• Sign In
  • Create Account
Sign In
Create Account
Vietnam Aquaculture Network
  • News Feed
  • Hot Topics
  • Top Rated
  • Categories
    • Everything (1107)
    • Aquaponics (9)
    • Công nghệ Bioflocs (24)
    • Bệnh học thủy sản (198)
    • Nuôi trồng thủy sản (100)
    • Động vật thủy sinh (286)
    • Sản xuất giống thủy sản (97)
    • Dinh dưỡng thủy sản (65)
    • Sinh lý cá và giáp xác (49)
    • Quản lý chất lượng nước (51)
    • Thuốc & hóa chất thủy sản (65)
    • Sự kiện thủy sản (3)
    • Thực vật thủy sinh (26)
    • Khai thác, chế biến, xuất khẩu (43)
    • Chuyên mục khác (89)
  • Members
  • Hệ miễn dịch của tôm
    Giới thiệu

    Nuôi tôm họ Penaeid là một trong những hoạt động kinh tế quan trọng trên thế giới. Tuy nhiên, sản lượng tôm nuôi thường bị ảnh hưởng bởi bệnh đặt biệt là bệnh do tác nhân virus (Flegel, 2006) và vi khuẩn Vibrio (Bachère, 2000). Khả năng chống chọi của tôm đối với các tác nhân gây bệnh chủ yếu dựa vào hệ miễn dịch. Cơ chế bảo vệ ở giáp xác thì không phát triển bằng cá và các động vật có xương sống khác (Hình 1). Quan trọng hơn ở giáp xác không có các tế bào có khả năng ghi nhớ. Nói một cách khác chúng không có khả năng sản xuất immunoglobins. Vì vậy cơ chế bảo vệ ở giáp xác phụ thuộc chủ yếu vào hệ thống bảo vệ bẩm sinh. Hiểu rõ cơ chế bảo vệ ở tôm kết hợp với các biện pháp khác giúp tăng cường khả năng quản lý bệnh ở tôm. Thật vậy, có rất nhiều biện pháp khác nhau nhằm tìm hiểu về sức khỏe/tình trạng bệnh của giáp xác bao gồm đánh giá hệ miễn dịch đặt biệt là các chỉ tiêu sinh lý như là hàm lượng protein trong huyết tương, tế bào máu tổng cộng, hoạt động phenoloxidase, việc sản sinh ra các gốc tự do, hoạt động thực bào, và cả những chỉ tiêu khác bao gồm kiểm tra dưới điều kiện stress, tỉ lệ sống, và tăng trưởng, có thể xem đây là một trong những yếu tố chỉ thị để đánh giá hệ miễn dịch của tôm (Rodriguez y Le Moullac, 2000). Mục đích của báo cáo này nhằm xem xét một vài đặt điểm quan trọng trong cơ chế bảo vệ của tôm.

    9066929864_0fe4418f25_o.jpg
    Hình 1: Hệ miễn dịch của động vật có xương sống (A) và không xương sống (B)

    Cơ chế bảo vệ của tôm

    Cơ chế bảo vệ bẩm sinh hay còn gọi là tự nhiên hay cơ chế bảo vệ không đặt hiệu bao gồm cả tế bào và thể dịch (Hình 2), cả hai hoạt động cùng với nhau giúp cho sự đào thải hay loại bỏ các sinh vật ngoại lai gây nguy hại đến vật chủ (Jiravanichpaisal et al., 2006). Cơ chế miễn dịch tế bào bao gồm tất cả các hoạt động được thực hiện bởi tế bào máu (thực bào, bao bọc mầm bệnh, hình thành các khối u). Mặt khác, miễn dịch thể dịch bao gồm sự hoạt hóa và sản sinh các phân tử dự trữ trong tế bào máu như là các protein chống đông máu, các chất kháng thể, men phenoloxidase, các peptide kháng khuẩn, và các chất ức chế men protease (Jiravanichpaisal et al., 2006; Holmblad and Sõderhãll, 1999).

    9064702521_f024c79902_o.jpg
    Hình 2. Các thành phần tế bào và thể dịch của hệ thống miễn dịch của giáp xác

    Chức năng của hệ miễn dịch ở giáp xác

    Hoạt động của lớp vỏ chitin là hàng rào vật lý đầu tiên, và nó bao gồm các chất kháng khuẩn bề mặt (Sõderhãll and Cerenius, 1992). Khi tác nhân gây bệnh vượt hàng rào vật lý bảo vệ bên ngoài của cơ thể, thì tế bào máu đóng một vai trò rất quan trọng trong đáp ứng miễn dịch ở giáp xác. Để ức chế khả năng hoạt động của các vi sinh vật xâm nhập, tế bào máu cũng tham gia vào các quá trình sinh lý khác như là làm xơ cứng lớp vỏ bên ngoài, làm lành sự hủy hoại lớp chitin, vón cục, quá trình trao đổi carbohydrate, sự vận chuyển và dự trữ các acid amin/protein (Jiravanichpaisal et al., 2006).

    Tế bào máu được phân loại dựa vào sự hiện diện và kích thước của 3 loại tế bào dạng hạt bên trong tế bào chất: không hạt (hyaline), bán hạt (semi-granular), và có hạt (granular) (Hình 3). Mặc dù tỉ lệ và thành phần của tế bào máu thay đổi giữa các loài, nhìn chung các tế bào bán hạt và có hạt làm nhiệm vụ sản xuất melanin bởi cơ chế pro-phenoloxidase (Johansson y Sõderhãll, 1989). Mặc khác, các tế bào không hạt và một lượng rất nhỏ các tế bào bán hạt tham gia vào quá trình thực bào (Giulianini et al., 2007).

    9064702613_2b64f2ed6c_o.jpg
    Hình 3: Phân loại tế bào máu: (A) không hạt, (B) bán hạt, và (C) có hạt

    Nhận diện tác nhân gây bệnh

    Bước đầu tiên của quá trình miễn dịch là nhận diện các vi sinh vật. Quá trình này được thực hiện bởi các tế bào máu nhờ vào các phân tử giúp nhận diện ra cấu trúc màng tế bào của các vi sinh vật xâm nhập, thông qua sự gắn kết protein, và cả bởi sự nhận diện của β-1,3 glucans, lipopolysaccharides, và peptidoglycans (Lin et al., 2006; Vargas-Albores and Yepiz-Plascencia, 2000). Khi vi sinh vật lạ xâm nhập bị nhận ra, tế bào máu đóng vai trò hoạt hóa và kéo theo là hàng loạt các cơ chế nhằm kiểm soát và loại bỏ tác nhân xâm nhập một cách nhanh chóng.

    Hoạt động của men Phenoloxidase

    Hệ thống phenoloxidase được biết như là một cơ chế bảo vệ hiệu quả của cơ thể chống lại các kháng nguyên từ bên ngoài. Cơ chế này hoạt động chủ yếu dựa vào tế bào bán hạt và tế bào có hạt, và nó có thể được kích hoạt bởi số lượng rất nhỏ của các tế bào. Kết quả của quá trình hoạt hóa này là hiện tượng melanin hóa, khác với các cơ chế bảo vệ khác là sự hình thành các đốm đen để bất hoạt, bao bọc các vi sinh vật lạ xâm nhập, ngăn cản sự bùng phát bệnh trên vật chủ và góp phần tái tạo vỏ chitin mới (Sritunyalucksana and Sõderhãll, 2000).

    Các gốc ion tự do và cơ chế chống oxy hóa

    Sự phá hủy trong quá trình thực bào bao gồm sự sản xuất các gốc ion tự do bên trong tế bào. Trong suốt quá trình tìm kiếm và nhận diện tác nhân gây bệnh, emzyme của vật chủ như NADPH-oxidase được kích hoạt, chúng làm tăng tiêu hao oxy, kết quả của quá trình này là làm tăng các gốc ion tự do như là superoxidaxe anion (O2-) và hydrogen peroxide (H2O2) (Munxoz et al., 2000; Rodríguez and Le Moullac, 2000). Những gốc ion tự do này có thể trực tiếp tiêu diệt các vi sinh vật xâm nhập hoặc hoạt động kết hợp với các phức hợp nitrogen (nitro oxide), hoặc bổ trợ cho hoạt động của lysozymes (Roch, 1999).

