-
Monkfish (hoặc headfish) là tên tiếng Anh của một số loại cá ở phía tây bắc Đại Tây Dương, đặc biệt là các loài cá vây chân (anglerfish) thuộc giống Lophius và cá mập thiên thần (angelshark) thuộc giống Squatina.
Cá tu sĩ có thể phát triển đến chiều dài hơn 1,5 m (5 ft); đa số những con bắt được có chiều dài khoảng 1 m (3 ft). Con cá lớn nhất từng bắt được nặng 115 kg (253 lb) vào ngày 07 tháng 01 năm 2012, bởi Frank-Rune Kopperud ở Na Uy. Kỷ lục trước đó là một con nặng 99,4 kg (219 lb).
Thân thể đầy nhớt của nó được bao phủ bởi các gai nhọn và những cục bướu, cái miệng to lớn với hàng đống răng sắc nhọn trông rất đáng sợ. Thực sự, cá Monkfish ghê tởm đến mức một số nước, như Pháp, đã từng cấm chúng, vì hình dáng của chúng gây sợ hãi đến mức người ta không dám mua cá khi có sự hiện diện của chúng cùng với các loài thủy sản khác. Giải pháp để giảm bớt sự sợ hải là cắt đầu chúng đi, chỉ để lại phần đuôi. Thật may mắn, đuôi cá là phần thịt rất ngon. Sau khi bỏ cái đầu đáng sợ, nó nhanh chóng trở thành món ngon ở nhiều nơi trên thế giới. Đuôi cá có thịt mọng nước, ít chất béo.
Ở châu Âu và Bắc Mỹ, nhiều người khen đuôi cá monfish giống đuôi tôm hùm, tương tự về mùi vị và cơ cấu thịt và chúng thường có giá tương đương với tôm hùm, trong một số trường hợp thậm chí giá còn cao hơn tôm hùm và các loại hải sản quí khác. Ngày nay, cá monkfish thường được dùng làm thực phẩm phổ biến ở Bồ Đào Nha và các khu vực ven biển phía Bắc và phía Nam của Tây Ban Nha, chẳng hạn như Catalonia, Valencia và Galicia.
© Triệu Thanh Tuấn, www.aquanetviet.org.- By Trieu Thanh Tuan
- 1 comment
- 3 likes
-
Trieu Thanh Tuan Theo kinh nghiệm của tôi thì những con cá đẹp, màu sắc sặc sỡ thường có thịt rất tệ. Trái lại, những con cá xấu xí trông đáng sợ lại có thịt rất ngon. Cá lau kính ở Việt Nam là một con như thế, nếu có dịp bạn hãy nếm thử thịt của chúng nhé, rất tuyệt. Thậm chí nhiều người còn so sánh thịt cá lau kính với thịt gà thả vườn. Ăn cá lau kính cũng là một cách góp phần bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học ở Việt Nam khi mà số lượng cá lau kính đang tăng lên ở mức báo động, có nguy cơ đe dọa môi trường sống của các loài thủy sản khác ở nước ta.
- 0 likes
- Like
- Reply
-
Trai ngọc Pinctada fucata martensii là đối tượng thủy sản quan trọng ở vùng biển Nam Trung Quốc và có giá trị thương phẩm cao trong ngành công nghiệp ngọc trai.
Những khó khăn của việc nuôi thương phẩm thương liên quan đến vấn đề biến thái chuyển sang sống đáy của ấu trùng trai ngọc. Điều quan trọng là tìm ra phương pháp đơn giản, ít tốn kém và hiệu quả để kích thích quá trình biến thái và chuyển sang sống đáy đồng loạt của ấu trùng. Nghiên cứu này khảo sát ảnh hưởng của 11 loại hóa chất đến việc kích thích ấu trùng P. fucata martensii biến thái.
Ấu trùng được thử nghiệm với thời gian 96h trong môi trường có hóa chất. Trong số các hóa chất thử nghiệm, K+ (10 và 20 mM), Ca2+ (1 và 50 mM), axít γ-aminobutyric (10-4 M), 3-isobutyl-1-methylxanthine (10-4 M), choline (10-3, 10-4 M), acetylcholine (10-4 M), và serotonin (10-3, 10-4, 10-5 M) đã kích thích phần lớn ấu trùng chuyển sang sống đáy mà không gây độc, trong khi Mg2+, NH4+, dopamine, và 3-(3,4-Dihydroxyphenyl)-L-alanine đã tỏ ra kém hiệu quả ở tất cả các liều thí nghiệm. Serotonin với liều 10-4 M cho kết quả ấu trùng biến thái cao nhất nhưng lọai hóa chất này đắt tiền. K+ có hiệu quả thấp hơn nhưng rẻ hơn do đó có thể có hiệu quả kinh tế trong việc sản xuất đại trà.
Người dịch: Ts. Ngô Thị Thu Thảo (thuthao@ctu.edu.vn), BM Kỹ thuật nuôi Hải sản, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
Nguồn tin: Xiujuan Yu, Weihong He, Ji-Dong Gu, Maoxian He and Yan Yan. 2008. The effect of chemical cues on settlement of pearl oyster Pinctada fucata martensii (Dunker) larvae. Aquaculture Volume 277, Issues 1-2, Pages 83-91.- By Admin
- 0 comments
- 0 likes
-
Nghiên cứu việc tăng năng suất chất béo từ tảo Chlorella vulgaris nước ngọt được thực hiện bằng việc khảo sát các yếu tố quan trọng như ảnh hưởng của lượng CO2, chất đạm và thời gian thu hoạch cũng như phương pháp chiết xuất.
Thời gian làm khô khi chiết xuất chất béo từ sinh khối tảo đã ảnh hưởng đến thành phần và hàm lượng chất béo. Sấy khô mẫu ở nhiệt độ rất thấp cùng với hút chân không cho kết quả tốt nhất, sấy khô ở 60oC tuy vẫn duy trì thành phần chất béo nhưng làm giảm đi hàm lượng chất béo tổng cộng. Sấy khô mẫu ở nhiệt độ cao hơn đã làm giảm lượng chất béo triacylglyceride (TG). Tán nhuyễn mẫu khô bằng sóng siêu âm không làm ảnh hưởng đến hàm lượng chất béo hoặc thời gian ly trích mẫu. Việc tăng hàm lượng chất béo trong các tế bào tảo cũng là kết quả của việc nuôi cấy trong môi trường hầu như không có chất đạm. Kết quả cho thấy việc thay đổi từ môi trường dinh dưỡng bình thường sang môi trường nuôi hầu như không có chất đạm sẽ làm thay đổi thành phần chất béo từ dạng giàu acid béo tự do sang dạng chứa phần lớn TG. Hàm lượng chất béo cao hơn khi tảo sinh trưởng rất chậm vì thiếu đạm, do đó cần kết hợp giữa hàm lượng chất béo và thời gian thu hoạch để đạt được các kết quả cao hơn về cả về lượng và thành phần chất béo.
Sinh trưởng của tảo có thể được cải thiện đáng kể thông qua việc tăng hàm lượng CO2, hàm lượng CO2 cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tăng năng suất chất béo. Ở hàm lượng CO2 từ thấp đến trung bình, năng suất chất béo cao nhất có thể đạt được khi môi trường thiếu đạm và giá trị này vượt trội hơn so với nuôi trong điều kiện dinh dưỡng bình thường. Ở hàm lượng CO2 cao, việc thu hoạch vào cuối pha tăng sinh (linear phase) trong điều kiện dinh dưỡng bình thường cho năng suất chất béo cao nhất. Tuy nhiên, bằng cách giảm thời gian nuôi trong điều kiện thiếu chất đạm, hàm lượng chất béo cũng như năng suất chất béo cao hơn vẫn có thể đạt được.
Người dịch: Ts. Ngô Thị Thu Thảo (thuthao@ctu.edu.vn). BM Kỹ thuật nuôi Hải sản, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
Nguồn tin: Arief Widjaja, Chao-Chang Chien and Yi-Hsu Ju. 2009. Study of increasing lipid production from fresh water microalgae Chlorella vulgaris. Journal of the Taiwan Institute of Chemical Engineers Volume 40, Issue 1, Pages 13-20.- By Trieu Thanh Tuan
- 0 comments
- 0 likes
-
Nghiên cứu này đánh giá ảnh hưởng của các acid béo thiết yếu (EFA) đến tỷ lệ sống, sự phát triển và chuyển hóa sinh học của acid béo ở ấu trùng cua biển Scylla serrata.
Ấu trùng cua được giữ trong các cốc nhựa 1 lít (30 con/lít) và cho ăn luân trùng được giàu hóa bằng oleic (18:1n-9, OA), linoleic (18:2n-6, LA), linolenic (18:3n-3, LNA), eicosapentaenoic (20:5n-3, EPA) và docosahexaenoic (22:6n-3, DHA) ở giai đoạn Zoea 1 và Zoea 2. Trước khi chuyển qua giai đoạn Zoea 3, luân trùng được thay thế bằng Artemia không giàu hóa hoặc Artemia giàu hóa với EPA hoặc DHA. Để so sánh ảnh hưởng của luân trùng đã giàu hóa đến thành phần acid béo của giai đoạn Z2, ấu trùng cua cho ăn loại thức ăn này được thu hoạch trước khi đạt đến giai đoạn Z2 và sử dụng cho việc phân tích acid béo.
Lượng EFA trong Artemia ảnh hưởng mạnh hơn trong luân trùng đến tỷ lệ sống của ấu trùng cua. Ấu trùng cua ăn Artemia không giàu hóa có dấu hiệu thiếu EFA như tỷ lệ sống thấp, thời gian lột xác kéo dài và giáp đầu ngực nhỏ hơn ở giai đoạn cua I chứng tỏ rằng DHA có vai trò trội hơn EPA, tiếp theo là LNA và LA. Thành phần acid béo của cơ thể ấu trùng Z2 ăn luân trùng giàu hóa với OA, LA hoặc LNA cho thấy EPA giảm từ 1,2 đến 0,4 -0,8 và DHA giảm từ 0,5 đến 1,0-0,2. Hơn nữa, thành phần acid béo 1 nối đôi tăng lên từ 1,4 đến 2,5-3,2 cho thấy sự thiếu hụt EFA trong khẩu phần. Có thể kết luận rằng, ấu trùng cua biển có khả năng rất hạn chế hoặc không đáng kể để chuyển hóa các acid béo C18 chưa bão hòa thành các acid béo chưa bão hòa có mạch carbon dài hơn.
Người dịch: Ts. Ngô Thị Thu Thảo (thuthao@ctu.edu.vn), BM Kỹ thuật nuôi Hải sản Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
Nguồn tin: M. Agus Suprayudi, Toshio Takeuchi and Katsuyuki Hamasaki. 2004. Essential fatty acids for larval mud crab Scylla serrata: implications of lack of the ability to bioconvert C18 unsaturated fatty acids to highly unsaturated fatty acids. Aquaculture Volume 231, Issues 1-4, Pages 403-416.- By Trieu Thanh Tuan
- 0 comments
- 0 likes
-
Nhằm đánh giá ảnh hưởng của các tỉ lệ protein- năng lượng khác nhau đến sự tăng trưởng và thành phần sinh hóa cơ thể tôm chân trắng giai đoạn giống (trọng lượng trung bình 0,09g ± 0,002g) , thí nghiệm gồm 12 nghiệm thức thức ăn được phối chế chứa 4 mức hàm lượng protein (300, 340, 380 và 420 g/kg thức ăn) và 03 mức hàm lượng lipid (50, 75 và 100 g/kg thức ăn) được tiến hành trong 10 tuần.Mỗi nghiệm thức thức ăn được bố trí ngẫu nhiên với 3 lần lặp lại trong bể 260L chứa 30 tôm/bể.
