thành công trong ương nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh và siêu thâm canh áp dụn...
    Công nghệ Bioflocs là công nghệ tiên tiến đã được phát triển và áp dụng gần đây trong trong nuôi trồng thủy sản trên thế giới. Bioflocs với đặc điểm thành phần gồm vi khuẩn có lợi, tảo, cá vi sinh vật khác và chất hữu cơ kết tụ thành các chất vẩn lơ lửng… có nhiều vai trò quan trọng trong việc ổn định môi trường nước, giảm thiểu tối đa việc thay nước; an toàn sinh học, hạn chế mầm bệnh; làm thức ăn trực tiếp cho tôm cá, giảm thiểu thức ăn bổ sung và tăng cường dưỡng chất tự nhiên cho tôm cá; hạn chế sử dụng kháng sinh, an toàn vệ sinh thực phẩm; giảm ô nhiễm môi trường; dễ điều chỉnh và giảm thiểu bị ảnh hưởng bởi thời tiết… Vì thế, phát triển và áp dụng công nghệ Bioflocs là hướng đi quan trọng trong nuôi trồng thủy sản.

    nuoi_tomthe_chantrang_03.jpg

    Trong thời gian qua, Khoa Thủy Sản – Trường Đại học Cần Thơ  đã tập trung nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ Bioflocs phù hợp vào ương nuôi nhiều đối tượng, trong đó, chú trọng đặc biệt là tôm chân trắng.

    nuoi_tomthe_chantrang_04.jpg

    Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện trong ương nuôi tôm chân trắng thâm canh và siêu thâm canh trên bể trong nhà kính và ngoài trời được thực hiện, bao gồm:

    (i) Ương nuôi tôm chân trắng áp dùng công nghệ Bioflocs với các thành phần Carbohrydrad khác nhau và tỷ lệ C/N khác nhau;

    (ii)  Ương nuôi tôm chân trắng siêu thâm canh áp dụng công nghệ Bioflocs với các mật độ ương nuôi khác nhau trên bể,

    (iii) ương nuôi tôm chân trắng siêu thâm canh áp dụng công nghệ Bioflocs với mức nước khác nhau,

    (iv) Ương nuôi tôm chân trắng siêu thâm canh trên bể áp dụng công nghệ Bioflocs với các chế độ chiếu sáng khác nhau trong nhà kín;

    (v) Nuôi tôm chân trắng kết hợp với cá rô phi với mật độ khác nhau trên bể ngoài trời áp dụng công nghệ Bioflocs,

    (vi) Nuôi tôm chân trắng thâm canh trên bể ngoài trời áp dụng Bioflocs kết hợp hệ thống bể lọc sinh học tuần hoàn,

    (vii) Ương nuôi tôm chân trắng  trên bể áp dụng công nghệ Bioflocs với các với độ mặn khác nhau…

    nuoi_tomthe_chantrang_06.jpg

    Tôm ương nuôi trên bể, áp dụng công nghệ Bioflocs cho tỷ lệ sống cao và năng suất đạt được từ 2-4kg/m3 đối với  tôm giống hay tôm thương phẩm. Sản phẩm tôm nuôi có màu sắc đẹp và chất lượng rất tốt.

    nuoi_tomthe_chantrang_07.jpg

    Với những ưu điểm trên của công nghệ Bioflocs, những thành công trong ương nuôi tôm chân trắng trên bể, đây sẽ là cơ sở quan trọng cho việc triển khai ứng dụng rổng rãi vào thực tế sản xuất qui mô lớn, với nhiều hình thức khác nhau, như:

    (i) ương tôm giống áp dụng công nghệ Bioflocs trong nhà kín đạt kích cỡ lớn và chất lượng cao trương khi chuyển nuôi thương phẩm trong ao thâm canh bình thường;

    (ii) Nuôi tôm chân trắng áp dụng công nghệ Bioflocs nhiều giai đoạn trong nhà kín, nhà màng.

    Đây cũng là hướng quan trọng nhằm giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu, thân thiện môi trường, và đáp ứng mục tiêu hiện đại hóa và công nghiệp hóa trong nuôi trồng thủy sản. Với các cơ sở trên, Khoa Thủy Sản hiện đang tích cực tiếp tục nghiên cứu, tập huấn, triển khai công nghệ Bioflocs vào sản xuất đại trà trong ương nuôi tôm chân trắng cũng như các đối tương thủy sản khác trong vùng.