    Tuy nhiên, các gốc ion tự do không thể phân biệt được tế bào của vật chủ và các vi sinh vật, vì vậy trong một vài trường hợp có thể gây hại đến các ngoại bào. Trong điều kiện bình thường, sự phá hủy của các ion tự do bởi các cơ chế như là các phân tử oxy hóa như acid ascorbic, các chuỗi acid béo không no, và các emzyme oxy hóa (superoxide dismutase, các men peroxidase khác) (Dandapat et al., 2003); Campa Córdova et al., 2002.)

    Thực bào, bao bọc mầm bệnh và hình thành nên các khối u

    Thực bào là một trong những cơ chế miễn dịch đặt hiệu của miễn dịch tế bào. Quá trình này được nhận định là sự tiêu hóa và phá hủy tác nhân gây bệnh xâm nhập, các tế bào ngoại lai và cả sự thay thế các tế bào già bởi tế bào mới (Secombes, 1996).

    9064702541_db29c67115_o.jpg
    Hình 4: Quá trình bảo vệ tế bào bao gồm: (A) thực bào, (B) Bao bọc mầm bệnh, và (C) hình thành nên các khối u. Tế bào máu có màu xanh lá cây, vi sinh vật xâm nhập màu đỏ.

    Quá trình bao bọc mầm bệnh và hình thành nên các khối u (Hình 4) được diễn ra bởi sự kết hợp của nhiều loại tế bào máu với mục đích là làm mất khả năng hoạt động của các vi sinh vật xâm nhập khi vật chủ bị tấn công nhằm tiêu hóa và sau đó phá hủy bởi những tế bào riêng lẻ (Sõderhãll and Cerenius, 1992).

    © Trương Huỳnh Như, www.aquanetviet.org
    Nguồn: Franklin S. Martínez. 2007. The immune system of shrimp. Nicovita-ALICORP SAA Technical Service. July - September 2007, (fmartinezt@alicorp.com.pe).
    • By Truong Huynh Nhu
    • 0 comments
    • 5 likes
    • 4 hours ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Truong Huynh Nhu
    • Admin and
    • 2 others
  • Lươn phát sáng có thể giúp cứu mạng sống con người
    Ở Nhật Bản có một loại lươn nước ngọt có thể phát sáng, tên hay gọi là Unagi và tên khoa học là Anguilla japonica. Những người thích ăn sushi vẫn thường hay ăn con này, tuy nhiên, không nhiều người biết rằng nó có thể phát sáng màu xanh lá trong bóng tối. Mới đây, các nhà khoa học phát hiện rằng loại protein giúp con lươn này phát sáng có thể giúp các bác sĩ đánh giá chức năng gan của con người.

    Dẫn đầu bởi giáo sư Atsushi Miyawaki và Akiko Kumagai, một nhóm nghiên cứu thuộc Viện nghiên cứu khoa học về não - RIKEN của Nhật Bản đã đặt tên cho loại protein này là UnaG, rút gọn từ cụm Unagi Green Protein. UnaG là loại protein phát sáng đầu tiên được biết tới tìm thấy ở một loại động vật có xương sống, nhưng nó chỉ phát sáng khi kết hợp với sắc tố màu da cam (bilirubin) xuất hiện trong tự nhiên, có trong các cơ của con lươn.

    Trên cơ thể người, sắc tố màu da cam bilirubin được tạo ra bằng cách phá vỡ các hemoglobin trong máu. Nếu nó hiện diện quá nhiều trong máu (do một vấn đề liên quan đến gan), nó có thể biến thành chất độc, dẫn đến các chứng như vàng da. Hàm lượng bilirubin trong máu được dùng để đánh giá tình trạng của gan, và cũng dùng để phát hiện sự biến mất của các tế bào hồng cầu do bệnh thiếu máu.

    Để phát triển phương pháp kiểm tra lượng bilirubin trong mẫu máu một cách nhanh chóng, chính xác và độ nhạy cao, các nhà khoa học ở viện RIKEN đã bắt đầu nhân bản gen phát sáng từ protein UnaG. Với việc đã nghiên cứu quá trình nó được kích hoạt, các nhà khoa học tiếp tục tạo ra một hệ thống mà protein UnaG sẽ kết hợp với bất kỳ sắc tố bilirubin nào có trong mẫu máu, và sẽ khiến nó phát sáng lên. Các nhà khoa học hy vọng nếu mọi thứ hoàn hảo thì hệ thống này có thể được sử dụng rộng rãi, đặc biệt là ở những nước đang phát triển.

    Bên cạnh giá trị về y học, các nhà khoa học cũng hy vọng rằng giá trị mới của loài lươn Anguilla japonica sẽ thúc đẩy các nỗ lực bảo tồn loài này – vì hiện tại nó đang gặp nguy hiểm ở Nhật Bản.

    Nguồn: tinhte.vn (Theo: Gizmag).
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 1 comment
    • 3 likes
    • 3 hours ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Truong Huynh Nhu and
    • Admin
    • Trieu Thanh Tuan Con này giá khá đắt nhưng ăn rất ngon. Một phần cơm + một khút thịt có giá khoảng 2000 yên. Hôm nọ đi ăn có chụp hình lại nè, https://fbcdn-sphotos-b-a.akamaihd.net/hphotos-ak-ash3/578983_523968407641604_418120451_n.jpg
      • 1 like
      • Like
      • Reply
      • 3 hours ago
  • Bỏ đại học, làm giàu từ bán ống dẫn trứng ếch
    Đủ điểm vào học ngành xã hội học của Đại học Quốc gia Singapore cách đây 6 năm nhưng cô thiếu nữ xinh đẹp Chelsea Wan lại ở nhà giúp gia đình nuôi ếch và bán ống dẫn trứng.

    Trại ếch Jurong rộng 1,2ha do cha cô, một cựu kỹ sư giàn khoan dầu khí, gây dựng từ những năm 1970 khi chính phủ bắt đầu chính sách xóa bỏ trại nuôi heo và khuyến khích thú nuôi khác phù hợp với điều kiện vệ sinh môi trường và thổ nhưỡng của Singapore.

    Trả lời phỏng vấn báo The Sunday Times, cô Wan cho biết thời gian đầu khởi nghiệp thu nhập của cha cô không đủ để gia đình sống thoải mái vì thịt ếch không phải là mặt hàng chính của thị trường thực phẩm. Năm 1999, gia đình cô bắt đầu bán ống dẫn trứng ếch, được gọi là Hashima, một món ăn bổ dưỡng tráng miệng được nhiều người dân châu Á ưa chuộng mà Singapore vẫn thường nhập từ Trung Quốc.

    Khi đó, cô Wan tranh thủ thời gian sau giờ học đi giới thiệu và thuyết phục các tiệm thuốc Bắc nhận bán sản phẩm Hashima khô đóng gói. Sự từ chối hay nghi ngại của các tiệm thuốc Bắc vẫn không làm cô nản lòng và đến vòng tiếp thị thứ ba, 15 tiệm đã chấp nhận mỗi tiệm bán 10 gói dưới hình thức ký gửi. Tuy nhiên, phải đợi đến năm 2011 sau nhiều vòng thuyết phục, cô mới bắt đầu có đơn đặt hàng, đầu tiên là các tiệm thuốc Bắc, sau đó là các nhà hàng nơi thực khách đã dùng thử.

    Theo báo The Sunday Times, nếu như trước đây các tiệm thuốc Bắc hay nhà hàng trên đảo Sư tử hay nhập Hashima từ Trung Quốc, nay bắt đầu chuyển sang đặt mua hàng sản xuất tại Singapore vì các nhà cung cấp Trung Quốc tăng giá và có khi chất lượng sản phẩm không đều.