Trong suốt thời gian thí nghiệm nhiệt độ dao động trong khoảng 28.5±2oC và độ mặn là 28 ± 1g/L. Kết quả thí nghiệm cho thấy các nghiệm thức thức ăn ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê (P<0,05) đến sự tăng trưởng của tôm nuôi. Tôm được cho ăn với thức ăn chứa hàm lượng protein 300g/kg có tốc độ tăng trưởng chậm nhất. Tuy nhiên, tôm được cho ăn thức ăn chứa hàm lượng lipid 75g/kg chỉ lớn nhanh hơn chút ít so với tôm cho ăn bằng thức ăn chứa lipid ở mức 50g/kg khi có cùng hàm lượng đạm, thậm chí tôm có chút suy giảm tăng trưởng khi hàm lượng lipid tăng lên 100g/kg. Tôm chân trắng giống khi được cho ăn thức ăn chứa protein ở mức 420g/kg và lipid là 75g/kg có tốc độ tăng trưởng đặc biệt cao nhất; nhưng tôm cho ăn bằng thức ăn chứa 340g/kg protein và 75g/kg lipid lại thể hiện sự tăng trưởng tốt, hiệu quả sử dụng protein, chuyển hóa năng lượng và hiệu quả sử dụng thức ăn cao nhất so với các nghiệm thức khác. Hàm lượng Triglycerides và Cholesterol tổng số trong huyết thanh của tôm chân trắng tăng lên khi tăng hàm lượng lipid trong thức ăn có cùng hàm lượng protein. Sự tăng hàm lượng lipid trong cơ thể tôm và năng lượng với sự tăng hàm lượng lipid trong khẩu phần thức ăn không phụ thuộc vào hàm lượng protein chứa trong thức ăn.
Các kết quả thu nhận được từ nghiên cứu này cho thấy khẩu phần thức ăn chứa 340g/kg protein và 75g/kg lipid (tỉ lệ protein tiêu hóa/ năng lương tiêu hóa là 21,1 mg/kJ) là hàm lượng tối ưu cho tôm chân trắng giai đoạn giống, và việc tăng hàm lượng lipid trong thức ăn không làm tăng hiệu quả tiết kiệm protein.
Người dịch: Ths. Bùi Châu Trúc Đan (bctdan@ctu.edu.vn), BM Kỹ thuật nuôi Thủy sản nước ngọt, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
Nguồn tin: Y. Hu, B. Tan, K. Mai, Q. Ai, S. Zheng and K. Cheng. 2008. Growth and body composition of juvenile white shrimp, Litopenaeus vannamei, fed different ratios of dietary protein to energy. Aquaculture Nutrition, Volume 14, Pages 499-506.- By Trieu Thanh Tuan
- 0 comments
- 1 like
-
A xít hữu cơ có vai trò quan trọng trong phòng trị bệnh đường ruột của nhiều loài vật nuôi kể cả gia súc, gia cầm và hiện nay đang được ứng dụng trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản.
Các a xít hữu cơ quan trọng có khả năng ức chế sự phát triển của nhiều loài vi khuẩn Vibrio spp gây bệnh cho tôm, đặc biệt Vibrio harveyi. Chủ yếu là nhóm a xít hữu cơ mạch ngắn, bao gồm:
1. Acetic acid
2. Butyric acid
3. Formic acid
4. Propionic acid
Trong đó, Formic Acid đã được đánh giá khả năng ức chế Vibrio harveyi tốt hơn so với các a xít hữu cơ khác, kế đến là Acetic Acid, Propionic Acid, Butyric Acid.
Vì vậy, việc đưa a xít hữu cơ vào đường ruột của vật nuôi để ngăn ngừa các mầm bệnh Vibrio spp. là rất quan trọng cho các loài vật nuôi gia súc, gia cầm và thủy sản. Tuy nhiên, các nguồn a xít hữu cơ tổng hợp không phải là lựa chọn tốt cho đối tượng tôm nuôi vì khác với các đối tượng gia súc, gia cầm thì tôm rất dễ bị stress (sốc) khi môi trường thay đổi quá nhanh vì vậy việc đưa a xít hữu cơ tổng hợp vào ruột tôm sẽ gây nên sự thay đổi pH đường ruột đột ngột, làm sốc tôm (stress) và việc sử dụng liều cao các a xít hữu cơ tổng hợp thường phải dùng liều cao nên ít nhiều sẽ ảnh hưởng đến các nhu mao đường ruột nên tốt nhất là nên đưa các chủng Vi sinh đường ruột có lợi để các vi sinh này tiết ra các a xít hữu cơ tự nhiên làm giảm pH đường ruột một cách từ từ và các a xít hữu cơ tự nhiên này không làm ảnh hưởng đến nhu mao thành ruột.
Tóm lại: người nuôi tôm cần đưa a xít hữu cơ vào đường ruột của tôm giúp ức chế Vibrio spp. phát triển nhưng phải chọn các chủng vi sinh đường ruột có khả năng tiết ra a xít hữu cơ tự nhiên (đa số là Bacillus) - người nuôi không nên can thiệp bằng a xít hữu cơ tổng hợp. Ngoài a xít hữu cơ ra, vitamin C chất lượng tốt cung cấp cho đường ruột cũng có vai trò rất tốt trong phóng bệnh cho tôm.
Nguồn: TS. Nguyễn Duy Hòa, contom.com.vn- By Truong Huynh Nhu
- 0 comments
- 4 likes
-
Cá bướm má xanh có tên khoa học là Chaetodon semilarvatus, thuộc giống Chaetodon, giống phụ (Subgenus) Rabdophorus thuộc họ Chaetodontidae. Cá bướm má xanh phân bố ở Biển Đỏ và Vịnh Aden, ở độ sâu từ 3 đến 20 m. Chiều dài của nó có thể lên đến 23 cm (9,1 in).
Cá bướm má xanh thường có màu vàng sáng với những vạch vàng trên cả hai bên thân. Chúng cũng có một mảng màu đậm phía sau mắt. Đa số được nuôi thành cặp trong các bể cá, loài cá có hình dáng chiếc đĩa này là một sinh vật được nuôi làm cá cảnh phổ biến. Môi trường sống của nó là các rạn san hô, có thể thấy chúng tập trung thành đàn tới 20 con và thường ăn san hô sống. Trong thực tế, sự có mặt của cá này với số lượng nhiều là một chỉ thị về sự đa dạng sinh học của rạn san hô trong một khu vực cụ thể.
© Triệu Thanh Tuấn, www.aquanetviet.org.- By Trieu Thanh Tuan
- 0 comments
- 3 likes
-
Khi người Phương Tây nói về dao cắt sushi, họ thường chỉ tới một loại dao cắt nói chung được dùng cho mọi thứ từ xắt rau tới cắt những cuộn sushi cuối cùng. Ở đây, chúng ta phân biệt những loại dao phương tây và những loại dao Nhật Bản bỡi hai khác biệt chính: vật liệu và độ sắc bén.
Sushi là món ăn Nhật Bản được làm từ cơm và rau hoặc hải sản, thỉnh thoảng có thêm trứng. Ở Phương Tây, loại sushi thông thường nhất là loại makizushi, nơi mà các nguyên liệu khác được gói trong một miếng rong biển gọi là nori, cơm có thể bên trong hay bên ngoài miếng gói. Sushi thường sử dụng cá sống, ví dụ như cá hồng hay cá ngừ, là thành phần chính.
Trong truyền thống, dao sushi được làm từ thép carbon chất lượng cao, cùng loại được dùng để rèn katana, một loại kiếm Nhật truyền thống. Một con dao trung bình, thỉnh thoảng được gọi là dao bento, người ta có thể thấy trong các nhà bếp ngày nay không sử dụng loại vật liệu có chất lượng cao như vậy, thay vì thế họ dùng thép không rỉ loại tốt. Tuy nhiên, các công cụ hiện đại vẫn dựa vào thép có hàm lượng carbon cao.
Một khác biệt lớn nữa giữa dao sushi và dao bình thường ở Phương Tây là cách nó được làm bén. Trong khi hầu hết dao Phương Tây thường làm bén hai phía của lưỡi, dao được thiết kế chuyên cắt sushi được làm bén chỉ một phía, kiểu được gọi là kataba. Cho những đầu bếp thuận tay phải, nó được làm bén ở phía phải, và một số ít hơn được sản xuất cho những đầu bếp thuận tay trái, nó được làm bén phía trái. Dao làm bén một phía làm cho miếng cắt sạch hơn và chính xác hơn, nhưng học sử dụng dao này hơi khó và làm tốn thời gian cho những người mới bắt đầu thành thạo.
Xem xét sâu hơn những điều chung chung, có rất nhiều khác biệt trong các loại dao dùng để sáng tạo sushi. Mỗi cái được thiết kế theo một cách, làm cho nó nổi trội hơn ở một kiểu cắt đặc biệt, một số loài cá đặc biệt có dao được thiết kế riêng để cắt chúng.
Có ba loại dao để cắt sashimi cá là yanagiba, fuguhiki và takohiki. Dao yanagiba trông tương tự như dao gọt vỏ Phương Tây, và được dùng cho đa số các loại cá. Dao fuguhiki được thiết kế đặc biệt để cắt một con cá nóc, hay fugu. Dao takohiki có lưỡi dài hơn, mỏng hơn được dùng cho bạch tuộc và mực. Đối với những loại cá có kích thước khó quản lý, ví dụ như cá ngừ lớn, có một loại dao đặc biệt có thể dài hơn 6 feet (2 mét).
Deba bocho là một kiểu dao sushi nữa, rộng hơn yanagiba nhiều, và giống với dao lạng của Phương Tây về phương diện nào đó. Chúng được dùng để cắt những miếng cá dày hơn, nhưng chủ yếu là để cắt những loại thịt không phải cá như thịt bò hay thịt gà. Chiếc dao phay này được dùng để cắt thô những con cá , trước khi dùng dao yanagiba hay một loại dao khác, nhỏ hơn cắt những miếng thịt này thành những miếng nhỏ để làm sushi.
Dao unagisaki được thiết kế để fillet lươn, một loài thường dùng làm sushi. Dao này gần như có hình vuông, có một điểm bén và một góc vuông ở đầu. Điểm nhọn này được thiết kế để đâm vào đầu lươn để thân của nó được cắt lát dễ hơn.
Rau củ thường được cắt bỡi hai loại dao, hoặc là usuba, hoặc nakiri. Dao này có cạnh thẳng để chúng có thể cắt rau dễ hơn với chỉ một lần cắt, không cần đưa tới đưa lui hay ấn nó xuống. Lưỡi dao này mỏng, bảo đảm một vết cắt chính xác và sạch mà không làm rau bị dập. Dao nakiri được làm bén hai phía, làm chúng thích hợp hơn cho những người mới, trong khi usuba chỉ được làm bén một phía.