    Source: Khoa Thủy sản - ĐH Cần Thơ
  • Điều gì xảy ra nếu toàn bộ kí sinh trùng trên Trái đất biến mất?
    “Trong vòng vài giờ, hàng triệu người nghèo trên Trái đất sẽ được chữa khỏi bệnh nặng, bệnh mãn tính gây ra bởi kí sinh trùng như sốt rét, sán và giun đũa” – Kevin Laferty nói. Tuy nhiên sau đó là những hậu quả khôn lường.

    Có hàng triệu kí sinh trùng khác nhau đang sống trong thế giới của chúng ta. Trong tiếng Hy Lạp “Parasitos” có nghĩa là “kẻ chuyên ăn tại bàn của người khác”.

    Chúng chuyên sống nhờ và hưởng lợi từ vật chủ đồng thời cũng là nạn nhân của mình.

    Không chỉ phong phú, phổ biến, đa dạng và quan trọng, 50% sinh vật trên Trái đất là các loài kí sinh. Không kể đến những loài phổ biến được chúng ta biết đến như tầm gửi, chấy rận, vi rút… thậm chí có những ký sinh trùng chim: Chim cúc cu là phổ biến nhất nhờ thói quen táo báo: đẻ trứng vào tổ chim khác.

    Giả sử toàn bộ ký sinh trùng trên trái đất biến mất trong một đêm. Liệu rằng cuộc sống của chúng ta có trở nên tốt đẹp hơn?

    B8bjujVCEAEaC-6.jpg:large
    Bọ chét kí sinh trên mèo trông giống như một người ngoài hành tinh.

    “Trong vòng vài giờ, hàng triệu người nghèo trên trái đất sẽ được chữa khỏi bệnh nặng, bệnh mãn tính gây ra bởi kí sinh trùng như sốt rét, sán và giun đũa. Mọi người có thể làm việc chăm chỉ hơn, tận hưởng cuộc sống nhiều hơn. Vật nuôi và cây trồng của họ cũng sẽ được khỏe mạnh” – Nhà Khảo sát Địa chất Mĩ Kevin Lafferty nói.

    Tuy nhiên niềm vui ấy sẽ không kéo dài lâu bởi ẩn họa những hậu quả khôn lường. Và tồi tệ nhất có lẽ phải kể đến đó là mất hết cảm hứng về tình dục.

    Mất kiểm soát hệ thống miễn dịch

    Hệ thống miễn dịch của con người luôn tiến hóa và phát triển qua thời gian để đối phó với sự lây nhiễm. Vì vậy, nếu khi còn trẻ, con người không tiếp xúc với ký sinh trùng và các bệnh khác thì hệ thống miễn dịch sẽ không phát triển đúng cách và ngược lại còn quay ra tấn công chính các cơ quan của cơ thể. Những người dù sống trong môi trường sạch sẽ vẫn bị dị ứng và các bệnh tự miễn có thể là một minh chứng cụ thể cho vấn đề này. Nếu không tiếp xúc với ký sinh trùng thậm chí cơ thể còn mắc phải nhiều bệnh hơn nữa.

    Không chỉ hệ thống miễn dịch mà các cơ quan khác của cơ thể cũng có thể ngoài tầm kiểm soát.

    Mất cân bằng sinh thái

    “Hầu như tất cả các loài trên trái đất đều mang trong mình một kí sinh trùng” – Levi Morran, Đại học Emory, Georgia, Mĩ nói. Kí sinh trùng đóng một vai trò quan trong trong việc tiêu hủy, phân hủy của các loài. Nếu không có ký sinh trùng, các quần thể chỉ có thể phát nổ.

    “Đó là một trong những điều con người chưa từng đối mặt trước đây và chúng ta sẽ phải giết rất nhiều “thứ” có nguy cơ phát nổ”, ông Levi nói thêm.

    Những loài động vật khác có thể tăng nhanh về số lượng, thế chỗ cho những ký sinh trùng biến mất, đặc biệt là động vật ăn thịt. Xa hơn nữa, nó có thể kéo theo sự biến đổi của nhiều loài động, thực vật khác trên trái đất.
    kí sinh trùng, Trái đất, sự sống

    Đại dương sẽ trở thành một thảm dày màu xanh lá cây

    Thay đổi mạnh mẽ nhất có lẽ sẽ diễn ra nơi đại dương, Luis Zaman, Đại học Washington, Seattle cho biết. Các vùng biển sẽ phủ dày bởi tảo và vi sinh vật khác nhờ năng lượng từ ánh sáng mặt trời. Trực tiếp hoặc gián tiếp, chúng ăn tất cả các loài động vật biển.