    Ông Amos Pech, chủ tiệm thuốc Bắc Nam Huat Lee ở vùng Choa Chu Kang phía Tây Bắc Singapore, cho biết 80% nguồn hàng Hashima hiện nay của ông là “made in Singapore”. Năm ngoái, giá một lạng (37,5g) Hashima từ Trung Quốc đã tăng từ 70 đôla Singapore (SGD) lên 100SGD, trong khi giá sản phẩm cùng loại của trại nuôi ếch Jurong chỉ khoảng 40-60SGD/lạng. Các nhà cung cấp Trung Quốc nói với ông Peck giá tăng vì nhu cầu tiêu thụ Hashima ngày càng tăng. Ông cho rằng nếu mua ở Singapore sẽ rẻ hơn, chất lượng đảm bảo và dễ điều chỉnh khi cần.

    Theo nhiều chủ tiệm thuốc Bắc, người Singapore nay đã hiểu hơn về công dụng của thức ăn bổ dưỡng Hashima và có người gọi đây là nước yến ngân nhĩ rẻ tiền, điều này có ý nghĩa quan trọng cho DN nuôi ếch của cô Wan. Doanh số bán hàng của trại nuôi ếch Jurong đã tăng mạnh trong năm ngoái với 2.000 gói Hashima khô và 3.000 hộp ăn liền. Theo dự kiến, Hashima đóng hộp ăn liền sẽ có mặt ở hệ thống siêu thị Fairprice vào cuối năm nay.

    Cô Wan cho biết đang triển khai sản xuất Hashima có hàm lượng đường thấp, đồng thời tăng sản lượng ếch nuôi và mở rộng diện tích trại ếch. Mỗi ngày cô Wan dành thời gian trông coi trại, nhận đơn mua hàng và thỉnh thoảng phải tham gia việc lột da và móc ruột ếch. Cô tiết lộ rằng lương hàng tháng của cô khoảng 3.000SGD, thấp hơn một ít so với lương kỹ sư mới ra trường. Mọi so sánh thật ra chỉ là khập khiễng, nhưng cô Wan cho biết cô làm công việc này với niềm say mê và điều thích thú là cô có thời gian thảnh thơi để trồng khoai lang hay nuôi cá tilapia.

    Nguồn: Báo Sài Gòn Đầu Tư Tài Chính.
    • By Truong Huynh Nhu
    • 0 comments
    • 2 likes
    • 2 hours ago
    • Trieu Thanh Tuan and
    • Admin
  • Quản lý dịch bệnh thủy sản: Cơ hội và thách thức cho các nước đang phát triển để...
    Nuôi trồng thuỷ sản có một tiềm năng mạnh mẽ nhằm đáp ứng các nhu cầu về sản phẩm thuỷ sản trên hầu hết các vùng của thế giới. Dân số thế giới ngày càng tăng và nhu cầu về các sản phẩm thuỷ sản cũng tăng theo trong khi sản lượng khai thác ngày một giảm đi. Sự đóng góp đầy tiềm năng từ nuôi trồng thủy sản trong an toàn thực phẩm địa phương, cung cấp sinh kế và dinh dưỡng là đặc biệt quan trọng nhất là ở các vùng nông thôn nghèo, hẻo lánh.

    Một trong những bất lợi trong nuôi trồng thuỷ sản là thiệt hại do dịch bệnh. Qua nhiều thập niên cho thấy bệnh dịch là nguyên nhân gây thất thoát trầm trọng về kinh tế trong nuôi thuỷ sản. Việc sử dụng các nguyên tắc dịch tễ học hợp lý và phương pháp quản lý dựa trên cơ sở khoa học vững chắc để xác định và quản lý dịch bệnh là hai hợp phần quan trọng của một chương trình kiểm soát sinh học hiệu quả. Sự duy trì khả năng nuôi thuỷ sản an toàn ngày càng trở nên cấp thiết và đây chính là mục tiêu của các nhà nghiên cứu dịch bệnh thủy sản cũng như quản lý dịch bệnh trong vùng. Việc nghiên cứu dịch tễ học chắc chắn sẽ giúp cho việc quản lý sức khoẻ, phân tích rủi ro và kiểm soát dich bệnh trong nuôi trồng thuỷ sản.

    Mặc dù có rất nhiều hạn chế và phức tạp trong việc sử dụng dịch tễ học để kiểm soát dịch bệnh thuỷ sản nhưng gần đây cũng đã có một số kết quả khả quan từ các nghiên cứu, thử nghiệm kiểm soát dịch bệnh trên nuôi tôm qui mô nhỏ ở miền nam Ấn Độ. Bài viết này là tóm tắt của các kết quả nghiên cứu nói trên nhưng nhấn mạnh vào khía cạnh lợi ích của việc hợp tác chặt chẽ các giữa nông dân với nhau trong các nhóm, khả năng thiết lập mối quan tâm giữa họ và tầm quan trọng của sự nhận thức về các nhân tố rủi ro cũng như việc thực hiện các phương pháp quản lý hữu hiệu.

    Tóm lược: bài viết này gồm 6 phần và phần 6 sẽ được tóm lược chi tiết:

    1. Nuôi trồng thuỷ sản là nguồn thực phẩm dinh dưỡng cao của thế giới
    2. Bệnh dịch và sức khoẻ là mấu chốt của sản lượng thuỷ sản
    3. Ứng dụng dịch tễ học để quản lý sức khoẻ vật nuôi thuỷ sản
    4. Kinh nghiệm trong nuôi tôm ở qui mô nhỏ
    5. Bố trí thí nghiệm, trình diễn và thực hiện
    6. Quản lý sức khoẻ tôm và dịch tễ học

    Thực tế quản lý sức khoẻ của tôm bao gồm việc quản lý và đánh giá những rủi ro được kết hợp vào mô hình BMP (Best Management Practices: tạm dịch thực hành quản lý tốt nhất) được phát triển và tư vấn cho nông dân địa phương. Mô hình BMP bao gồm 3 chiến lược quản lý chính:

    - Quản lý nước và chuẩn bị đáy ao trước khi thả giống
    - Chọn giống và thả giống
    - Quản lý sau khi thả giống

    a. Quản lý nước và chuẩn bị đáy ao trước khi thả giống

    - Nạo vét bùn, sình và rác thải trong ao ra khỏi phạm vi khu nuôi
    - Cày xới lớp đất đáy kỹ càng nếu như không thể vét hết lớp bùn hoàn toàn.
    - Lọc nước qua hai lưới lọc có mắt lưới 300 µm
    - Mực nước giữ ít nhất ở 80 cm tính từ chỗ cạn nhất của đáy ao
    - Tạo môi trường nước tốt từ 10-15 ngày trước khi thả giống

    b. Chọn giống và thả giống

    - PL có kích thước đồng cỡ và màu sắc chuẩn, tôm hoạt động bơi ngược lại dòng nước
    - PL phải âm tính khi kiểm tra bằng nested - PCR đối với bệnh đốm trắng (với loại test này, nếu kết quả âm tính nghĩa là bệnh đốm trắng hiện diện ít hơn 5% trong quần thể và bầy tôm chắc chắn 95% không nhiễm bệnh)
    - Loại bỏ tôm xấu, yếu trước khi thả bằng cách gây sốc với formol liều 100ppm trong 15-20 phút trong nước có sục khí liên tục.
    - PL trải qua giai đoạn ương tại vuông nuôi từ 15-20 ngày
    - Thả nuôi từ tuần đầu của tháng 2 tới tuần thứ 2 của tháng 3
    - Khi thả giống, màu nước ao nuôi nên có màu xanh và tránh thả ở ao có nước trong