Một con dao sushi đa mục đích đơn giản cũng có thể tìm mua được từ các nhà cung cấp dao với giá không đắt lắm. Những con dao đặc biệt và chất lượng cao có thể có giá rất đáng kể, và sưu tập một bộ dao đầy đủ có thể là một nhiệm vụ khó khăn. Đối với những người dùng dao ở nhà, nên mua một con dao từ một nhà sản xuất tin cậy có chất lượng thích hợp để dùng ở nhà mà không phải vét túi.
>> Maguro-kiri, hay tuna knife, hay dao cắt cá ngừ là loại dao đặt biệt để cắt và fillet những con cá ngừ lớn nguyên con. Dao này có lưỡi và tay cầm dài hơn nhiều so với những con dao tiêu biểu. Những con dao rất dài này được thiết kế một cách khéo léo với lưỡi được làm từ thép carbon mềm hơn so với những con dao khác, làm cho nó dễ dàng hơn để sửa chữa những sứt mẻ nhỏ cho lưỡi dao trong việc fillet những con cá lớn vô cùng vất vả. Dao cắt cá ngừ thường được bán ở các chợ cá ở Nhật Bản, như chợ cá Tsukiji, nơi họ tổ chức đấu giá cá ngừ vào mỗi buổi sáng.
Nguồn: Blog Biển và Người- By Truong Huynh Nhu
- 0 comments
- 3 likes
-
Thí nghiệm đánh giá ảnh hưởng của việc thay thế Casein trong thức ăn cho bào ngư, Haliotis discus hannai Ino được tiến hành trong 16 tuần. Bào ngư sử dụng cho thí nghiệm này có trọng lượng ban đầu là 13,5 ± 0,12g, được bố trí cho ăn các nghiệm thức thức ăn sau:
- CS: thức ăn chứa 350g casein/kg thức ăn
- FS: thay thế toàn bộ Casein bằng: 300g bột cá + 200g bột đậu nành cho 1 kg thức ăn
- FSK: thay thế toàn bộ Casein bằng: 200g bột cá + 200g bột đậu nành + 130g bột nhuyễn thể cho 1 kg thức ăn.
- FSC: thay thế toàn bộ Casein bằng: 200g bột cá + 200g bột đậu nành + 280g bột cua đỏ cho 1 kg thức ăn
- FSS: thay thế toàn bộ Casein bằng: 200g bột cá + 200g bột đậu nành + 130g bột đầu tôm cho 1 kg thức ăn
- FSG: thay thế toàn bộ Casein bằng: 300g bột cá + 200g bột đậu nành +50g phụ phẩm trà xanh cho 1kg thức ăn
- ST: thức ăn là tảo biển (nghiệm thức đối chứng).
Khi kết thúc thí nghiệm tăng trọng, dài vỏ và rộng vỏ của bào ngư được cho ăn các loại thức ăn sử dung các nguyên liệu thay thế Casein (FS, FSK, FSC, FSS và FSG) khác biệt không có ý nghĩa so với nghiệm thức CS. Tuy nhiên, bào ngư ở tất cả các nghiệm thức được cho ăn bằng thức ăn phối chế đều có tăng trọng và rộng vỏ lớn hơn so với bào ngư được cho ăn bằng tảo biển (nghiệm thức ST). Các kết quả thu được từ nghiên cứu này cho thấy lượng Casein trong khẩu phần thức ăn của bào ngư có thể được thay thế hiệu quả bằng việc sử dụng phối hợp các nguyên liệu bột cá, bột đậu nành, bột nhuyễn thể, bột cua và (hoặc) bột đầu tôm mà không ảnh hưởng đến sự phát triển của bào ngư.
Người dịch:Ths. Bùi Châu Trúc Đan (bctdan@ctu.edu.vn), BM Kỹ thuật nuôi Thủy sản nước ngọt, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
Nguồn tin: CHO, S.H., J. PARK, C. KIM and J.H. YOO. 2008. Effect of casein substitution with fishmeal, soybean meal and crustacean meal in the diet of the abalone Haliotis discus hannai Ino. Aquaculture Nutrition, Volume 14, Pages 61-66.- By Trieu Thanh Tuan
- 0 comments
- 2 likes
-
Hợp chất chiết xuất từ cây Diệp hạ châu đắng (Phyllanthus amarus) gồm có các thành phần: Niranthin, Hypophyllanthin và Phyllanthin được thử nghiệm phòng bệnh đốm trắng do virus gây hội chứng đốm trắng (WSSV) trên tôm sú.
Bước đầu cho phép ghi nhận sản phẩm Diệp hạ châu với liều lượng 8 g/kg thức ăn/ngày trong điều kiện thí nghiệm cho tỷ lệ sống (Relative percent survival - RPS) là 73,33% sau cảm nhiễm và ngoài ao nuôi có tác dụng phòng bệnh do virus gây hội chứng đốm trắng (WSSV) gây ra trên tôm sú trong chu kỳ nuôi 4 tháng. So sánh hiệu quả kinh tế của các ao sử dụng và không sử dụng sản phẩm Diệp hạ châu cho thấy giá thành tôm sú tăng không đáng kể (trung bình từ 500 đồng đến 1.000 đồng/kg tôm trong 3 tháng sử dụng sản phẩm này.
Nguồn: Lý Thị Thanh Loan, Võ Hồng Phượng, Mã Tú Lan, Chung Minh Lợi. 2012. Kết quả dự án sản xuất thử nghiệm sản phẩm Diệp hạ châu trong phòng bệnh đốm trắng do virus gây hội chứng đốm trắng (WSSV) trên tôm sú (Penaeus monodon). Viện Nghiên cứu NTTS II.- By Trieu Thanh Tuan
- 5 comments
- 2 likes
-
Thuy Loan Tran Vậy chú Tám có đồng ý phương pháp làm sao mà ng nông dân có thể sử dụng trực tiếp cây thảo dược trong vườn để phòng bệnh cho tôm không? -Vốn là sự nghiệp của người nghiên cứu mà đúng không a [1432,Trieu Thanh Tuan] ?
-
liemtran308 Những chất này Niranthin, Hypophyllanthin và Phyllanthin diệt được khuẩn thì sao hả các người ĐẦU TO ÓC TRÁI NHO:
- Diệt Khuẩn mà cứt đái của tôm cá vẫn còn đầy ao?????
- Diệt rồi diệt kiến mà rác, cứt vẫn còn đầy trong nhà
Nếu người không có Đầu To Óc Trái Nho thì phải biết làm gì rồi.
Càng nói nhiều....thì càng tỏ ra ngu dốt....nghìn năm cũng không thay đổi được Tư Duy. - 2 more comments
-
Thí nghiệm về tăng trưởng được bố trí ở nhiệt độ 28.8±1.8°C nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của nồng độ muối lên tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng đặc biệt (SGR), hiệu quả sử dụng thức ăn (FCE) và các thông số về năng lượng của tôm sú giống, Penaeus monodon có trọng lượng ban đầu 1.20±0.05 g. Tôm sú được nuôi ở các nồng độ muối 5, 10, 15, 20, 25, 30 và 35ppt.
Kết quả cho thấy tỷ lệ sống của tôm không bị ảnh hưởng bởi nồng độ muối trong phạm vi từ 5-35ppt. Tuy nhiên, tỷ lệ sống thấp nhất và khác biệt có ý nghĩa thống kê (P < 0.05) được quan sát thấy ở tôm nuôi với nồng độ muối 5ppt. Tốc độ tăng trưởng đặc biệt và hiệu quả sử dụng thức ăn tốt nhất (3.24±0.25%/ngày và 54.90±2.97 theo thứ tự tương ứng) được tìm thấy ở nồng độ muối 25ppt. Nồng độ muối có ảnh hưởng lớn đối với nhiều thông số về năng lượng như năng lượng tích tụ cho tăng trưởng (G), năng lượng mất đi do hô hấp (R), do bài tiết (U), thải phân (F) và lột xác (E) tuy nhiên nó có ảnh hưởng rất ít đến tốc độ cho ăn (FR). Điều này có nghĩa là sự khác nhau về tốc độ tăng trưởng trong điều kiện các nồng độ muối khác nhau không phải là do sự khác nhau về việc tiếp nhận thức ăn từ tốc độ cho ăn mà chủ yếu là do sự khác nhau trong quá trình đồng hóa và dòng năng lượng chuyển vào hô hấp.
Hiệu quả tăng trọng thực chất đạt cao nhất ở nồng độ muối 25ppt và ngoài phạm vi 20-35ppt sẽ làm gia tăng nguồn năng lượng chuyển vào hô hấp, bài tiết và lột xác và dẫn đến việc giảm đáng kể về tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn. Vì vậy nồng độ muối thích hợp nhất cho việc nuôi tôm sú nên được chọn ở khoảng 25ppt nơi mà nguồn năng lượng trung bình là: 100C (100% năng lượng được tiêu thụ từ thức ăn) = 14.51(±1.05)G + 66.68(±1.56)R + 14.54(±0.72)F +3.33(±0.24)U + 0.93(±0.07)E.
Người dịch:Ths. Nguyễn Thị Hồng Vân (nthvan@ctu.edu.vn), TT Ứng dụng và chuyển giao công nghệ TS, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
Nguồn tin: Le Ye, Shigui Jiang, Xiaoming Zhu, Qibing Yang, Weigeng Wen, Kaichang Wu. 2009. Effects of salinity on growth and energy budget of Juvenile Penaeus Monodon. Aquaculture online PII: S0044-8486(09)00098-2.- By Trieu Thanh Tuan
- 0 comments
- 1 like
-
Mục đính của nghiên cứu này đánh giá sự tác động của hệ thống tuần hoàn kết hợp với bồn lọc sinh học yếm khí USB lên sự sinh trưởng của cá nuôi và chất lượng nước (nitrate, nitrite, TAN, phosphate).
Kết quả cho thấy tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng đặc trưng, năng suất và hệ số chuyển đổi thức ăn của cá trê không bị ảnh hưởng khi kết hợp với USB (P >0,05). Hệ thống USB tác động làm giảm nồng độ nitrate và nitrite đáng kể (P<0,05). Hiệu suất khử nitrogen của USB đạt từ 269 - 283 g/m3 thể tích USB/ngày. Khi kết hợp USB với hệ thống tuần hoàn (RAS) không làm giảm hiệu suất khử nitrogen của toàn bộ hệ thống nuôi (P > 0,05). Ước tính trung bình 121g Natri bicarbonate/kg thức ăn tiêu thụ thêm vào hệ thống RAS +USB để duy trì pH nước. Trung bình hằng ngày số lượng bùn tích tụ trong hệ thống 13,5 lít và 1kg thức ăn tiêu thụ sinh ra 4,7 lít bùn. Bùn thải sau khi xử lý qua USB chứa hàm lượng volatile solid 30,7 g, 2,9g Kjeldahl-N và 17,5 g chất tro trên 1kg thức ăn tiêu thụ.
Nguồn: Nguyễn Nhứt, Mac Verdegem, Ep Eding, Johan Verreth. 2012. Thiết kế và vận hành hệ thống nuôi cá tuần hoàn “không thay nước’’ kết hợp với thiết bị lọc ngược bùn yếm khí (USB). Viện Nghiên cứu NTTS II.- By Trieu Thanh Tuan
- 2 comments
- 1 like
-
Cá kèn vàng có tên khoa học là Aulostomus chinensis, thuộc giống Aulostomus, họ Aulostomidae. Cá kèn vàng phân bố nhiều ở Trung Quốc, nên chúng còn có tên là cá kèn vàng Trung Quốc.