    Tất cả ký sinh trùng trong đại dương biến mất, có thể phá hủy hệ sinh thái biển. Một khoảng thời gian sau đó đại dương của chúng ta có thể trở thành một thảm thực vật hoặc một sa mạc cằn cỗi.

    10563C087.jpg
    Thảm san hô – chủ đề nóng về vấn đề đa dạng sinh học.

    Các loài sẽ dừng tiến hóa

    Không thể phủ nhận vai trò của ký sinh trùng trong sự tiến hóa của tất cả các loài hiện nay. Chính ký sinh trùng đã làm nên sự đa dạng của sự sống trên Trái đất.

    Đó là vì vật chủ và ký sinh trùng luôn ở trong một cuộc chạy đua tiến hóa liên tục, thúc đẩy cả hai đến cái đích của sự sống sót hoặc ưu thế hơn. “Khi máy chủ và ký sinh trùng tương tác, đó là mảnh đất màu mỡ cho đồng tiến hóa” – Moran nói. Chính mối quan hệ đó đã làm nên những tiến hóa lịch sử của sự sống trên trái đất.

    Mất cảm hứng, hấp dẫn về tình dục

    Đuôi của một con công, cái bờm lớn của một con sử tử hay cái sừng lớn của một con ram đều là những đặc tính hấp dẫn tình dục của cá thể đực được cho là phát triển nhờ ký sinh trùng.

    Ngoài việc thúc đẩy các khả năng khác, ký sinh trùng có thể là yếu tố chính thúc đẩy các quan hệ tình dục. Một bằng chứng thực nghiệm cho thấy tình dục giúp cho các loài sống sót trước ký sinh trùng. Thí nghiệm năm 2011 của Morran cho thấy một loại vi khuẩn truyền nhiễm có thể giết sạch quần thể giun vô tính trong khi những con giun đã có quan hệ tình dục vẫn sống sót.

    Vì vậy nếu ký sinh trùng giúp duy trì, phát triển các quan hệ tình dục, một khi biến mất vô tính sẽ trở nên phổ biến ở các loài.

    Thay vì một nỗ lực loại bỏ ký sinh trùng khỏi thế giới của chúng ta, các nhà khoa học ngày nay lại cho rằng chúng ta nên bảo tồn chúng, như cách mà chúng ta đang bảo vệ các loài động vật có giá trị khác. Y học hiện đại đã đang tìm ra các phương pháp chữa những căn bệnh nan y ở người nhờ sử dụng ký sinh trùng.

    Tuy nhiên sự sống của ký sinh trùng cũng đang bị đe dọa bởi những yếu tố khác như sự biến đổi khí hậu, ô nghiễm và tàn phá môi trường sống do con người gây nên.

    Source: Minh Đức, VietNamNet
    (Theo BBC)
  • Răng sên biển có thể là vật liệu sinh học cứng nhất thế giới
    Các nhà khoa học Anh cho rằng răng của một loài sên biển có thể là vật liệu sinh học cứng nhất từng được biết đến.

    Limpet là một loài động vật thân mềm nhỏ, thường được tìm thấy ở các bờ biển ở phía tây châu Âu. BBC cho hay, loài sinh vật này dùng răng để cạo thức ăn từ đá và thường nuốt những vụn đá nhỏ trong lúc ăn.

    Răng của limpet có cấu tạo từ hỗn hợp khoáng protein. Độ bền của chúng cao gấp 10 lần so với tơ nhện, từng được cho là vật liệu sinh học bền nhất trước đó, và cứng hơn tất cả vật liệu nhân tạo cứng nhất hiện nay. Thậm chí, nó còn cứng hơn cả Kevlar, vật liệu dùng để làm áo chống đạn.