    c. Quản lý sau khi thả giống

    - Phải sử dụng các khu chứa nước và nước phải được giữ 10-15 ngày tại đây trước khi đưa vào ao nuôi tôm thịt
    - Thường xuyên sử dụng vôi nông nghiệp, đặc biệt sau khi thay nước hoặc mưa.
    - Không sử dụng các loại hoá chất độc hại hoặc hoá chất nằm trong danh mục cấm
    - Sử dụng sàng kiểm tra thức ăn để đảm bảo cung cấp lượng thức ăn dựa trên nhu cầu của tôm
    - Cho ăn kéo dài từ bên này sang bên kia bờ ao bằng xuồng hoặc bằng dụng cụ cho ăn nổi để tránh sự tích tụ cục bộ của chất thải.
    - Thường xuyên làm sạch rong, tảo đáy
    - Chỉ thay nước trong các giai đoạn quyết định (khi cần thiết)
    - Hàng tuần kiểm tra lớp bùn ở đáy ao để ngăn ngừa sự tích tụ của chất thải hữu cơ, sình thối.
    - Thường xuyên kiểm tra sức khoẻ của tôm và hàng tuần kiểm soát sức khoẻ và tăng trưởng của tôm bằng chài.
    - Thu lượm và loại bỏ an toàn những tôm bệnh hoặc bị chết
    - Thu hoạch khẩn cấp sau khi có quyết định chính xác
    - Không tháo nước và xả bỏ tôm bệnh ra ngoài.

    Nếu những nguyên tắc này được áp dụng triệt để thì việc nuôi tôm sẽ tránh được nhiều rủi ro về bệnh và trải qua 4 vụ nuôi thí nghiệm ở Ấn độ với mô hình BMP các kết quả thống kê cho thấy có sự khác biệt rất lớn.

    Kinh nghiệm cho thấy rằng cần thiết phát triển tuỳ trường hợp các mô hình BMP đặc trưng cho từng nông dân (dựa trên các nguyên tắc căn bản của BMP) kết hợp với kỹ thuật nuôi (dựa trên mật độ thả nuôi, khả năng duy trì khu chứa nước, chất lượng nguồn nước …) và khả năng đầu tư vốn của từng hộ nông dân. Mô hình này hiện đang được FAO tài trợ về mặt kỹ thuật và tài chính để nhân rộng ở nhiều bang của Ấn độ.

    Người tóm lược: Ths. Nguyễn Thị Hồng Vân (nthvan@ctu.edu.vn), Khoa Thủy Sản, Đại học Cần Thơ.
    Nguồn tin: Rohana P. Subasinghe (2005). Epidemiological approach to aquatic animal health management: opportunities and challenges for developing countries to increase aquatic production through aquaculture. Preventive Veterinary Medicine (67) 117-
    124.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 2 likes
    • 3 hours ago
    • Trieu Thanh Tuan and
    • Truong Huynh Nhu
  • Sản phẩm tự nhiên thay thế kháng sinh chống lại bệnh tôm
    Nghiên cứu được thực hiện bởi Nelson Peña Navarro thuộc trường đại học Costa Rica (UCR) đã cho thấy một số sản phẩm tự nhiên có thể thay thế cho thuốc kháng sinh trong kiểm soát dịch bệnh của tôm nuôi. Những lựa chọn thay thế tự nhiên này cũng có thể tăng sản lượng, tối đa hóa lợi nhuận và cũng thích hợp cho nuôi tôm sinh thái.

    Costa Rica là một nhà sản xuất và xuất khẩu tôm chân trắng (Litopenaeus vannamei), loài tôm được nuôi trong các ao nước lợ ở những nơi khác nhau trên đất nước và tập trung chủ yếu là ở bán đảo Nicoya.

    Nuôi tôm với hình thức bán thâm canh chiếm đa số tại Costa Rica và được thực hiện bởi các cá nhân và các doanh nghiệp bé nhỏ. Những người nuôi và doanh nghiệp này thường thiếu nguồn lực và cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh để thực hiện việc quản lý kỹ thuật một cách đầy đủ.

    Sự ô nhiễm của các ao nuôi làm cho tôm rất dễ bị tấn công bởi vi khuẩn và virus, nguyên nhân chính gây ra ra tình trạng chết tôm hàng loạt. Điều này tạo ra tình trạng nghiêm trọng cho người nuôi vì phần lớn trong số họ đểu phải vay ngân hàng để nuôi tôm.

    Hiện nay, người nuôi đang sử dụng kháng sinh thương mại để tăng cường hệ thống miễn dịch của tôm và để giảm tỷ lệ chết. Tuy nhiên các sản phẩm này không chỉ đắt tiền mà còn gây hại cho môi trường.

    "Ý tưởng của dự án này là nhằm đạt được các giải pháp trung và dài hạn bằng cách sử dụng kỹ thuật tự nhiên để cải thiện hệ thống miễn dịch của tôm, đạt được mức tăng trọng lượng tốt hơn và hệ số chuyển đổi thức ăn thấp, qua đó làm tăng năng suất và lợi nhuận cho người nuôi", ông Peña nói.

    Nghiên cứu được hỗ trợ bởi các công ty và các tổ chức như Công viên biển Thái Bình Dương (Pacific Marine Park), Liên doanh quốc gia các nhà sản xuất muối (National Cooperative Salt Producers - CONAPROSAL), Dịch vụ xét nghiệm thú y quốc gia (National Veterinary Services Laboratory - LANASEVE) và một số đơn vị nghiên cứu của UCR

    THAY THẾ KHÁNG SINH

    Các nhà nghiên cứu, những người sẽ tốt nghiệp để trở thành kỹ sư nông học, tiếp cận dự án như là một phần của đề tài tốt nghiệp trường chăn nuôi của UCR.

    Ý tưởng là phát triển một sản phẩm thay thế cho việc sử dụng quá nhiều thuốc kháng sinh bằng cách sử dụng các sản phẩm tự nhiên thân thiện với môi trường nhằm tăng cường hệ thống miễn dịch của tôm và có sẵn trên thị trường với giá cả phải chăng cho người nông dân.

    Các nghiên cứu sử dụng tôm từ các trang trại nằm trong bán đảo Nicoya. Các mẫu được chia thành bốn nhóm, ba trong bốn nhóm được cho ăn Mannan-oligosaccharides, tỏi và một hợp chất chiết xuất thực vật bổ sung vào thức ăn với các liều khác nhau.

    Sau một thời gian nhất định, vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus, một trong những vi khuẩn nguy hiểm và gây thiệt hại nghiêm trọng nhất cho nghề nuôi tôm được tiêm vào tôm ở các lô thử nghiệm.

    Phân tích xác định rằng Mannan-oligosaccharides và tỏi làm việc có hiệu quả chống lại vi khuẩn thông thường, giảm tỷ lệ chết và cải thiện tốc độ tăng trưởng tốt hơn.

    Các hợp chất thực vật ít hiệu quả. Tuy nhiên, trong cả ba trường hợp đều cho kết quả tốt hơn so với lô đối chứng.

    "Thí nghiệm chỉ ra rằng ảnh hưởng của độc tố gây tổn thương tế bào tôm do vi khuẩn tiết ra bị triệt tiêu, tuy nhiên nhiều trường hợp, bệnh đã không xảy ra khi sử dụng tỏi hoặc Mannan-oligosaccharides. Cả hai đều cho kết quả tốt, nhưng tỏi thì tốt hơn nhiều", ông Peña nói.

    Nghiên cứu đã chứng minh rằng việc sử dụng các sản phẩm tự nhiên trong nuôi tôm có thể làm tăng đáng kể trọng lượng của chúng và đạt được đáp ứng miễn dịch tốt hơn, và mang lại thu nhập cao hơn cho người nuôi.

    Trong thực tế, nhiều người nuôi trong khu vực Vịnh Nicoya hiện đang nuôi tôm sinh thái cung cấp cho thị trường quốc tế và họ đang sử dụng các sản phẩm tự nhiên theo khuyến cáo của ông Peña.