Không giống như những con cá khác, cá kèn vàng có thân rất dài với hàm nhỏ ở đầu. Những con cá này có thể bơi thẳng đứng, chúng thường ngụy trang bằng cách nép mình vào các vật thể thẳng đứng dưới biển như rong biển hay bọt biển và khả năng này được chúng sử dụng như một chiếc bẫy để săn mồi. Chúng có thể trông giống một khúc gỗ bất động với những sinh vật biển bơi xung quanh khác trong nước.
Chúng có thể sống ở các vùng biển sâu từ 0,5 - 30 m (1,6 - 100 feet) và có thể đạt 40 - 80 cm (15-31 inch) chiều dài. Chúng ăn chủ yếu là cá nhỏ, chẳng hạn như Wrasses và atheriniformes, bằng cách bất ngờ hút con mồi vào miệng của mình.
© Triệu Thanh Tuấn, www.aquanetviet.org.- By Trieu Thanh Tuan
- 0 comments
- 3 likes
-
Cục Thú y (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) vừa công bố một loại vắc-xin bảo vệ cá tra chống lại vi khuẩn Edwardsiella ictaluri. Vắc-xin ALPHA JECT ® Panga 1 được cấp phép tiếp thị kể từ ngày 10/4/2013.
Ông Kjersti Gravningen (Giám đốc Công ty PHARMAQ Châu Á) chia sẻ: “Chúng tôi rất vui mừng khi giấy phép được thông qua. Đây là bước đột phá cho ngành nuôi trồng thủy sản Việt Nam cũng như cho PHARMAQ. Chúng tôi tin rằng, ALPHA JECT Panga 1 sẽ là công cụ hiệu quả trong việc giảm tổn thất do khuẩn E. ictaluri gây ra và sẽ góp phần cải thiện sức khỏe cũng như gia tăng giá trị của cá”.
ALPHA JECT Panga 1 là loại vắc-xin dùng qua đường tiêm. Tiêm chủng là một biện pháp quan trọng và cần thiết trong việc kiểm soát các bệnh phổ biến ở cá tra nuôi. Vắc-xin cũng đã được chứng minh có hiệu quả thông qua các cuộc thử nghiệm được PHARMAQ thực hiện trong hai năm qua.
Ông Morten Nordstad (Giám đốc điều hành của PHARMAQ) chia sẻ: “Hoạt động tại Việt Nam là bước đầu tiên của PHARMAQ trong chiến lược tiếp cận ngành nuôi trồng thủy sản Châu Á. PHARMAQ rất tự hào khi được cấp phép của Việt Nam cho loại vắc xin này. PHARMAQ sẽ tiếp tục hỗ trợ ngành nuôi trồng thủy sản Việt Nam hướng đến các biện pháp tăng cường hơn nữa sức khỏe cho cá.”
Nguồn: Tổng cục Thủy sản- By Admin
- 3 comments
- 1 like
-
Trieu Thanh Tuan Vaccine này mà dùng cho nuôi cá tra thương phẩm chỉ có làm nghèo thêm cho người dân. Dùng cho cá bố mẹ hay một số loài cá cảnh hay cá có giá trị kinh tế cao thì may ra còn chấp nhận được.
-
liemtran308 Có ai biết người nuôi cá Tra đánh men vi sinh định kỳ không?
Tám Lúa đã từng đi tham quan nuôi cá tra ở An Giang rồi:
- Đến trại giống
- Đến nơi nuôi cá bột
- Đến nơi nuôi cá hương
Chưa thấy ai dùng men vi sinh
=================
Giờ thì nghe tiêm vaccine vi khuẩn Edwardsiella ictaluri cho cá, lại thêm màn trình diễn làm giàu cho bọn tài phiệt rồi.
- Người nuôi phải Chi tiền mua cái dư thừa
Dù cho thuốc vaccine vi khuẩn Edwardsiella ictaluri tốt nhất trên trần gian....cứ ngồi đó tiêm chủng đi.....ẹc ẹc
Tám Lúa chờ xem.....nam_cho_sung_rung.....ka ka......có khả thi không cho biết !!!!!!!!!!!!!
-
Sự phát triển của nghề nuôi trồng thủy sản bị hạn chế bởi các áp lực mà nó gây nên cho môi trường do việc đổ các chất thải vào các thủy vực nước và còn bởi sự phụ thuộc của nó vào dầu cá và bột cá. Nuôi thủy sản dựa trên kỹ thuật kết cụm vi khuẩn (BFT: bioflocs technology) là giải pháp cho cả hai vấn đề trên.
Kỹ thuật này kết hợp việc lấy đi các chất dinh dưỡng trong nước thông qua sự sản xuất sinh khối vi khuẩn và vi khuẩn này sau đó được sử dụng bởi các loài động vật thủy sản như là một nguồn thức ăn bổ sung. Việc nắm vững cơ sở của BFT là rất quan trọng trong việc ứng dụng thực tiễn. Các tế bào trong bông cặn (flocs: cụm vi khuẩn) có lợi thế với dòng chảy bình lưu và vì vậy nó sẽ bám giá thể tốt hơn là tế bào thực vật. Cơ chế này rất thích hợp cho những hệ thống nuôi có cường độ dòng chảy từ thấp cho tới trung bình thường áp dụng cho các hệ thống nuôi thủy sản (0.1–10 W/m3). Vì vậy những nhân tố khác như hàm lượng oxy hòa tan, lựa chọn nguồn Carbon hữu cơ và tốc độ cung cấp của chất hữu cơ có ảnh hưởng lớn đến sự tăng trưởng của flocs. Có thể nói rằng cả hai quá trình: sự liên kết các ion theo lý thuyết DLVO và sự liên kết các phân tử Velcro thông qua khả năng sản xuất các tế bào và kết dính ngoại bào đóng một vai trò quan trọng trong quá trình hình thành bioflocs.
Các nhân tố khác có liên quan đến sự hình thành bioflocs như thay đổi bề mặt tế bào kết dính do các polyme (hợp chất cao phân tử) ngoại bào hoặc là số lượng tạo thành cũng đáng quan tâm. Sự đo đạc các yếu tố sinh hóa như là lượng protein, poly-β-hydroxybutyrate và các acid béo cũng có thể dung để phân biệt các loại cụm vi khuẩn. Các phương pháp phân tử như là FISH, real-time- PCR và DGGE cũng được dùng để phát hiện những loài vi khuẩn đặc hữu, đánh giá sự sinh trưởng và ổn định cũng như thành phần của quần xã vi khuẩn hợp thành, số lượng các gene họat hóa chuyên biệt. Cuối cùng, trên quan điểm thực tiễn đối với nuôi trồng thủy sản, mối quan tâm là có được nguồn vi khuẩn bổ sung có chất lượng và dinh dưỡng cao, về phương diện này, chiến lược là tạo ra dòng vi khuẩn ưu thế, dễ tiêu hóa cho các động vật thủy sản hoặc là các sản phẩm có nguồn năng lượng cao, dễ dự trữ như là poly-β-hydroxybutyrate.
Người dịch: Người dịch:Ths. Nguyễn Thị Hồng Vân (nthvan@ctu.edu.vn), TT Ứng dụng và chuyển giao công nghệ TS, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
Nguồn tin: P. De Schryver, R. Crab, T. Defoirdt, N. Boon, W. Verstraete. 2008. The basics of bio-flocs technology: The added value for aquaculture. Aquaculture 277 (2008) 125–137.- By Trieu Thanh Tuan
- 2 comments
- 2 likes
-
liemtran308 Đọc phía dưới sẽ thấy cụm "the young researcher = nhà nghiên cứu trẻ" tức là Peter de Schryver.
Những đứa con nít (nhà nghiên cứu trẻ) ngu dốt này Research cái gì....nói phỏng chừng NHẠI theo....biết cái giống gì mà viết....mà diễn tả.....về Biofloc.
Xem cái link dưới cuối....chúng đọc sách vỡ của người khác rồi tóm lựợc....ngu dốt vẫn là ngu dốt.
http://aquanetviet.org/post/190211/c-s-c-a-k-thu-t-k-t-c-m-vi-khu-n-bioflocs-technology-ngu-n-th-c
European Probiotic Association ...
www.efeedlink.com, 22 Nov 2012 [cached]
European Probiotic Association awards Peter de Schryver (Press release) eFeedLink - European Probiotic Association awards Peter de Schryver (Press release)
...
European Probiotic Association awards Peter de Schryver
Press release
The European Probiotic Association (EPA) awarded the Jules Tournut Probiotics Prize 2012 to Peter de Schryver, from Ghent University, for his innovative research project on the use of microbial products and microorganisms in animal nutrition.
...
Peter de Schryver's project aimed at improving performance and welfare in aquaculture thanks to an original approach: the use of poly-ß- hydroxybutyrate (PHB), which he describes as a microbial energy storage polymer, an important source of energy for bacteria. PHB thus appears to play a prebiotic role in aquatic species, resulting in improved performance and resistance to pathogens.
By combining this compound to a probiotic bacteria (synbiotic approach), the young researcher showed that both agents had a synergistic effect to protect fish against pathogens. Nevertheless, when asked if this new approach could be applied to various species Peter de Schryver reckons that, "it could certainly work in land farmed animals that have an even more developed digestive system".
...
E. Auclair (EPA Treasurer), Peter de Schryver and L. Dussert (EPA President).
eFeedLink - Newsroom - Livestock - Home
www.efeedlink.com [cached]
European Probiotic Association awards Peter de Schryver (Press release)
================================
http://onlinelibrary.wiley.com/doi/10.1111/j.1574-6941.2010.00926.x/full
Yiying Liu1,
Peter De Schryver2,
Bart Van Delsen1,
Loïs Maignien2,
Nico Boon2,
Patrick Sorgeloos1,
Willy Verstraete2,
Peter Bossier1,
Tom Defoirdt1,2
-
Trong vòng ba thập kỷ trở lại đây, các nhà khoa học đã khám phá ra quá trình “quorum sensing” như là một quá trình giao tiếp ở thế giới vi khuẩn, trong đó việc tổng hợp và dò tìm một loại phân tử tín hiệu thực hiện điều hòa việc biểu hiện gen. Quá trình này được chứng minh là có liên quan trực tiếp đến sự biểu hiện gen mã hóa các yếu tố độc lực ở một số loài vi khuẩn gây bệnh trên động vật thủy sản, ví dụ như Vibrio harveyi, V. parahaemolyticus, Aeromonas hydrophila, Edwardsiella tarda, Edw. ictaluri. Hệ thống quorum sensing ở Vibrio harveyi bao gồm ba đường dẫn khác nhau đều ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát sáng sinh học ở loài vi khuẩn này. Trong đó đường dẫn thứ nhất được điều tiết bởi phân tử AHL (N-acyl homoserine lactone), một loại phân tử tín hiệu quorum sensing rất phổ biến ở nhóm vi khuẩn Gram âm.
AHL-lactonase là một trong hai loại enzyme có khả năng phân hủy phân tử AHL. Enzyme này được mã hóa bởi gen aiiA hiện diện ở các loài vi khuẩn thuộc nhóm Bacillus spp. Có khá nhiều nghiên cứu trên thế giới trong việc ứng dụng enzyme AHL-lactonase tái tổ hợp như là một biện pháp kiểm soát sinh học đối với các bệnh trên cây trồng có liên quan đến quá trình tiết ra phân tử AHL. Trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản chỉ mới có hai nghiên cứu được công bố gần đây trong việc sử dụng enzyme AHL-lactonase tái tổ hợp để kiểm soát bệnh do Aeromonas hydrophila gây ra trên cá chép (Chen và ctv., 2010; Cao và ctv., 2012).