    Limpet-teeth-2-cropped.jpg
    Răng của limpet khi nhìn qua kính hiển vi quét điện tử (SEM). Ảnh: University of Portsmouth

    Những chiếc răng có cấu tạo từ nhiều sợi nhỏ, xếp với nhau theo một cách riêng biệt. Sợi có độ dài chưa đến một mm, gồm chất khoáng sắt goethite buộc vào protein, tương tự như cách sợi carbon được thêm vào để làm bền nhựa.

    sea-snail-hardest-substance_88747_990x74
    Limpet bám vào bề mặt đá dưới nước. Ảnh: Alamy

    "Đây là loài thông minh khi sử dụng các sợi khoáng với kích thước siêu nhỏ, khiến cho các vết rạn trên sợi không ảnh hưởng tới độ bền chung của cấu trúc hỗn hợp", National Geographic hôm 20/2 dẫn lời giáo sư Asa Barber, người đứng đầu nghiên cứu của đại học Portsmouth, nói.

    Khám phá này có thể giúp các nhà khoa học cải thiện chất lượng của vật liệu hỗn hợp (composite), thường được ứng dụng trong công nghệ chế tạo máy bay, ôtô, tàu thuỷ hay lĩnh vực nha khoa.

    Source: Dương Bùi, VnExpress
  • Bắt được cá hai miệng ở Australia
    Ngư dân ở Australia bắt được con cá có hai miệng, trong đó phần miệng phía dưới chỉ mở mà không khép lại.

    IB Times hôm 18/2 cho hay, ngư dân Garry Warrick tình cờ nhìn thấy con cá này trong lưới, khi bắt cá ở hồ Bonney, thuộc vùng Riverland, phía nam Australia.

    "Hai miệng của nó thực sự liên kết với nhau. Miệng ở trên có chuyển động mở và khép lại, trong khi cấu trúc ở dưới dường như chỉ mở ra. Ngoài đặc điểm đó, nó trông giống một con cá bình thường", ABC News dẫn lời Warrick nói.

    two-mouth-fish.jpg?w=735&h=413&l=50&t=40
    Con cá có hai miệng được phát hiện ở Australia. Ảnh: Garry Warrick

    Warrick từng gặp những con cá biến dạng trong suốt hơn 30 năm đánh bắt cá, nhưng đây là lần đầu tiên ông nhìn thấy cá thể có hình thù kỳ lạ này.

    Diprosopus là từ dùng để chỉ tình trạng các loài động vật có bộ phận "sinh đôi" ở trên đầu. Dù thường được cho là có liên quan đến sinh đôi dính liền, đây không phải là kết quả của sự hợp nhất hoặc chia tách của hai phôi.

    Đây là hiện tượng hiếm, xuất hiện khi có hoạt động bất thường của protein SHH, vốn đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành mặt của giai đoạn phát triển phôi.

    Source: Anh Hoàng, VnExpress
  • Top 10 câu chuyện thủy sản ASEAN năm 2014
    1. Ngành tôm của Thái Lan bị tổn thất lớn kéo dài trong vài năm qua do Hội chứng tôm chết sớm (EMS). Nhiều người tin rằng năm 2014 sẽ phục hồi, nhưng hy vọng đã sớm tan khi bị một đợt hạn hán kéo dài và chậm hồi phục hơn dự kiến ​​do bệnh cho thấy sản lượng cả năm chỉ khoảng 200.000 tấn. Đây là sự suy giảm chóng mặt kể từ năm 2010 khi sản lượng đạt đỉnh 610.000 tấn. Như thể EMS chưa đủ tồi tệ, ngành thủy sản của Thái Lan bị chấn động bởi một cáo buộc do chế độ nô lệ, chứng kiến một số khách hàng phương tây rút lui không mua tôm từ các nhà cung cấp của nước này. Trong tháng 6, tờ báo Anh The Guardian phát hành một loạt các câu chuyện và video về nạn buôn người, chế độ nô lệ và sự lạm dụng lao động nhập cư trong chuỗi cung ứng tôm của Thái Lan. Cũng trong cuối tháng này, quốc gia này đã bị hạ xuống cấp độ 3 trong báo cáo về nạn buôn người của Bộ Ngoại giao Mỹ (TIP).

    2. Cho đến hè năm 2013, hội chứng tôm chết sớm (EMS) đã tiếp diễn không kiểm soát lan khắp khu vực Đông Nam Á và xa hơn nữa, ngành nuôi tôm thiệt hại tiêu tốn hàng tỷ USD. Mặc dù các nhà khoa học đã tìm ra nguyên nhân gây bệnh do vi khuẩn trong năm 2013, nhưng sẽ mất thời gian và công sức để bắt đầu cải thiện tình trạng bệnh. Tuy nhiên, trong tháng 12, Rabobank phát hành một báo cáo mới cho biết ngành công nghiệp này sẽ phục hồi trở lại sau bệnh và một số khu vực, trong đó có Việt Nam. Báo cáo này là tin vui sau những gì đen tối đã đeo bám người nuôi tôm trong nhiều năm nay.