    Đây là nghiên cứu đầu tiên của loại hình này được thực hiện ở trong nước và mặc dù kết quả mang lại rất quan trọng nhưng ông Peña thừa nhận rằng vẫn còn nhiều việc khác cần được nghiên cứu thêm.

    TẦM QUAN TRỌNG VỀ MẶT KINH TẾ

    Sinh vật dưới nước đã trở thành nguồn thực phẩm quan trọng và mang lại việc làm ở Costa Rica. Theo Tổ chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc (FAO), trong năm 2008, năng suất tôm thẻ chân trắng ở khu vực châu Mỹ chiếm đến 80% sản lượng của riêng loài này trên toàn cầu.

    Theo Tập đoàn Thương Mại Nước Ngoài (Foreign Trade Corporation - PROCOMER) của Costa Rica, cả nước xuất khẩu tổng cộng 5 triệu USD tôm trong năm 2011, vượt hơn 28% so với năm trước, và trong tháng 8 năm 2012 đạt trên 3 triệu đô la, vượt 12% so với cùng kỳ năm ngoái. Đức và Hoa Kỳ là các thị trường chính của Costa Rica.

    Tuy nhiên, bệnh do vi khuẩn như vi khuẩn Vibrio trong nuôi trồng thủy sản đã tạo ra thiệt hại kinh tế đáng kể.

    Dịch bởi: AHPNS, www.aquanetviet.org
    Nguồn: http://www.thefishsite.com/articles/1695/natural-products-effective-against-shrimp-disease-suitable-as-antibiotic-replacement. Đăng ngày 17.6.2013.
    • By AHPNS
    • 1 comment
    • 3 likes
    • 9 hours ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Truong Huynh Nhu and
    • Admin
    • Trieu Thanh Tuan Hồi tối đang dịch bài này nhưng buồn ngủ quá đi ngủ luôn:). Cảm ơn [40319,AHPNS] nhiều nhé!
      • 0 likes
      • Like
      • Reply
      • 6 hours ago
  • Ecuador: Nutreco Acquires 75% of Expalsa’s Feed Mill
    Nutreco has successfully completed its acquisition of 75 per cent of the shares in Gisis S.A., the shrimp and fish feed subsidiary of the Expalsa group.

    The acquisition makes Nutreco one of the top three shrimp feed suppliers in the world.

    Ecuador’s shrimp feed market is Latin America’s largest and the third largest in the world after China and Thailand, and it’s growing at around eight per cent annually.

    Nutreco employs approximately 10,000 people in 30 countries with sales in over 80 countries. It is listed on the NYSE Euronext stock exchange in Amsterdam and reported annual revenues of almost $7 billion in 2012.

    Since 1984, Expalsa has been the biggest shrimp farming operation in Ecuador. All of its production is organic and certified under several international standards.

    June 17, 2013.
    Information: Karen Beuk, Director Corporate Communication, Nutreco, P.O. Box 299, 3800 AG Amersfoort, The Netherlands (phone +31-(0)33-422-6165, mobile +31-(0)630-659-024, email karen.beuk@nutreco.com, webpage http://www.nutreco.com).
    Information: Expalsa, Food Export S.A., Km 6.5 Via Duran Tambo, Guayaquil, Ecuador (phone 593-4-280-4200, email contact@expalsa.com, webpage http://www.expalsa.com/en/quienes_somos.php#).
    • By AHPNS
    • 0 comments
    • 3 likes
    • 9 hours ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Truong Huynh Nhu and
    • Admin
  • Aquaponics thúc đẩy ngành nuôi cá vây mềm
    ÚC - Tính khả thi của việc trồng rong biển để bổ sung cho nuôi trồng thủy sản và bảo vệ môi trường sẽ được kiểm chứng trong suốt các thử nghiệm trên biển. Thực nghiệm được thực hiện trong Vịnh Spencer vào cuối năm nay.

    Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Gail Gago cho biết dự án cho thấy nghiên cứu sáng tạo sẽ hỗ trợ ưu tiên chiến lược của Chính phủ như thế nào về Thực phẩm và Rượu chất lượng hảo hạng từ thương hiệu môi trường sạch của chúng tôi.

    "Dự án này nhằm mục đích đảm bảo ngành công nghiệp cá ngừ vây xanh miền Nam và các loại “Cá vua” đuôi vàng (Yellowtail Kingfish - tạm dịch) có cơ hội phát triển mạnh mà không có tác động xấu đến môi trường", bà Gago nói.

    "Nó cũng có thể báo trước sự bắt đầu của một ngành công nghiệp mới của Úc cho các sản phẩm có nguồn gốc từ rong biển, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng đối với thị trường trong nước và quốc tế."

    Dự án 03 năm trị giá 1,1 triệu đô la Úc được tài trợ chủ yếu bởi Tập đoàn nghiên cứu và phát triển thủy sản của chính phủ Úc (Australian Government’s Fisheries Research and Development Corporation) , với sự đóng góp 189,000 đô la Úc từ Viện nghiên cứu và phát triển Miền Nam nước Úc (South Australian Research and Development Institute – SARDI), cũng như sự hỗ trợ của Đại học Adelaide và các tổ chức thương mại khác.

    Nhà nghiên cứa của SARDI - Kathryn Wiltshire cho biết các thử nghiệm nhằm mục đích tìm kiếm loại tảo biển phù hợp và xác định sinh khối cần thiết để loại bỏ một cách tự nhiên và hiệu quả chất thải trong các mô hình nuôi cá vây mềm.

    "Các thử nghiệm sẽ xác định các loài thích hợp nhất cho loại hình nuôi trồng thủy sản được biết đến với tên gọi là Nuôi trồng thủy sản kết hợp đa dạng các loại hình dinh dưỡng (tạm dịch – Intergrated Multi – Trophic Aquaculture)" Bà Wiltshire cho biết.

    "Họ sẽ cung cấp kiến thức về lượng chất thải được loại bỏ bằng rong biển, và cũng hỗ trợ các cơ hội phát triển cho ngành nuôi trồng thủy sản"

    Dự án sẽ cung cấp thông tin về sản xuất giống, độ sâu mô hình nuôi, bố trí trang trại và dữ liệu sơ bộ về thời gian tốt nhất trong năm để trồng và thu hoạch rong biển.

    Bà Gago nói thêm rằng mức độ chất thải phụ được tạo ra bởi trang trại nuôi cá cần được giám sát chặt chẽ theo đạo luật Nuôi trồng thủy sản Nam Úc, Luật đã được ban hành năm 2011.

    Điều này bao gồm các kiểm tra DNA hàng năm và được thực hiện SARDI vì lợi ích của các ngành công nghiệp để đánh giá sức khỏe của các sinh vật dưới đáy biển nhằm đảm bảo trang trại phát triển bền vững.

    Giá trị thương mại của rong biển về mặt giá trị sử dụng như là phụ gia thực phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm chức năng, sản phẩm thảo dược, phân bón và thức ăn chăn nuôi bao gồm thức ăn cho bào ngư cũng sẽ được xem xét.

    Dịch bởi: AHPNS, www.aquanetviet.org
    Nguồn: The FishSite News Desk. http://www.thefishsite.com/fishnews/20504/aquaponics-to-boost-finfish-aquaculture
    • By AHPNS
    • 0 comments
    • 3 likes
    • 16 hours ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Truong Huynh Nhu and
    • Admin
  • Bass là cá gì?
    Bass là tên được chia sẻ bởi nhiều loài cá trong bộ cá vược thường được theo đuổi bởi những tay câu thể thao và người đánh bắt để ăn. Cá thuộc bộ cá vược là những loài cá có xương trông giống cá perch (cá vược) và thường có gai cứng dọc theo vây. Cá bass có thể sống ở nước mặn và nước ngọt, và nhiệt độ ưa thích của chúng từ vùng nước ấm tới ôn đới. Chúng nổi tiếng trong những tay câu vì chúng chống cự dữ dội hơn so với những loài khác, biến việc câu loài cá này là một hoạt động đầy thách thức.