Trong nghiên cứu này (nghiên cứu được tài trợ bởi Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia), enzyme AHL-lactonase tái tổ hợp có nguồn gốc từ gen aiiA của chủng Bacillus cereus N26.2 phân lập từ môi trường ao nuôi cá tra, được dòng hóa (clone) và biểu hiện vượt mức ở chủng E. coli BL21(DE3)pLysS. Enzyme AHL-lactonase tái tổ hợp được khảo sát khả năng phân hủy phân tử AHL có liên quan đến độc lực ở V. harveyi và Edw. ictaluri, với mục tiêu lâu dài là nhằm ứng dụng enzyme AHL-lactonase tái tổ hợp trong việc kiểm soát bệnh do hai loài vi khuẩn này gây ra trên tôm sú và cá tra.
Trong phạm vi bài báo này, chúng tôi trình bày một số kết quả nghiên cứu trong việc khảo sát hoạt tính phân hủy phân tử AHL, thông qua khả năng ức chế quá trình phát sáng sinh học ở vi khuẩn V. harveyi. Hai chủng V. harveyi được sử dụng: chủng hoang dại BB120 hiện diện cả ba đường dẫn quorum sensing, và chủng đột biến JMH606 chỉ hiện diện đường dẫn liên quan đến phân tử AHL. Các chủng V. harveyi được nuôi cấy lắc qua đêm trong môi trường Marine Broth, cho đến khi OD600 đạt giá trị khoảng 1,0 thì tiếp tục được pha loãng 1/5000 trong môi trường Marine Broth và phân bổ vào các giếng của đĩa nhựa 96 giếng, với thể tích 100 µl/giếng. Enzyme AHL-lactonase tái tổ hợp được bổ sung vào giếng ở ba nồng độ (5 µg/ml, 15 µg/ml và 25 µg/ml, 6 lần lập lại/nồng độ). Cường độ phát sáng (luminescence intensity, LI) của các chủng V. harveyi ở nghiệm thức đối chứng (không bổ sung enzyme) và ở các nghiệm thức có bổ sung enzyme AHL-lactonase tái tổ hợp, được đo bằng máy quang phổ Multireader apparatus Infinite M200 liên tục trong 6 giờ, với khoảng cách là 1 giờ.
Kết quả ở cho thấy pha log của đường cong tăng trưởng của V. harveyi bắt đầu khoảng sau 4 giờ sau khi nuôi cấy. Việc bổ sung enzyme AHL-lactonase tái tổ hợp ở các nồng độ khác nhau đã không ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của V. harveyi, thể hiện qua giá trị OD600 không có sự khác biệt theo thời gian ở các nghiệm thức khác nhau.
Tuy nhiên, khi đánh giá về cường độ phát sáng thì cho kết quả khác biệt giữa các nghiệm thức. Cường độ phát sáng của chủng hoang dại BB120 đã bị suy giảm một cách có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) ngay ở thời điểm sau 2 giờ, khi enzyme AHL-lactonase tái tổ hợp được bổ sung ở nồng độ 15 µg/ml hoặc 25 µg/ml (Đồ thị 2A). Tương tự, cường độ phát sáng của chủng JMH606 cũng bị ức chế có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) ở cùng nồng độ của enzyme AHL-lactonase tái tổ hợp, nhưng chậm hơn 1 giờ. Ngoài ra, khả năng ức chế của nồng độ 25 µg/ml có khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nồng độ 15 µg/ml.
Qua các kết quả thí nghiệm đã trình bày, cho thấy enzyme AHL-lactonase tái tổ hợp có nguồn gốc từ gen aiiA của chủng Bacillus cereus N26.2, đã có khả năng ức chế quá trình phát sáng sinh học có liên quan đến độc lực ở loài vi khuẩn gây bệnh Vibrio harveyi. Kết quả này mở ra hướng nghiên cứu sử dụng enzyme AHL-lactonase tái tổ hợp như là liệu pháp sinh học trong việc kiểm soát bệnh do V. harveyi gây ra trên động vật thủy sản, cũng như khả năng mở rộng hướng ứng dụng đối với các loài vi khuẩn gây bệnh khác trong nuôi trồng thủy sản.
Nguồn: Nguyễn Thị Ngọc Tĩnh. 2012. Khả năng ức chế quá trình phát sáng sinh học ở Vibrio harveyi bởi enzyme AHL-lactonase tái tổ hợp. Viện Nghiên cứu NTTS II.- By Trieu Thanh Tuan
- 0 comments
- 1 like
-
Tất cả các giai đoạn sớm của ấu trùng cua Scylla serreata được thí nghiệm ở các nghiệm thức với nồng độ nitrite khác nhau (40, 80, 160 mg/L và nghiệm thức đối chứng, không cho nitrite vào) và nồng độ muối khác nhau (25, 30, và 35 g/L).
Trong các nghiệm thức không phát hiện ảnh hưởng của quá trình tương tác giữa nitrite và muối. Thêm vào đó, giá trị LC50 trong thời gian 96h giảm dần trong tất cả các giai đoạn ấu trùng cua tương ứng với nghiệm thức có nồng độ nitrite tăng dần trong tất cả các nồng độ muối khác nhau. Ngoài ra giá trị LC50 trong 96h của ấu trùng giai đoạn 1 là 41,58, giai đoạn 2 là 63,04, giai đoạn 3 là 25,54, giai đoạn 4 là 29,98 mg/l, giai đoạn 5 là 69,93 mg/L. Kết quả của của thí nghiệm cho thấy ấu trùng càng lớn thì khả năng chịu đựng với độ tố nitrite càng cao. Bên cạnh đó, độc tố nitrite ảnh hưởng đến ấu trùng cua cũng tăng theo thời gian thí nghiệm. Nồng độ muối ở khoảng giữa của nồng độ gây chết thì không ảnh hưởng đến ấu trùng và như các loài giáp xác khác thì nồng độ muối trong khoảng 25 – 35 g/L thì không gây độc cho cua. Dựa trên kết quả LC50 trong 96h và hệ số 0.1 xác định nồng độ an toàn cho ương ấu trùng là 4,16 mg/L đối với ấu trùng giai đoạn 1, 6,30 đối với ấu trùng giai đoạn, 2,55 mg/L đối với ấu trùng giai đoạn 3, 2,99 mg/L đối với ấu trùng giai đoạn 4 và 6.99 mg/L đối với ấu trùng giai đoạn 5.
Người dịch: Ks. Phạm Trần Nguyên Thảo (ptnthao@ctu.edu.vn), Bộ Môn Sinh học và Bệnh Thủy sản, Khoa Thủy Sản, Đại học Cần Thơ.
Nguồn tin: Mary Lynn Seneriches-Abiera, Fe Parado-Estepa, and Guadiosa A Gonzales, 2007. Acute toxicity of nitrite to mud crab Scylla serrata (Forsskall) larvae. Aquaculture research, 2007, 38, 1495–1499.- By Trieu Thanh Tuan
- 0 comments
- 3 likes
-
Trong nghiên cứu này, phương pháp mRT-PCR được phát triển nhằm phát hiện đồng thời 6 loại vi-rút chính trên tôm bao gồm YHV, WSSV, TSV, HPV, IHHNV và MBV.
Sáu cặp mồi có thể khuếch đại acid nucleic của vi-rút với kết quả PCR có những kích thước khác nhau. Chúng có tính đặc hiệu cao và không gắn chéo với acid nucleic của các vi-rút khác hay của tôm. Độ nhạy của mRT-PCR là 0.15 pg với IHHNV, 0.15 pg với TSV, 1 pg với HPV, 1.5 pg với MBV, 5 pg với WSSV và 10 pg với YHV. Phương pháp được ứng dụng trên 42 mẫu mô của hậu ấu trùng tôm và gan tụy của tôm sú chọn từ những ao ở miền Trung và Nam Thái Lan từ năm 2002-2005.
Kết quả phát hiện nhiễm đơn là chủ yếu và WSSV chiếm tần số cao nhất tại thời điểm đó. Nhiễm kép được tìm thấy trong một mẫu. Sự phát triển phương pháp mRT-PCR sẽ giúp ích cho việc phát hiện đồng thời 6 vi-rút trên tôm he và nghề nuôi tôm.
Người dịch: Lê Hữu Thôi, Bộ môn Sinh học và Bệnh thủy sản, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
Nguồn tin: Khawsak, P., W. Deesukon, P. Chaivisuthangkura, W. Sukhumsirichart. 2008. Multiplex RT-PCR assay for simultaneous detection of six viruses of penaeid shrimp. Molecular and Cellular Probes 22: 177-183.- By Trieu Thanh Tuan
- 0 comments
- 2 likes
- Thuy Loan Tran and
- Ba Tôm
-
Tính khả thi và những ảnh hưởng đến chất lượng nước, năng suất nuôi kết hợp tôm chân trắng, hàu Thái Bình Dương và nghêu đen trong ao đất được nuôi thí nghiệm trong 9 tháng tại vùng Sorona, tây bắc Mexico. Tôm được nuôi trong hai vụ và động vật thân mềm chỉ nuôi một vụ với 2 mật độ hàu (10 và 16 con/m2), 2 mật độ nghêu (8 và 10 con/m2) và 1 mật độ tôm (30 con/m2).
Kết quả cho thấy hàm lượng TAN và chlorophyll-a thấp đáng kể trong ao ở mật độ nghêu, hàu cao nhất. Trong vụ 1, sau 19 tuần thả nuôi PL-10 (0,002 g), tôm đạt 12,6-14,88 g. Tỷ lệ sống của tôm 48,3-63,1 % và năng suất 1.866-2.665 kg/ha. Trong vụ 2, trọng lượng, tỷ lệ sống và năng suất của tôm cao hơn so với vụ 1 và tương ứng là 12,23-13,26 g; 61,9-67,3 % và 2.271-2.677 kg/ha. Trọng lượng trung bình của hàu sau 6 tháng nuôi 40,2-50,1 g, tuy nhiên tỷ lệ sống thấp 10,7-16,2 % và năng suất chỉ đạt 746-1.014 kg/ha. Tốc độ phát triển của nghêu đen 13,3-14 g (trong cùng thời gian tương tự) với tỷ lệ sống 45,5-50,2 % và năng suất 617-793 kg/ha.
Kết quả cho thấy, mô hình nuôi kết hợp 3 loài thủy sản trên mang tính khả thi cao và các loài động vật thân mềm không gây bất lợi cũng như không ảnh hưởng đến năng suất tôm nuôi. Tỷ lệ sống và năng suất của nghêu cho thấy rất triển vọng trong mô hình này tuy nhiên hàu thì ngược lại.
Người dịch: Ks. Huỳnh Hàn Châu (hhchau@ctu.edu.vn). Bộ môn Kỹ thuật nuôi hải sản, Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ.