    3. Một năm tốt lành đối với Thai Union Frozen Products. Công ty đã mua thỏa sức, đầu tiên mua hãng cá hồi hun khói MerAlliance của Pháp, chưa đầy hai tuần sau đó thông báo sẽ mua công ty thủy sản King Oscar của Na Uy. Một lần nữa trong tháng 12, thông báo đã mua Bumble Bee Foods với tổng giá trị 1,5 tỷ USD (1,2 tỷ EUR). Thương vụ cuối cùng sẽ giúp công ty này trở thành nhà cung cấp cá ngừ đóng hộp lớn nhất ở Hoa Kỳ và nhà sản xuất cá ngừ vằn lớn nhất trên thế giới.

    4. Nga quay sang nhập khẩu thủy sản từ các nước ASEAN. Ngày 07/08/2014, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã ký sắc lệnh cấm một danh sách các sản phẩm nông nghiệp từ Hoa Kỳ, Canada, Liên minh châu Âu, Australia và Na Uy nhằm phản ứng lệnh trừng phạt áp đặt chống lại Ukraine. Thiếu hụt nguồn cung đã đẩy Nga chuyển sang nhập khẩu từ nhiều nước Nam Mỹ và châu Á. Số liệu của Trung tâm Thương mại Quốc tế cho thấy kim ngạch xuất khẩu thủy sản của tất cả các nước sản xuất chính trong ASEAN sang Nga tăng mạnh trong tháng 9/2014 so với các tháng trước đó và cùng kỳ năm 2013.

    5. Tranh chấp hàng hải ở Biển Đông. Trung Quốc tiếp tục xâm phạm chủ quyền của một số quốc gia ASEAN, trong đó có Việt Nam và Philippines bằng cách xây dựng hoặc đặt một số công trình trong các vùng biển tranh chấp. Ngày 30/03/2014, Philippines đã nộp đơn kiện tới trọng tài Liên Hợp Quốc về sự quyết đoán gia tăng của Trung Quốc ở Biển Đông. Sau đó, ngày 11/12, Việt Nam cũng đã đệ trình hồ sơ pháp lý đến Tòa án Trọng tài ở The Hague, hỗ trợ cho vụ kiện của Philippines và bác bỏ bản đồ “đường chín đoạn” đưa ra yêu sách biển của Trung Quốc. Hồ sơ yêu cầu ban trọng tài xem xét lợi ích của Việt Nam ở biển Đông. Quyết định do trọng tài quốc tế về các khiếu nại cạnh tranh hàng hải dự kiến ​​sẽ đưa ra trong năm tới.

    6. Xuất khẩu tôm của Việt Nam lập kỷ lục mới là 4,1 tỷ USD. Nhờ giá cao và nhu cầu ở nước ngoài tăng, xuất khẩu tôm của Việt Nam lập kỷ lục cao 4,1 tỷ USD trong năm 2014, tăng 25% cùng kỳ năm. Tăng trưởng được như vậy chủ yếu là do xuất khẩu tôm thẻ chân trắng tăng vọt, góp phần lớn đưa kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đạt 7,9 tỷ USD cả năm, tăng 18% so với năm trước. Mỹ vẫn là nước nhập khẩu tôm Việt Nam lớn nhất, gần đây đã chứng kiến ​tăng đột biến các đơn hàng từ EU. Sản phẩm cũng đã nhận được yêu cầu ngày càng tăng từ các thị trường khác như Hàn Quốc, Úc, và Canada. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn dự báo doanh số bán tôm sẽ tăng 25% trong năm 2015.