    Moronidae là họ cá bass sống ở vùng nước ôn đới, và có thể phát hiện ở sông hay cửa biển. Thành viên nổi tiếng nhất của nhóm này là striped bass (cá bass sọc), một trong những con cá câu thể thao nổi tiếng nhất mọi thời đại. Loài cá bass sống ở vùng nước ôn đới có gai trực tiếp sau mang, hai vây lưng, và một vây đuôi chia thùy. Chúng có thể lớn đến 70 inch (180 cm), và là cá thương mại ở một số nơi trên thế giới.

    Cá bass sống ở vùng nước ôn đới có khuynh hướng di cư cao, thỉnh thoảng di chuyển một quãng đường rất xa. Tất cả chúng sinh sản trong vùng nước ngọt trong mùa xuân, và ăn các loài cá nhỏ hơn cùng với tôm và giáp xác khác. Một số loài cũng được nuôi thương mại, và ngư dân cũng có thể lợi dụng trữ lượng cá nuôi, thường được thả vào các khu vực nước có trữ lượng bị tàn phá.

    Họ Centrarchidae gồm những loài cá bass sống vùng nước ấm, và thỉnh thoảng được gọi là sunfish, perch hay bream. Chúng là loài bản địa của Bắc Mỹ, và thường được phát hiện ở các sông suối dọc theo phần phía đông của Mỹ. Những loài cá này có đặc điểm là vây nhiều tia và gai, có thể gây đau đớn cho những ngư dân lơ đễnh.

    Loài cá bass nước ấm nổi tiếng nhất có lẽ là cá bass miệng rộng (largemouth bass), được gọi như vậy vì miệng nó kéo dài ra phía sau mắt, cho phép nó có thể nuốt những con mồi lớn. Cá thuộc loài này thường có màu xanh bùn, và thích ẩn nấp bên dưới những cây cỏ hay những cấu trúc nhân tạo để rình mồi.

    Nhiều loài cá bass là các loài cá câu thể thao, điều này có nghĩa là, sau khi bị bắt, chúng được thả ra, mặc dầu một số loài cũng được ăn thịt. Nhiều khu vực có những hạn chế về loài và kích thước cá có thể bắt, và những tay câu phải làm quen với những quy định này trước khi khởi hành một chuyến câu cá. Cá bass là các loài được quản lý rất chặc chẽ, và dường như không bị rủi ro tuyệt chủng vì có những chế độ duy trì trữ lượng phù hợp.

    Một số loài như cá bass Chi lê (Chilean sea bass) được gọi chung là các bass, mặc dù thực tế chúng không thuộc một họ cá vuợc nào. Đa số những loài cá này có chung phần thịt màu trắng chắc vỡi lượng dầu tối thiểu, và mượn tên vì mục đích tiếp thị.

    Nguồn: Viết bỡi S.E. Smith, Bản tiếng Việt của Blog Biển và Người.
    • By Truong Huynh Nhu
    • 0 comments
    • 6 likes
    • 23 hours ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Truong Huynh Nhu
    • Admin and
    • 3 others
  • Cảm biến sinh học giúp xác định hàm lượng thuốc trừ sâu trong thực phẩm và môi t...
    Một nhóm nghiên cứu đa ngành của Brazil mới đây đã phát triển một loại cảm biến sinh học giúp đo hàm lượng thuốc trừ sâu trong thực phẩm, nước và đất. Công nghệ hiện vẫn đang trong giai đoạn phát triển nhưng nếu trở thành một sản phẩm thương mại, công nghệ có thể mang lại một giải pháp di động, giá cả phải chăng để giám sát loại hóa chất độc hại này.

    Cảm biến sinh học nói trên là kết quả từ quá trình nghiên cứu của sinh viên tốt nghiệp Izabela Gutierrez de Arruda tại Viện vật lý São Carlos (IFSC), bang São Paulo dưới sự trợ giúp của tiến sĩ Romildo Jerônimo Ramos đến từ đại học liên bang Mato Grosso (UFMT), tiến sĩ Nirton Vristi Silva Viera (IFSC) và giáo sư Franciso Eduardo Gontijo Guimarães (IFSC). Cơ chế hoạt động của cảm biến dựa trên phương pháp ức chế enzyme để phát hiện sự hiện diện của một loại hóa chất thuộc nhóm lân hữu cơ có tên methamidophos.

    Nhóm nghiên cứu đã sử dụng enzyme acteylcholinesterase (AChE) - một loại enzyme hoạt hóa cao có trong các nút giao thần kinh cơ và khớp thần kinh não cholinergic của nhiều loài côn trùng, động vật như lươn, cá, động vật có vú và kể cả não người. Enzyme AChE hoạt động với chất dẫn truyền xung thần kinh acetylcholine (ACh) liên quan đến các chức năng nhận thức như suy nghĩ và ghi nhớ. Khi tiếp xúc với phân tử methamidophos, hoạt động của enzyme AChe bị ức chế khiến nó sản sinh ra ít proton hơn so với bình thường. Sự chênh lệch về lượng proton sẽ được hiển thị trên một thiết bị nhỏ được tích hợp một tấm phim siêu mỏng có chức năng phóng to tín hiệu, qua đó cho biết hàm lượng thuốc trừ sâu.

    Gutierrez cho biết: "Thiết bị trông giống như dụng cụ thường dùng để đo nồng độ đường trong máu. Do có kích thước nhỏ bé, những người nông dân có thể thực hiện các phép đo và lấy kết quả ngay. Hiện tại, người ta thường dùng các phép đo ghi sắc hay đo phổ để kiểm tra hàm lượng thuốc trừ sâu nhưng các kỹ thuật này đòi hỏi tính chuyên môn và trang thiết bị đắt tiền, thêm vào đó là không thể lấy ngay kết quả đo."

    Ý tưởng phát triển cảm biến sinh học đo hàm lượng thuốc trừ sâu nảy sinh từ các vấn đề sức khỏe do methamidophos gây ra cho con người, cụ thể là tại bang Mato Grosso nơi sản xuất lúa gạo lớn nhất Brazil và cũng là quê nhà của Gutierrez. Mặc dù methamidophos đã bị cấm tại nhiều quốc gia bao gồm cả các nước EU nhưng chúng vẫn được sử dụng rộng rãi ở Mato Grosso, đe dọa trực tiếp đến nguồn nước ngầm với nguy cơ ô nhiễm hóa học.

    Ngộ độc methamidophos có thể gây mất trí nhớ, lo lắng, rối loạn tâm thần và theo các nhà khoa học, nó có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh Alzheimer.

    Nhóm nghiên cứu cho biết mặc dù cảm biến sinh học vẫn đang trong giai đoạn nghiên cứu nhưng nó có thể được điều chỉnh để đo hàm lượng nhiều loại thuốc trừ sâu khác thuộc họ lân hữu cơ và carbamate. Dự án của Gutierrez được khởi động vào năm 2011 và một bằng sáng chế về cảm biến sinh học cũng đã được đệ trình. Bước tiếp theo là tìm kiếm một công ty quan tâm đến công nghệ và sẵn sàng đưa loại cảm biến sinh học này trở thành một sản phẩm thương mại. Nhóm nghiên cứu ước tính chi phí sản xuất cảm biến sẽ vào khoảng từ 46 đến 92 USD.

    Nguồn: tinhte.vn (Theo: Gizmag)
    • By Admin
    • 0 comments
    • 5 likes
    • 1 day ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Truong Huynh Nhu
    • Admin and
    • 2 others
  • Cách dự trữ "con giống" kỳ lạ ở động vật cái
    Giới khoa học phát hiện, ở một số động vật trong tự nhiên, con cái đã tìm cách lưu trữ tinh dịch của con đực suốt thời gian dài, thậm chí tới vài năm trước khi thụ tinh cho trứng, dù xung quanh luôn có các bạn tình tiềm năng.