Nguồn tin: Luis R. Martinez-Cordova and Marcel Martinez-Porchas, 2006. Polyculture of Pacific white shrimp, Litopenaeus vannamei, giant oyster, Crassostrea gigas and black clam, Chione fluctifraga in pond Sorona, Mexico. Aquaculture 258: 321-326.- By Trieu Thanh Tuan
- 0 comments
- 2 likes
-
Ảnh hưởng của ion Hydrogen đến tỷ lệ nở của trứng tôm càng xanh trong nước mặn đã được nghiên cứu. Trứng tôm càng xanh đã thụ tinh được ấp nhân tạo trong hệ thống chảy tràn. Độ mặn nước ấp trứng thí nghiệm là 12‰, nhiệt độ 30oC, Oxy hòa tan > 5 mg/L, amonia < 0,025 mg/L. Giá trị pH của thí nghiệm thay đổi từ 5–10.
Kết quả thí nghiệm cho thấy tỷ lệ nở của trứng tôm càng xanh rất dễ bị ảnh hưởng bởi nồng độ ion hydrogen trong nước mặn. Ở độ mặn 12‰ với mức pH bằng 7 cho tỷ lệ nở cao nhất là 92,22±1,72%. Ở mức pH bằng 6,5 và 7,5 tỷ lệ nở giảm mạnh lần lượt là 5,00±3,50% và 13,33±2,98%. Trong khi ở mức pH 5,0, 8,0, 9,0 và 10 thì tỷ lệ nở bằng 0%. Nghiên cứu này cho thấy, môi trường nước sử dụng trong các trại sản xuất giống tôm càng xanh cần được duy trì pH= 7. Điều này sẽ làm tăng tỷ lệ nở và giảm số lượng tôm bố mẹ.
Người dịch: Ks. Trần Minh Nhứt (tmnhut@ctu.edu.vn) , BM Kỹ Thuật nuôi Hải sản, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
Nguồn tin: A. T. Law, Y. H. Wong and Ambok Bolong Abol-Munafi,2002. Effect of hydrogen ion on Macrobrachium rosenbergii (de Man) egg hatchability in brackish water. Aquaculture, Volume 214, Number 1, 15 November 2002, pp.247-251(5).- By Trieu Thanh Tuan
- 0 comments
- 1 like
-
Có nhiều bí ẩn ở đại dương hơn là chúng ta có thể thăm dò, ở đây chỉ là một số ít trong số những bí mật của đại dương mà đến nay các nhà khoa học vẫn chưa tìm ra lời giải đáp.
Tam giác Bermuda
Còn gọi là tam giác quỷ. Đây là khu vực thuộc Đại Tây Dương trải rộng 189.518 dặm vuông giữa Melbourne, Florida, Puerto Rico, Bermuda và trở lại Florida, nơi có hàng ngàn con tàu, máy bay và con người biến mất. Mỗi lần điều này xảy ra, không có bằng chứng của dấu hiệu tai họa, nhưng các nhà khoa học khi nghiên cứu hiện tượng này, đã không tìm ra được điều gì để giải thích những bí ẩn. Nhiều người tin có một lực lượng siêu nhiên vượt tầm hiểu biết của chúng ta chịu trách nhiệm cho hơn 1.000 thủy thủ và phi công biến mất. Một số người vẫn từ chối đi vào khu vực này vì sợ rằng họ là nạn nhân biến mất không giải thích được tiếp theo.
Kim tự tháp dưới nước của Nhật Bản
Được phát hiện gần quần đảo Ryukyu ở Nhật Bản, đội hình đá trông giống kim tự tháp đã được cộng đồng học giả tranh luận liệu rằng nó là do con người tạo nên hay có thể là phiên bản tại Châu Á của thành phố Atlantis , hay nó là hiện tượng tự nhiên nơi những tảng đá cát bị nứt vỡ theo những đường giả để tạo ra cấu trúc trông giống do con người xây dựng.
Thành phố Atlantis đã mất
Suốt nhiều nghìn năm, đã có sự tìm kiếm thành phố chìm mất trong biển. Từ thời Plato, khi thành phố đã mất Atlantis được nêu lên, đã có những tranh luận liệu rằng thành phố này từng tồn tại hay không và một nhóm những nhà nghiên cứu đã đưa ra những bằng chứng về vị trí và tính xác thực về sự tồn tại của nó. Nhưng cho tới ngày nay, không ai có thể đưa ra những bằng chứng có tính kết luận dù cách này hay cách khác. Atlantis được coi là cái nôi của nền văn minh và có tầm quan trọng lớn. Có lẽ một ngày nào đó chúng ta có thể biết sự thật về điều này.
Sự biến mất của người Maya
Ở Belize, một đất nước nhỏ bị kẹp giữa Mexico và Guatemala, và đầu tiên do người Anh chiếm hữu, có một hệ thống hang động, nơi là vị trí lặn biển nổi tiếng thế giới, The Blue Hole ( Lỗ Xanh ), được phát hiện. Người Maya tin rằng lối vào hang động là cánh cổng tới cõi âm. Ở đây, bạn có thể bơi vào Hang động của Trinh nữ Pha lê, người thiếu nữ được tin rằng đã được dâng cho vị thần sinh sản và xương còn nằm lại ở đó, được bao bọc bằng pha lê Calcium carbonate, lấp lánh như những mảnh kính nhỏ. Nhưng không ai biết điều gì xảy ra với đất nước Maya. Từ hàng ngàn năm trước cho tới thế kỷ 17, người Maya cai trị một khu vực rộng lớn bao gồm Yucatan, Guatemala, Belize, Honduras và nhiều phần của El Salvador, và sau đó họ biến mất. Đã có rất nhiều lý thuyết được đưa ra về những gì xảy ra cho quốc gia này, nhưng chưa có bằng chứng mang tính kết luận và bí ẩn vẫn còn tồn tại.
Rùa biển
Rùa biển sống ở đâu trong những năm đầu của cuộc đời? Sinh vật này đã tồn tại rất lâu và trong vài thập kỷ vừa qua đã được các nhà khoa học nghiên cứu nhiều lần, vì thế chúng ta xem là đã biết được câu trả lời. Tuy nhiên, cũng giống như chính Bà Mẹ Tự Nhiên, vẫn còn nhiều bí ẩn xung quanh loài rùa đáng yêu và xinh đẹp này. Nếu những gì chúng ta biết về rùa biển được tập trung lại, nó sẽ lấn át những gì chúng ta chưa biết. Số lượng của chúng suy giảm đáng kể và mong muốn bảo tồn loài rùa biển là những gì dẫn dắt chúng ta cố phát hiện ra câu trả lời nơi nào những con rùa biển sống trong những năm đầu đời vì đây là giai đoạn chúng dễ bị tổn thương nhất.
Nguồn: Blog Biển và Người.- By Trieu Phu
- 0 comments
- 3 likes
-
Chất lượng tôm giống là yếu tố quan trọng có ý nghĩa quyết định đến tỉ lệ hao hụt, năng suất và hiệu quả kinh tế của các mô hình nuôi tôm càng xanh. Nếu con giống tôm càng xanh kém chất lượng như: kích cỡ không đều, bơi lội yếu, bị xây xát hoặc gãy chân do bị đánh bắt hoặc có nhiều mầm bệnh, vỏ mềm do mới lột xác sẽ dẫn đến tỉ lệ hao hụt rất cao ngay từ khi vận chuyển đến địa điểm thả nuôi và sẽ cho năng suất khi thu hoạch kém, dù các yếu tố khác như môi trường nước, thức ăn, phòng bệnh … đều thoả mãn nhu cầu kĩ thuật trong suốt quá trình nuôi.
Với mục đích hỗ trợ bà con ngư dân trong việc chọn con giống, góp phần hạn chế một trong nhiều nguyên nhân dẫn đến thất bại trong quá trình nuôi tôm càng xanh, chúng tôi xin giới thiệu một số phương pháp để chọn con giống tôm càng xanh bảo đảm chất lượng.
1. Chọn tôm đều cỡ
- Tôm giống phải có chiều dài tương đối đều nhau, tiêu chuẩn tôm giống phải từ 3 – 5 cm (trong trường hợp chọn từ tôm post thì tôm post phải được nuôi trong môi trường nước ngọt hoàn toàn, không có tôm bơi ngửa và chiều dài từ 1 – 2 cm).
- Trong trường hợp trong đàn tôm giống chọn nuôi có một số ít tôm lớn hơn hoặc nhỏ hơn so với chiều dài bình quân của số lượng tôm dự tính chọn nuôi, thì số lượng tôm có kích thước lớn hơn hoặc nhỏ hơn không quá 10 %.
2. Chọn tôm khỏe
- Bắt một con tôm giống, khoảng 80 – 100 con cho vào một cái chậu nhựa có nước cao 7 – 10cm, dùng tay quay tròn nước trong chậu. Tôm khoẻ sẽ bơi ngược dòng nước, đuôi xoè hoặc bám vào thành đáy thau. Tôm yếu sẽ bị trôi theo chiều nước hoặc tập trung ở giữa chậu. Ðàn tôm dự tính đước nuôi được coi là tôm khoẻ khi số lượng tôm được coi là tôm khoẻ khi số lượng tôm bị trôi theo chiều nước hoặc tập trung ở giữa chậu chiếm ít hơn 5% trên số lượng tôm kiểm tra.
- Bà con có thể bắt một ít tôm như trên thả vào dung dịch có pha Formol với nồng độ 100ppm (pha 1ml Formol trong 10 lít nước sạch) sau 2 giờ, số lượng tôm chết ít hơn 5% trên tổng số tôm kiểm tra, chứng tỏ đàn tôm nuôi là khoẻ mạnh.
- Mặt khác, cần lưu ý một số yếu tố để chọn tôm khoẻ như:
+ Tôm khoẻ phải không bị dị hình, còn đủ chân, càng, râu.
+ Tôm khoẻ lúc nào đôi râu cũng xếp song song nhau, tôm yếu đôi râu hình chữ V.
+ Tôm khoẻ thì dạ dày (nằm phía trên đầu) có chứa thức ăn và đường ruột vẫn còn thức ăn và được biểu hiện là đường chỉ có màu nâu, liền nhau, không bị đứt đoạn chạy dọc theo thân).
+ Tôm khoẻ thì bơi lội nhanh nhẹn và khi tắt sục khí, tôm sẽ bung mình lên khỏi mặt nước.
3. Chọn tôm không bị bệnh
- Tôm khoẻ thân thường có màu xanh trong, phần vỏ và phần chân tôm không có những đốm nâu đen hoặc vàng xám, trên thân vỏ và phần đuôi không có chỗ bị ăn mòn hoặc khuyết sâu.
- Tôm bệnh thường có màu trắng đục, mang có đốm đen, phần vỏ và chân có nhiều chấm nhỏ màu nâu đen hoặc xám vàng và bị đóng rong. Tôm bệnh thường bơi lội và phản ứng chậm.
- Ngoài ra bà con cần lưu ý:
+ Tôm càng xanh thường dễ lột xác sau khi đánh bắt và thay đổi môi trường nước, do đó nếu mua tôm giống ươn trong ao thì nên vận chuyển tôm giống về địa điểm nuôi thả sau khi kéo lưới thu hoạch và trữ trong vèo lưới có sục khí từ 12 – 14 giờ, để tránh hao hụt trước và sau khi thả tôm.
+ Khi chọn mua tôm giống nên mua những con giống từ những trại tôm và những cơ sở có uy tín và cung ấp con tôm giống có chất lượng để khi mua,b à con không bị thiệt thòi trong quá trình đong đếm và bị ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế do tôm không đạt chất lượng, hao hụt nhiều trong quá trình nuôi dưỡng.