    7. Chương trình thanh tra cá da trơn của Mỹ. Đầu năm nay 2014, Quốc hội Mỹ chuyển giao thẩm quyền thanh tra cá da trơn từ FDA sang cho Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) trong một động thái để bảo vệ ngành công nghiệp cá da trơn địa phương đối với nhập khẩu nước ngoài. Theo quy trình thanh tra FDA cũ, cá da trơn đã được kiểm tra sau khi đến Mỹ. Theo quy định của Bộ Nông nghiệp Mỹ, tuy nhiên, bất kỳ quốc gia xuất khẩu cá da trơn sang Mỹ sẽ bị bắt buộc thiết lập hệ thống kiểm tra địa phương của mình tương đương với hoạt động tại Mỹ của USDA. Việc đưa ra một hệ thống tương đương USDA sẽ đòi hỏi việc kiểm tra toàn bộ kỹ lưỡng ở các nước xuất khẩu và việc xuất khẩu cá da trơn có thể bị chấm dứt trong nhiều năm cho đến khi quá trình hoàn tất. Do vậy, Việt Nam là nước xuất khẩu cá tra lớn nhất vào Mỹ, và 9 quốc gia ASEAN khác đã gửi thư cho Đại diện Thương mại Hoa Kỳ để phản đối các chương trình này. Theo các nước này, chương trình này là sự vi phạm rõ ràng luật pháp quốc tế và phản đối tại các cuộc đàm phán thương mại giữa ASEAN và Mỹ.

    8. Việt Nam phải đối mặt với các mức thuế chống bán phá giá cao chưa từng thấy. Theo quyết định cuối cùng của Bộ Thương mại Mỹ (DOC) về các mức thuế chống bán phá giá đối với tôm nhập khẩu nước ấm cho đợt xem xét lần thứ 8 từ ngày 01/02/2012, đến ngày 31/01/2013, 32 doanh nghiệp xuất khẩu tôm Việt Nam bị áp mức thuế kỷ lục. Công ty Cổ phần Thủy hải sản Minh Phú là 4,98%, Công ty Cổ phần Thủy sản Sóc Trăng STAPIMEX là 9,75% và 30 công ty khác là 6,37%. Mức thuế chung của các công ty Việt Nam là 25,76%. Theo quyết định, Hiệp hội Thủy sản và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) đã nộp đơn kháng cáo trước Tòa án Trọng tài Thương mại Quốc tế Mỹ cho rằng mức thuế được áp dụng cho POR8 là quá cao, không hợp lý và thiếu cơ sở đầy đủ. Do đó VASEP yêu cầu DOC tính lại mức thuế dựa trên số liệu mới cập nhật. Ngoài Việt Nam, mức thuế suất của Thái Lan cũng đã bị nâng từ 0% vào năm 2013 lên 1,1%. Xuất khẩu tôm Ấn Độ phải chịu mức thuế suất cao hơn 1,97 – 3,01% thay vì 0%.

    9. Một loạt nghiên cứu đã được thực hiện trong năm qua về việc xác định các thành phần có thể giúp thay thế bột cá trong thức ăn chăn nuôi. Một trong số những nguồn tiềm năng mới làm thức ăn cho cá gồm: cá chép xâm lấn, đậu nành, lúa mạch, khoai lang và cây camelina biến đổi gen, một số khác.

    10. Suốt năm qua, các chính phủ và các tổ chức y tế đã thể hiện sự ủng hộ đối với việc giảm sử dụng kháng sinh ở động vật nuôi, bao gồm cả cá. Mối quan tâm là việc lạm dụng kháng sinh dẫn đến sự tích tụ vi khuẩn kháng kháng sinh ở cả người và động vật. Để giải quyết vấn đề này, các chuyên gia y tế và các nhà hoạch định chính sách đang xem xét kỹ tầm quan trọng của việc sử dụng và làm thế nào chúng ta có thể giảm thiểu sử dụng kháng sinh trong khi vẫn duy trì và bảo vệ sức khỏe cho động vật.

    Source: BioAqua.vn, Theo VietFish
  • Ngành tôm Thái Lan trước những thách thức năm 2014
    Ảnh hưởng của hội chứng tôm chết sớm (EMS), EU ngừng áp dụng hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP), giá tôm thấp và cáo buộc lạm dụng lao động trong ngành thủy sản là những thách thức không nhỏ đối với ngành tôm Thái Lan trong năm 2014. Dự báo năm nay sản lượng tôm nuôi của nước này chỉ đạt khoảng 200.000 tấn, giảm hơn một nửa so với mức 500.000 – 600.000 tấn trong giải đoạn trước năm 2012.

    Ngành tôm Thái Lan đã chuyển đổi hoàn toàn từ nuôi tôm sú sang tôm chân trắng chỉ trong ba năm, điều mà Chủ tịch Hiệp hội Tôm Thái Lan (TSA) Somsak Paneetatyasai gọi là “hiện tượng” ở Thái Lan. Trước đây, khi nuôi tôm sú, Thái Lan gặp khó khăn về con giống do không thể gia hóa được tôm bố mẹ không bị dịch bệnh. Sản lượng nuôi vì vậy giảm dần.