    Trường hợp khó lý giải ở cá bảy màu

    Một nghiên cứu mới phát hiện, 1/4 số cá bảy màu đực trong tự nhiên ở Trinidad và Tobago ra đời từ tinh trùng của những người bố đã chết. Một số tinh trùng thậm chí được lưu trữ lâu đến 2 thế hệ.

    9061817173_32a9bfa672_o.jpg

    Theo các nhà nghiên cứu, sau khi giao phối, cá bảy màu cái sẽ dự trữ "con giống" trong một khoang chuyên dụng ở buồng trứng, nuôi dưỡng chúng bằng một lượng đường nhỏ cho đến khi thụ tinh cho trứng. Hành vi lạ này bắt nguồn từ một thực tế, các con cái thường sống lâu hơn con đực ít nhất 1 năm. Do đó, việc dự trữ tinh trùng từ nhiều bạn tình khác nhau mang đến cho con cái khả năng lựa chọn những gen tốt nhất cho các con tương lai.

    Do các cá bố không có bất kỳ động thái chăm sóc nào với hậu duệ ngay cả khi còn sống (chắc vì lẽ đó, cá mẹ cũng không chăm non con sau khi sinh) nên cái chết cũng không ngăn cản chúng được trở thành cha, theo nghiên cứu đăng tải trên tạp chí Proceedings of the Royal Society B.

    Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu thuộc Trường École Normale Supérieure (Pháp) không biết liệu chất lượng tinh trùng của cá bảy màu có bị hủy hoại theo thời gian hay không, mặc dù "con giống" dự trữ rõ ràng có thể thụ tinh một số trứng. Ngoài ra, họ cũng chưa lý giải được tại sao, các cá cái vẫn tiếp tục lưu trữ tinh trùng của con đực đã chết dù có nhiều bạn tình tiềm năng xung quanh, có khả năng cung cấp tinh dịch tươi mới hơn.

    Hiện tượng không hiếm

    Việc dự trữ tinh trùng dường như không phải là hiện tượng hy hữu trong thế giới tự nhiên. Nhiều động vật khác cũng được phát hiện có hành vi này, kể cả gà nhà. Năm 2011, các nhà nghiên cứu đến từ Đại học North Carolina và Đại học Georgia khám phá ra rằng, loài rắn đuôi chuông phương Đông, danh pháp khoa học là Crotalus adamanteus, đã lưu trữ tinh trùng trong một thời gian dài bất thường.

    9064047170_a1913a1ba0_o.jpg
    Rắn đuôi chuông phương Đông cũng dự trữ tinh trùng. Ảnh: NatGeo

    Kết luận trên được rút ra khi một con rắn đuôi chuông hoang dã bị bắt ở Florida năm 2005 bất ngờ sinh nở năm 2010 bất chấp việc nó bị nuôi nhốt tách xa những con rắn khác. Ban đầu, các nhà khoa học cho rằng đây là một ví dụ của hiện tượng "trinh nữ đẻ con", một dạng sinh sản vô tính, trong đó các con cái cung cấp cả 2 bộ nhiễm sắc thể cho hậu duệ của chúng. Nhưng phân tích gen hé lộ, đây là sản phẩm của 1 cặp rắn bố mẹ.

    Câu hỏi đặt ra là: Con cái buộc tinh trùng phải thực thi chức năng của chúng vào một thời điểm nhất định như thế nào? Thông qua nghiên cứu loài bạch tuộc phổ biến, có danh pháp khoa học Octopus vulgaris, nhà sinh vật học Anna DiCosmo đến từ Đại học Napoli Federico II (Italia) và các cộng sự đã kiểm nghiệm giả thuyết lý giải rằng, con cái đã tiết ra các chất hấp dẫn hóa học.

    Con đực của nhiều loài động vật có thể cảm nhận và tìm ra các chất hóa học này. Nhóm của DiCosmo nhận thấy, khi con cái của các loài khác liên quan đến bạch tuộc phóng thích trứng vào trong nước, con đực sẽ bị hấp dẫn trước các chất hóa học trong trứng. Con đực sẽ bơi theo dấu hóa học và "thả" tinh trùng.

    Mặc dù bạch tuộc thụ tinh trứng ở bên trong, bà DiCosmo hoài nghi liệu loài này có dùng chất hấp dẫn khoa học để đánh thức tinh trùng khỏi trạng thái ngủ đông. Nghiên cứu rốt cuộc hé lộ, loại protein có tên Octo-SAP trong trứng của bạch tuộc đã kích hoạt trạng thái bơi của tinh trùng và các "con giống" đã bơi tới nơi tập trung lượng Octo-SAP cao hơn.

    9061817919_93756fd1f8_o.jpg
    Bạch tuộc dự trữ tinh trùng có thể vì ít có cơ hội giao phối thường xuyên.

    Nhà nghiên cứu DiCosmo đã có một số giả thiết về hành vi lưu trữ tinh trùng ở bạch tuộc. Đó có thể do sự bất cân xứng về thời gian để một trứng của con cái đạt tới độ chín với tốc độ sản sinh tinh trùng nhanh chóng ở con đực. Chẳng hạn như, con cái có thể không có sẵn trứng trưởng thành khi giao phối với con đực, một hoạt động dường như không diễn ra thường xuyên.

    "Do bạch tuộc là động vật cô độc nên chúng không có nhiều cơ hội để gặp gỡ bạn tình. Vì lí do này, lưu trữ tinh trùng là một trong những chiến lược hữu hiệu để duy trì nòi giống. Thụ tinh ngay lập tức hoặc thụ tinh bên ngoài có thể dẫn tới sự thất bại", bà DiCosmo nói.

    Nguồn: Tuấn Anh (Theo NatGeo), vietnamnet.vn
    • By Truong Huynh Nhu
    • 0 comments
    • 5 likes
    • 1 day ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Truong Huynh Nhu
    • Admin and
    • 2 others
  • Surprising Sea Slug Dance (Sên biển khiêu vũ)
    The predatory sea slug Pleurobranchaea californica approaches & tries to eat a stinging Spanish shawl (Flabellina iodinea). The Spanish shawl stings the predator & begins a frenetic dance of escape, but Pleurobranchaea quickly learned to get away.
    • By Admin
    • 0 comments
    • 4 likes
    • 1 day ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Truong Huynh Nhu
    • Admin and
    • 1 other
  • Phát triển hệ thống nuôi liên tục và ổn định cho sản xuất luân trùng nước lợ Bra...
    Nhằm mục đích cải tiến tính ổn định về kỹ thuật sản xuất đại trà luân trùng nước lợ Brachionus, cũng như làm giảm công lao động và không gian sản xuất, hệ thống nuôi liên tục tự động hóa đã được phát triển cho ứng dụng thực tế. Hệ thống này bao gồm thiết bị lọc, các bể nuôi và thiết bị thu hoạch. Trong hệ thống này, nước và thức ăn với tỉ lệ đã được điều chỉnh trước được cung cấp vào bể nuôi luân trùng liên tục và cùng lúc lượng nước nuôi cũng được chuyển vào bể thu hoạch luân trùng với sinh khối lớn.

    B. rotundifomis (được gọi là loài S) và B. plicatilis (được gọi là loài L) được sản xuất đại trà thành công từ hệ thống này với những điều kiện cần duy trì như 30oC cho loài S và 24oC cho loài L, nước có độ mặn 20 ppt và được che tối hoàn toàn. Về thức ăn cho luân trùng, tảo nước ngọt thương mại Chlorella vulgaris cô đặc được sử dụng.