Nguồn: Sở NN & PTNT Đồng Tháp.- By Truong Huynh Nhu
- 0 comments
- 2 likes
-
Cá mặt cáo có tên khoa học là Siganus vulpinus, thuộc giống Siganus, họ Siganidae. Cá mặt cáo thường sống ở các rạn san hô ở Tây Thái Bình Dương.
Chúng có kích thước trung bình với những đường sọc màu rắng và nâu đen trên đầu và phần phía trước. Chúng có cái mũi kéo dài tới miệng nhìn giống như "mặt con cáo" giúp chúng ăn các loại thực vật thân mềm và tảo. Cá mặt cáo là một loài cá cảnh nước mặn phổ biến bởi vẻ đẹp hấp dẫn của nó.
© Triệu Thanh Tuấn, www.aquanetviet.org.- By Trieu Thanh Tuan
- 0 comments
- 3 likes
-
Giống rượu gin và nước khoáng mà không có chanh, như Hendrix không có cây đàn guitar, sushi sẽ không là sushi nếu không có nước tương Nhật Bản.
Có thể bạn ít chú ý đến những cái chai nhỏ vui mắt có nắp màu đỏ sáng, nhưng đối với nhiều người, nước tương là cả một ngành kinh doanh nghiêm túc, thậm chí xứng đáng thực hiện một chuyến hành hương về cội nguồn Yuasa của nó.
Một chuyến du hành trên tàu dài 40 phút từ thành phố Wakayama (100 cây số phía nam Osaka), thị trấn nhỏ Yuasa là quê hương của loại gia vị lên men này.
Tình cờ đây cũng là nơi tuyệt vời để thăm lại giai đoạn Edo lịch sử của Nhật Bản (1603 – 1868).
Khoảng 750 năm trước, một nhà sư Nhật bản đến Yuasa sau một chuyến đi đến Trung Hoa, mang theo cùng ông một kỹ năng làm miso mới phát hiện. Nước tương được phát hiện tình cờ – một sản phẩm phụ từ quá trình chế biến miso. Từ đó, Yuasa trở thành trung tâm sản xuất nước tương quan trọng nhất của nước này.
Mặc dù chỉ là một thị trấn nhỏ chỉ với khoảng chừng 1000 căn nhà, đã có lúc nó chật cứng với hơn 90 cữa hàng nước tương, gần như mười nhà thì có một cữa hàng.
Ngày nay, toàn bộ thị trấn được bảo vệ theo luật Nhật Bản – toàn bộ trong số 323 căn nhà và 4 biệt thự truyền thống khác (gồm cả 4 hãng đóng chai nước tương) được ghi nhận giá trị văn hóa to lớn của nó.
Được gọi là “hongawara”, một số trong những căn biệt thự cổ nhất đã tồn tại 400 năm. Nhiều căn vẫn còn những cữa sổ rèm truyền thống và những mái ngói cong.
Rất thanh bình và yên tĩnh, Yuasa thuộc kiểu thị trấn nơi những cư dân thân thiện thường chuyện trò với hàng xóm và các viện bảo tàng và cửa hàng thường để mở và không cần bảo vệ.
Du khách có thể mượn xe đạp hay đi bộ để viếng thăm những khu vực lịch sử của thị trấn. Ngoài ngành đóng chai nước tương cổ xưa, có nhiều lăng mộ và những công trình kiến trúc hấp dẫn khác đáng để khoe khoang trên Facebook.
Nguồn: Blog Biển và Người.- By Trieu Phu
- 0 comments
- 3 likes
-
Loài rồng xanh, còn có tên là ốc sên biển xanh, hay có tên khoa học là Glaucus Atlanticus này trông giống như một chiếc trâm cài áo. Chúng dành phần lớn thời gian cuộc đời mình trôi nổi trong làn nước xanh của Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Thứ khiến chúng có thể nổi được trên mặt nước chính là những quả bóng không khí ở dưới bụng.
Tuy có cuộc sống khá “nhàn hạ” nhưng loài vật này không hoàn toàn vô hại. Loài động vật không xương sống, chỉ dài 3 cm này lại có một thực đơn “quái đản”. Nó ăn những động vật cực độc như sứa biển, đặc biệt là loài Portugese Man-O’-War, một loài được biết đến với “chiến tích” giết người và để lại những vết chích cực kỳ đau đớn.
Glaucus có thể nuốt trọn con sứa này mà không hề đau đớn, bởi dưới lớp da của loài này có chứa những chiếc đĩa, có tác dụng như những barrier, và tiết ra những chất nhầy để bảo vệ rồng xanh khỏi tác động của những cú chích này.
Không chỉ có khả năng tự bảo vệ bản thân khỏi chất độc, nó có thể dự trữ lượng chất độc này để sử dụng sau. Chất độc được “cất” trong những “ngón tay” gắn liền với cơ thể. Rồng xanh có khoảng 84 “ngón tay” như thế.
Khi không có đủ thức ăn, nó có thể ăn bất cứ thứ gì để tồn tại. Các nhà khoa học cho rằng loài rồng xanh Glaucus này còn độc hơn cả sứa Man-O’-War.
Loài này có thể đánh lừa kẻ thù bằng cách ngụy trang. Cơ thể chúng có những mảng màu xanh sáng và tối để giúp chúng ngụy trang được khi đang trôi nổi trên những con sóng đại dương.
Tuy thuộc họ động vật thân mềm nhưng loài này hoàn toàn không hề có vỏ. Nó được phát hiện lần đầu vào thế kỷ 17.
Rồng xanh là loài lưỡng tính. Khi giao phối, cả 2 con đều đẻ trứng. Chúng đẻ trứng lên những mẩu gỗ trôi trên biển hoặc trên xương của kẻ thù.
Khi bị đưa lên khỏi mặt nước, loài này có xu hướng cuộn tròn người lại cho đến khi trở lại với môi trường nước.
Nguồn: kienthuc.net.vn- By Trieu Phu
- 0 comments
- 3 likes
-
Giới khoa học ghi danh tài tử phim "Cướp biển Caribe", Johnny Depp bằng cách lấy tên anh đặt cho một loài sinh vật đã tuyệt chủng.
Sinh vật này có móng vuốt "nhìn giống như kéo" gợi nhớ tới một trong những vai diễn nổi tiếng nhất của ngôi sao này.
Loài Kooteninchela Deppi tồn tại từ 505 triệu năm trước. Chúng là tổ tiên của những bọ cạp, tôm hùm ngày nay theo kết quả công bố của nhật báo Cổ sinh học.
Trong sự nghiệp, Johnny Depp từng vào vai quái nhân có bàn tay làm bằng kéo trong "Edward Scissorhands" (1990) và có sự tương đồng với Kooteninchela.
Nhà nghiên cứu David Legg, trường đại học London tuyên bố qua một thông cáo hôm 16/5: "Khi lần đầu tiên tôi nhìn thấy móng từ các bản hóa thạch của sinh vật này, tôi đã ngay lập tức nghĩ tới Edward Scissorhands".
"Và thực tế thì tôi cũng là một fan của Depp, do vậy còn cách nào tuyệt hơn để vinh danh người đàn ông này hơn là làm anh bất tử với tư cách một sinh vật cổ xưa từng du ngoạn biển cả", David Legg nói.
Từ "chela" trong cái tên Kooteninchela có nghĩa là "móng" hoặc "kéo" trong tiếng Latin. Loài này dài khoảng 4 cm và sống ở vùng biển Canada, đây có lẽ từng là một loại săn mồi và sử dụng móng để kiếm ăn.
"Kooteninchela deppi đang giúp đỡ các nhà nghiên cứu gắn lại những thông tin về cuộc sống trái đất kỷ Cambri khi mà gần như mọi sinh vật hiện tại đang bắt đầu sản sinh, tiến hóa lúc đó".
Cũng theo Legg, loài Kooteninchela deppi là tổ tiên của dòng sinh vật chân khớp và có liên quan tới những loài ngày nay như nhện, bọ cạp, rết, côn rùng và cua.
"Hãy thử tưởng tưởng con tôm mà bạn đang phết mayonnaise (một loại sốt thức ăn) lên, con nhện bò trên tường và cả con ruồi đang bay vào cửa sổ nhà bạn, tất cả đều là hậu duệ của Kooteninchela deppi", David Legg nói.
Nguồn: Vietnam Plus- By Trieu Phu
- 0 comments
- 3 likes
-
Bệnh dịch là khó khăn chính trong việc nuôi tôm thâm canh. Những điều kiện trong ao nuôi thường là thuận lợi cho bệnh dịch phát triển và hàng loạt các bệnh dịch chưa được biết đến trước đây đã và đang xuất hiện trên tôm gây ra thiệt hại lớn. Một khi việc loại bỏ, trừ tận gốc hoặc kiểm soát môi trường nuôi là rất khó khăn thì vấn đề sinh sản có chọn lọc một số dòng tôm kháng bệnh có lẽ là một lựa chọn hấp dẫn để kiểm soát dịch bệnh.
Tuy nhiên, tôm kháng bệnh không phải là tôm có thể kháng mọi loại bệnh tật và nó nên được xem xét đối với:
1. Bệnh gây chết hang loạt
2. Bệnh không có thuốc chữa trị
3. Bệnh không liên quan đến di truyền trong bộ gene của tôm
Tôm biển kháng bệnh mới được gia hóa và thực hiện sinh sản từ giữa những năm 90 cho nên còn rất nhiều hạn chế về kinh nghiệm cho sinh sản nhân tạo ở tôm nói riêng và giáp xác nói chung. Do đó các nguyên tắc và khái niệm sử dụng trong các chương trình sinh sản chọn lọc chủ yếu dựa trên nền tảng kinh nghiệm của các loài khác đã được làm ở ngành thực vật và động vật. Người nuôi tôm thương phẩm hiện tại đã thả giống với dòng tôm được lai tạo có khả năng kháng bệnh virus hội chứng Taura và thu được kết quả khả quan. Hiện nay người ta cũng đang cố gắng phát triển một dòng tôm kháng bệnh đốm trắng và đây là một mục tiêu rất khó nắm bắt. Dòng tôm gốc kháng bệnh Taura được phát triển bằng kỹ thuật chọn giống đại trà đơn giản (Colombia) và ở các thể hệ tiếp theo việc chọn giống dựa trên nguồn gốc cha mẹ (gia đình) được áp dụng cho quần thể, thường là với khỏang 30% tỷ lệ sống.
Trong quá trình chọn giống, tránh việc lai cận huyết và mất đi sự biến động về di truyền trong bộ gene. Điều này cho thấy rằng khi quần thể gốc có một mức độ kháng bệnh nào đó thì tiếp theo các bước chọn giống sẽ có hiệu quả và khá là đơn giản để cho sinh sản dòng tôm kháng bệnh. Với những bệnh gây tai họa như bệnh đốm trắng (WSSV), tôm nuôi chết đến 98% hoặc hơn thì tần suất kháng bệnh thường thấp và người ta cho rằng về mặt lý thuyết, khả năng kháng bệnh do một gene quy định hơn là đa gene. Tần suất thấp của các gene kháng bệnh trong quần thể cho sinh sản có thể dẫn đến những nút thắt về di truyền và điều này làm giảm đi sự biến động về di truyền trong bộ gene của quần thể. Để có thể duy trì sự biến động này từ một số lượng rất nhỏ cá thể sống sót, một gene khác có thể được đưa vào gene của quần thể để tạo ra khả năng biến động di truyền rộng hơn. Hơn nữa để giảm thiểu khả năng mất đi của tính kháng bệnh theo hình tháp của gene kháng bệnh trên những địa điểm khác nhau của gene (loci) cũng sẽ là một lợi thế.