    Vào thời điểm đó, Charoen Pokphand Foods (CPF) mang tôm chân trắng vào Thái Lan. Đây là công ty đầu tiên của Thái Lan NK tôm chân trắng bố mẹ và nuôi thành công loài này với mật độ thả nuôi cao, hệ số thức ăn FCR thấp và tốc độ tăng trưởng nhanh. Người nuôi cũng ít gặp khó khăn vào thời điểm chuyển từ nuôi tôm sú sang tôm chân trắng, giúp sản lượng tôm của Thái Lan tăng trở lại trước khi sụt giảm mạnh từ năm 2013.

    Sự bùng phát của EMS

    Dịch bệnh EMS xảy ra ở khu vực Đông Thái Lan từ cuối 2012, sau đó lan rộng ra khu vực nuôi thủy sản ở miền Nam nước này.

    Trước năm 2012, Thái Lan có khoảng 30.000 trại nuôi tôm với sản lượng hàng năm đạt 600.000 tấn. Tuy nhiên, sự bùng phát EMS đã khiến số lượng trại nuôi giảm một nửa và sản lượng giảm mạnh chỉ còn khoảng 270.000 tấn vào năm ngoái. Sản lượng ước sẽ đạt 200.000 tấn trong năm nay do người nuôi vẫn chưa sẵn sàng thả nuôi do chưa thể kiểm soát triệt để dịch bệnh. Tuy nhiên, nhờ một số biện pháp đối phó EMS, tỷ lệ thả nuôi đang tăng dần kể từ Quý 3 năm nay.

    Trong đó, biện pháp phổ biến nhất là chuẩn bị thêm ao ương trước khi thả tôm giống trong giai đoạn đầu vào ao nuôi thương phẩm, đồng thời không thả trực tiếp vào ao nuôi thương phẩm như trước, người nuôi phải chuẩn bị thêm ao ương để ương tôm trong khoảng một tháng nhằm giúp tôm giống khỏe hơn và tăng sức đề kháng với dịch bệnh trước khi thả vào ao nuôi thương phẩm. Với mô hình này, tôm có tỷ lệ sống cao hơn, nhờ đó ngày càng nhiều người nuôi đang cố gắng nuôi tôm trở lại.

    EU ngừng áp dụng GSP đối với tôm Thái Lan

    Do EU ngừng áp dụng GSP, từ 1/1/2014, thuế suất đối với tôm chế biến của Thái Lan NK vào EU đã tăng từ 7% lên 20%, từ 1/1/2015, các sản phẩm tôm đông lạnh sẽ chịu mức thuế 12% thay vì 4% như trước. Do đó, kim ngạch XK tôm của Thái Lan sang EU có thể giảm 5% trong cơ cấu XK tôm của nước này.

    “EU là thị trường quan trọng đối với tôm Thái Lan, chiếm khoảng 50% tổng giá trị XK tôm của Thái Lan. Nếu chúng tôi bán tôm sang Mỹ nhiều hơn, chúng tôi sẽ gây áp lực với thị trường này. Do đó, chúng tôi đã cố gắng làm việc cùng Chính phủ để dành lại ưu đãi GSP từ EU, nhưng việc đó tốn rất nhiều thời gian – khoảng 7 năm. Với GSP cũ, chúng tôi XK 35.000 tấn tôm sang EU, nhưng khối lượng đã giảm mạnh xuống còn chỉ 5.000 tấn sau khi EU ngừng áp dụng GSP. Tuy nhiên, XK sẽ tăng lên 60.000 tấn khi chúng tôi được hưởng GSP trở lại,” Somsak nói.

    Mặc dù GSP có ảnh hưởng quan trọng đối với XK tôm của Thái Lan, nhưng việc đàm phán để được hưởng tiếp GSP lại rất khó khăn vì vậy nước này đang tập trung đàm phán Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) thay vì dành lại ưu đãi GSP. Nếu Thái Lan có thể đàm phán thành công FTA, tôm XK sang EU sẽ được hưởng mức thuế 0%.

    “Lẽ ra chúng tôi có thể kết thúc đàm phán vào năm tới, nhưng vì vấn đề chính trị của Thái Lan trong vài năm gần đây, EU đã tạm dừng đàm phán. Tôi nghĩ đàm phán sẽ kéo dài thêm một năm nữa,” Somsak cho biết.