Sự biến động về di truyền trong gene kháng bệnh có thể gặp hoặc là trong các quần thể gốc ban đầu hoặc là đồng thời phát sinh do đột biến gene hoặc sự kết hợp của một tổ hợp mới. Với một loài đặc biệt mắn đẻ như tôm, hàng nhiều triệu con có thể được chọn lọc để có tỷ lệ sống và qua đó gene đột biến hoặc là tái tổ hợp có thể được xác định. Khi mà sự biến động về di truyền được khám phá thì phương pháp sinh sản thích hợp nhất sẽ phụ thuộc vào bản chất của cả hai: kháng bệnh và bệnh hoặc là các bệnh mà người nuôi quan tâm.
Người dịch:Ths. Nguyễn Thị Hồng Vân (nthvan@ctu.edu.vn), TT Ứng dụng và chuyển giao công nghệ TS, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
Nguồn tin: James Cock, Thomas Gitterle, Marcela Salazar và Morten Rye. Breeding for disease resistance of Penaeid shrimps. 2009. Aquaculture 286 (2009) 1–11.- By Trieu Thanh Tuan
- 0 comments
- 2 likes
-
Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của việc kiểm soát tỷ lệ C/N trong các ao nuôi tôm càng có và không có giá thể cho tảo bám phát triển lên năng suất tôm nuôi.
Các tỷ lệ C/N là 10, 15 và 20 được bố trí trong các ao nuôi có diện tích 40m2 (có và không có giá thể cho tảo bám phát triển) và được thả nuôi tôm càng (trọng lượng 5.023±0.02 g) với mật độ 2 con/m2. Các nghiệm thức được kết hợp nhiều tỷ lệ C/N khác nhau với việc để và không để giá thể được ký hiệu tắt là ‘CN10’, ‘CN15’, ‘CN20’, ‘CN10+P’, ‘CN15+P’ and ‘CN20+P’, với P thể hiện là ao có để giá thể. Trong quá trình nuôi, một loại thức ăn viên địa phương có hàm lượng protein thô là 30% và tỷ lệ C/N là 10 được sử dụng làm thức ăn cho tôm. Bột khoai mì được sử dụng như là nguồn Carbonhydrate để điều chỉnh tỷ lệ C/N và nó được rải vào ao riêng biệt với thức ăn của tôm.
Tăng tỷ lệ C/N từ 10 lên 20 sẽ làm giảm lượng TAN, NO2-N, NO3-N trong môi trường ao nuôi và tổng đạm Kjeldahl (TKN) trong nền đáy ao nuôi (P<0.001). Việc thả thêm giá thể vào ao chỉ ảnh hưởng tới hàm lượng NO2-N trong nước (P<0.001). Tăng tỷ lệ C/N kéo theo việc gia tăng quần thể vi khuẩn dị dưỡng (THB) trong nước, nền đáy và tảo bám (P<0.01). Nó cũng làm tăng vật chất hữu cơ khô (DM), tro không từ vật chất hữu cơ khô (AFDM) và hàm lượng Chlorophyla của tảo bám (P<0.001). Tốc độ tăng trưởng đặc biệt (SGR) thấp nhất, hệ số thức ăn (FCR) cao nhất và tỷ lệ sử dụng protein thấp nhất (PFR) được ghi nhận ở nghiệm thức CN10 (P<0.05).
Việc thêm vào giá thể không ảnh hưởng đến kích thước của tôm khi thu hoạch (P>0.05) nhưng đã cải thiện tỷ lệ sống từ 62.8% lên 72% (P<0.001). Việc tăng tỷ lệ C/N từ 10 lên 20 làm tăng năng suất thực (net yield) lên 40% và thả thêm giá thể làm tăng thêm 23%. Sự kết hợp giữa các tỷ lệ C/N và thả giá thể khiến năng suất thực tăng lên thêm 75% (từ 309 (CN10) lên 540 (CN20+P)kg/ha sau 120 ngày nuôi). 75% năng suất tăng thêm này xuất phát từ: (1) hàm lượng N vô cơ thấp hơn và (2) mật độ vi khuẩn dị dưỡng cao hơn đã cung cấp một nguồn protein từ các tế bào vi khuẩn này làm tăng năng suất tôm, cuối cùng (3) năng suất và chất lượng tảo bám được cải thiện.
Người dịch:Ths. Nguyễn Thị Hồng Vân (nthvan@ctu.edu.vn), TT Ứng dụng và chuyển giao công nghệ TS, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
Nguồn tin: M. Asaduzzaman, M.A. Wahab, M.C.J. Verdegem, S. Huque, M.A. Salam, M.E. Azim. 2008. C/N ratio control and substrate addition for periphyton development jointly enhance freshwater prawn Macrobrachium rosenbergii production in ponds. Aquaculture 280 (2008) 117–123.- By Trieu Thanh Tuan
- 0 comments
- 2 likes
-
Nhóm cá hồi, cá bơn và tôm he là những loài quan trọng trong sản xuất giống, ương và nuôi biển ở Nhật Bản. Bệnh do virus là một trong những nguyên nhân làm ảnh hưởng đến mức độ thành công trong sản xuất giống của các loài trên.
Các phương pháp hiện đang được sử dụng để hạn chế bệnh do virus là: (i) vệ sinh các dụng cụ sử dụng, (ii) vô trùng dụng cụ ương và xử lý nước thải bằng tia cực tím, ozon và điện phân, (iii) chọn các cá thể bố mẹ sạch bệnh (sử dụng kháng thể đặc hữu chống các mầm bệnh nguy hiểm bằng ELISA và hệ gen virus bằng PCR), (iv) giám sát tình trạng sức khỏe cá ương bằng các phương pháp miễn dịch và sinh học phân tử, (v) bổ sung vi khuẩn vào thức ăn để gián tiếp tạo ra các chất kháng virus, (vi) điều khiển nhiệt độ.
Với những phương pháp nêu trên, kết quả đã thu được những cá thể cá và tôm khỏe và sạch bệnh. Tuy nhiên, chúng vẫn có khả năng nhiễm bệnh từ mầm bệnh trong nước khi đưa đến vùng nuôi (ao hoặc bè). Những nghiên cứu tiếp theo cần phát triển các loại vaccine hiệu quả cũng như các loại máy tiêm vaccine và các công cụ trong miễn dịch học để đánh giá mức độ ảnh hưởng của vaccine là cần thiết.
Người dịch: Ts. Phạm Minh Đức (pmduc@ctu.edu.vn) và Ks. Trần Ngọc Tuấn, BM Sinh học và Bệnh Thủy sản, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
Nguồn tin: Mamoru Yoshimizu. 2009. Control Strategy for Viral Diseases of Salmonid Fish, Flounders and Shrimp at Hatchery and Seed Production Facility in Japan. Fish Pathology Volume 44, Issue 1, Pages 9-13.- By Admin
- 0 comments
- 2 likes
-
Nghiên cứu này được tiến hành nhằm thu được cơ sở dữ liệu mô tả giá trị dinh dưỡng của quần thể động vật nổi trong môi trường nước ngọt để mở rộng việc sử dụng cho ấu trùng cá và phát triển trong việc ương nuôi cá nước ngọt.
Thành phần các chất dinh dưỡng của động vật nổi hỗn hợp được thu từ 6 ao đất có bón phân được phân tích protein, lipid, carbohydrate và chất tro và các hàm lượng này biến động lần lượt là 73-79%, 10,79-14,55%, 3-4,79% và 3,20-10,07% được tính dựa trên vật chất khô (DM). Thành phần các amino acid cho thấy có sự hiện diện của tất cả 10 amino cid thiết yếu với hàm lượng methionine thấp. Hàm lượng các acid béo no (SAFA), các acid béo đơn phân tử chưa no (MUFA) và các aid béo đa phân tử chưa no (PUFA) dao động lần lượt từ 64-81%, 7-15% và 6-20% trên tổng các acid béo. Các acid béo có hàm lượng cao hơn đó là SAFA (16:0), MUFA (18:1n-9), PUFA như là acid linoleic (LA 18: 2n-6) và acid linolenic (LNA 18:3n-3). Trong số các Vitamin thì acid ascorbic (15-40,01µg/gDM) ít hơn so với nhu cầu của cá, đặc biệt là cá giai đoạn ấu trùng, vitamin A (13,61-63,95 µg/gDM) và vitamine E (218-348 µg/gDM) thì nhiều hơn so với nhu cầu của cá. Hàm lượng khoáng chất và các yếu tố vi lượng gồm có P, Ca, Fe, Cu, Zn và Mn.
Biến động theo mùa của tất cả các thành phần sinh hóa đã được đánh giá trong nghiên cứu. Vitamin E cùng có sự tương quan mạnh mẽ (r1 = 0,72; r2 = 0,88; r3 = 0,83; r4 = 0,86; r5 = 0,36 và r6 = 0,88) với sự biến động theo mùa của hàm lượng lipid của động vật nổi ở các ao khác nhau và biến động ngược lại với sự gia tăng nhiệt độ. Hàm lượng enzyme của quần thể động vật nổi hỗn hợp gồm có protease (6,21-7,92 µg leucine/mg protein/h), lipase (25,82-39,1 µg α-naphthol/mg protein/h) và men amylase (100-226,1 µg maltose /mg protein/h), hàm lượng enzyme này có thể được sử dụng như là nguồn enzyme tiêu hóa ngoại sinh cho cá và nhóm shellfish trong suốt giai đoạn phát triển. Không có sự hiện diện của hoạt chất l-gulonolactone γ-oxidase cho thấy động vật nổi không có khả năng tổng hợp acid ascorbic (AA). Trọng lượng khô trung bình của động vật nổi ở các ao khác nhau dao động từ 1,2-4,2 mg/l và các loài động vật nổi xuất hiện trong các ao đó là Moina (Moina dubia); Daphnia (Daphnia lumholtzi, Daphnia carinata); Cyclops (Mesocyclops hyalinus, Mesocyclops leuckarti); Diaptomus (Heliodiaptomus viddus, Neodiaptomus handeli); Rotifer (Brachionus).
Kết quả này cho thấy thành phần sinh hóa và giá trị dinh dưỡng của động vật nổi đã được xác định về mặc di truyền học và bị ảnh hưởng bởi giai đoạn thành thục và loại thức ăn của chúng. Các dữ liệu này có thể giúp cho việc tham khảo và chuẩn bị công thức thức ăn để tìm ra giá trị dinh dưỡng của động vật nổi nước ngọt trong quá trình ương nuôi cá nước ngọt giai đoạn ấu trùng và tiền trưởng thành.
Người dịch: Ths. Nguyễn Thị Kim Liên (ntklien@ctu.edu.vn), BM Thủy sinh học ứng dụng, Khoa Thủy Sản, Trường Đại học Cần Thơ.
Nguồn tin: Gopa Mitra, P.K. Mukhopadhyay, S. Ayyappan. 2007. Biochemical composition of zooplankton community grown in freshwater earthen ponds: Nutritional implication in nursery rearing of fish larvae and early juveniles. Aquaculture, Volume 272, Issues 1-4, 26 November 2007, Pages 346-360.- By Trieu Thanh Tuan
- 0 comments
- 2 likes