    Giá tôm biến động

    Năm nay, người nuôi tôm Thái Lan giảm mật độ thả nuôi để tránh dịch bệnh và tập trung hơn vào sản xuất tôm cỡ nhỏ. Tuy nhiên, các thị trường NK lại tăng nhu cầu tiêu thụ tôm cỡ lớn, khiến giá tôm cỡ nhỏ giảm, ảnh hưởng đến người nuôi.

    Một trong những biện pháp hết sức hiệu quả của Chính phủ Thái Lan nhằm đối phó với tình trạng này là triển khai dự án PLUDT. Theo đó, khi giá tôm thấp, người nuôi sẽ mang tôm đến kho lạnh do Chính phủ quản lý. Khi giá tăng trở lại, họ sẽ đến nhận lại tôm và bán ở mức giá cao hơn. Dù kho lạnh chỉ có dung tích 10.000 tấn, bằng khoảng 2% tổng sản lượng tôm của Thái Lan, PLUDT được xem là dự án thành công với hiệu ứng giá tôm tăng ngay khi Chính phủ tuyên bố dự án. “Dự án chỉ quản lý được 10.000 tấn tôm, nhưng nó đã khiến hàng trăm nghìn tấn tôm tăng giá. Thực sự là rất nhạy cảm,” Somsak cho biết.

    Chính phủ Thái chọn các nhà chế biến phân bố theo các khu vực để tham gia vào dự án. PLUDT thiết lập mức giá mục tiêu hay giá cố định mà người nuôi sẽ bán tôm cho các nhà chế biến trong dự án. Ví dụ, năm năm trước, khi tôm cỡ 70 con/kg giảm xuống còn 95 bạt/kg, người nuôi bị ảnh hưởng nặng nề. Dự án PLUDT khi đó cùng với người nuôi và các nhà chế biến đã ấn định mức giá mới cho tôm cỡ này là 125 bạt/kg để có thể đủ bù đắp được chi phí sản xuất. Tương tự, mức giá cho tôm cỡ 80 con/kg, 60 con/kg và 50 con/kg lần lượt là 115 bạt/kg, 135 bạt/kg và 150 bạt/kg. Người nuôi cảm thấy hài lòng khi bán tôm với các mức giá như vậy. Đến nay, dự án PLUDT đã được triển khai 5-6 lần ở Thái Lan.

    Cáo buộc lạm dụng lao động trong ngành thủy sản

    Tháng 6 vừa qua, ngay sau khi tờ Guardian của Anh đưa tin về việc tàu khai thác thủy sản của Thái Lan – chuyên cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến bột cá, trong đó có CPF – sử dụng lao động bất hợp pháp, Tập đoàn bán lẻ Carefour đã tuyên bố tạm ngừng mua hàng từ CPF cho đến khi sự việc được làm sáng tỏ.

    Sau một tuần tranh cãi về lạm dụng lao động trong ngành thủy sản Thái Lan, nước này đã phản đối nghị định thư chống lạm dụng lao động của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) gây sốc và phẫn nộ trong cộng đồng quốc tế.

    Tuy nhiên, nghị định thư này sau đó đã được thông qua tại hội nghị ILO ở Geneva, Thụy Sĩ với 437 phiếu thuận, 27 phiếu trắng, và tám phiếu phản đối. Bốn trong số đó là từ Thái Lan.

    Ngoài vấn đề lạm dụng lao động, việc bị hạ bậc trong báo cáo về nạn buôn người của Mỹ công bố vào tháng 6 vừa qua cũng tác động không nhỏ tới XK tôm của Thái Lan, đặc biệt là XK sang Mỹ.

    Tuy nhiên, yếu tố gây ảnh hưởng nặng nề nhất đối với ngành tôm Thái Lan trong năm 2014 là dịch bệnh EMS, khiến các nhà chế biến trong nước lao đao do thiếu nguồn nguyên liệu. Bên cạnh việc chuyển hướng sang sản xuất nhiều mặt hàng GTGT hơn, nước này vẫn phải tăng cường NK tôm nguyên liệu để bù đắp cho nguồn cung thiếu hụt trong nước. Ước tính Thái Lan cần NK khoảng 40.000 tấn tôm trong năm nay.

    Source: Phương Thảo, VietFish