    Tỉ lệ nước nuôi được pha loảng mỗi ngày được điều chỉnh lần lượt 60-70 %/ngày cho loài S và 25 %/ngày cho loài L. Trung bình khoảng 2,1 tỉ luân trùng loài S/ngày đạt được từ bể nuôi 1m3, trong đó mật độ luân trùng đạt được từ 3.000 đến 6.000 cá thể/mL. Mặt khác, trung bình khoảng 0,17 tỉ luân trùng loài L/ngày đạt được từ bể nuôi 500 lít, với mật độ đạt từ 1.100 đến 2.200 cá thể/ mL. Thời gian nuôi có thể kéo dài lâu nhất là 110 ngày. Hơn nữa, các nghiên cứu đã ứng dụng 5 kỹ thuật giàu hoá cũng đã chỉ ra rằng luân trùng từ hệ thống nuôi liên tục có thể dễ dàng được giàu hóa đủ dinh dưỡng như các hệ thống nuôi theo mẻ phổ biến.

    Người dịch: Ks. Trần Tấn Huy, Khoa Thủy Sản, Đại Học Cần Thơ.
    Nguồn tin: Yong Fu, Akio Hada, Takashi Yamashita, Yoshihiro Yoshida & Akinori Hino, 1997. Development of a continuous culture system for stable mas production of the marine rotifer Brachionus. Live food in aquaculture. Hydrobiologia (1997).
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 4 likes
    • 1 day ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Truong Huynh Nhu
    • Admin and
    • 1 other
  • Hiệu quả của Elancoban™ và Avimix-ST™ đối với bào từ Nematopsis (Apicomplexa: Po...
    Gregarine từ giống Nematopsis thường lây nhiễm trong ruột tôm chân trắng Litopenaeus vannamei nuôi ven bờ Thái bình dương ở Mexico. Sinh trưởng chậm và tử vong của tôm trắng thường đồng thời với lây nhiễm gregarine

    Kiểm soát sự lây nhiễm bằng những phương pháp thực nghiệm thay vì kháng sinh đang ngày càng trở thành vấn đề quan trọng trong các trại nuôi tôm ở Mexico. Tuy nhiên chưa có công bố về phương pháp chữa trị có hiệu quả cho bệnh này. Mục đích của nghiên cứu này là đánh giá hiệu quả của việc sử dụng sodium monensin (Elancoban™) và sulfachloropyrazine (Avimix-ST™) trong việc tẩy bào tử Nematopsis trong ruột của tôm trắng bị nhiễm bệnh. Bốn thí nghiệm được thực hiện với những liều lượng thuốc khác nhau trên tôm bị nhiễm bệnh thông qua việc cho ăn thức ăn có trộn thuốc trong 5 ngày liên tục. Hệ thống thí nghiệm gồm có bể kính chứa 8-10 con tôm. Nồng độ kháng sinh biến động từ 2-8 g/kg (Elancoban™) và từ 2- 7 g/kg (Avimix-ST™). Sau 5 ngày, cả hai sản phẩm đã làm giảm đáng kể cường độ nhiễm của Nematopsis khi so sánh với nghiệm thức không dùng thuốc. Sử dụng Elancoban™ ở mức 5.5- 6.0 g/kg đã làm giảm 92 – 94% bào tử Nematopsis và Avimix-ST™ ở mức 2.5-3.5 g/kg đã làm giảm 83 – 85% bào tử Nematopsis. Không xảy ra hiện tượng tôm bị tử vong trong quá trình sử dụng các lọai thuốc nói trên. Thí nghiệm chứng tỏ hiệu quả của Elancoban™ và Avimix-ST™ trộn vào thức ăn để kiểm soát bào tử Nematopsis trên tôm trắng Litopenaeus vannamei.

    Người dịch: Ts. Ngô Thị Thu Thảo - Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
    Nguồn tin: Emma J. Fajer-Ávila, María Soledad Morales Covarrubias, Selene Abad-Rosales, Ana Roque, Pablo Meza-Bojórquez and Crisantema Hernández-González. 2005. Effectiveness of oral Elancoban™ and Avimix-ST™ against Nematopsis (Apicomplexa: Porosporidae) gametocyts infecting the shrimp Litopenaeus vannamei. Aquaculture, Volume 244 (1-4): 11-18.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 4 likes
    • 1 day ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Truong Huynh Nhu
    • Phạm Tiến Thành and
    • 1 other
  • Biểu hiện sinh sản và tăng trưởng của tôm bố mẹ nuôi trong hệ thống nuôi thủy sả...
    Suốt thập kỷ qua, siêu vi gây bệnh đã làm chết hàng loạt tôm nuôi ở hầu hết các vùng nuôi tôm chủ yếu trên thế giới. Ngoài ra, công nghiệp nuôi tôm toàn cầu đã bị phê phán vì ảnh hưởng xấu đến các môi trường ven biển.

    Các công nghệ hiện nay bao gồm việc sử dụng tôm không nhiễm một bệnh đặc thù (SPF – Specific pathogen free) để nuôi đến cỡ tiêu thụ trong các hệ thống tuần hoàn dựa trên sự loại trừ mầm bệnh. Phương pháp nầy vốn cần sản xuất đàn bố mẹ SPF trong các điều kiện an toàn sinh học. Tuy nhiên, có sự thiếu thốn thông tin về biểu hiện sinh sản và tăng trưởng của đàn bố mẹ khi chúng được nuôi trong các hệ thống tuần hoàn. Nghiên cứu nầy so sánh biểu hiện sinh sản và tăng trưởng của tôm trong hai thử nghiệm khi tôm được nuôi từ cỡ thương mại (khoảng 20 g) đến cỡ bố mẹ (khoảng 40-60 g) trong một hệ thống nuôi thủy sản tuần hoàn so với một ao đất nước chảy. Trong thử nghiệm 1, tốc độ tăng trưởng trung bình con đực và cái trong hệ thống tuần hoàn tương ứng là 0,9 và 1,53 g/tuần, trong khi ở ao đất, con đực và cái tăng trưởng tương ứng là 1,24 và 1,78 g/tuần. Sự tăng trưởng chậm hơn trong hệ thống tuần hoàn được gán cho là thiếu sức sản xuất tự nhiên vốn cung cấp chất dinh dưỡng bổ sung cho tôm. Ngoài sự tăng trưởng, biểu hiện sinh sản của đàn bố mẹ nuôi trong hệ thống tuần hoàn cũng được so sánh với quá trình biểu hiện sinh sản của đàn bố mẹ nuôi trong ao đất. Số liệu về tỉ lệ sinh sản và sản xuất ấu trùng sống cho thấy không có sự khác nhau có ý nghĩa (P>0.05) giữa tôm nuôi trong hai hệ thống. Các kết quả nầy cho biết rằng tôm bố mẹ có thể được nuôi trong hệ thống tuần hoàn an toàn sinh học mà vẫn duy trì sự tăng trưởng và tỉ lệ sống tốt. Ngoài ra, biểu hiện sinh sản của đàn tôm bố mẹ nuôi trong hệ thống tuần hoàn thì không có bất lợi so với nuôi trong ao nước chảy thông thường.

    Người dịch: Ts. Trương Trọng Nghĩa - Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
    Nguồn tin: Otoshi C.A., S.M. Arce and S.M. Moss (2003) Growth and reproductive performance of broodstock shrimp reared in a biosecure recirculating aquaculture system versus a flow-through pond.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 3 likes
    • 1 day ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Truong Huynh Nhu and
    • Phạm Tiến Thành
  • Phát hiện Hepatopancreatic parvovirus trên tôm sú Thái Lan bằng các kỹ thuật lai...
    Hepatopancreatic parvovirus (HPV) nhiễm trên tôm sú nuôi (HPV-mon) ở Thái Lan được công bố đầu tiên vào năm 1992 (Flegel et al., 1992). Virus HPV nhiễm trên tế bào gan tuỵ, ảnh hưởng đến vấn đề chậm phát triển và đa số đàn tôm nuôi có kích cỡ nhỏ. Điều này dẫn đến làm giảm lợi nhuận một cách đáng kể. Theo đề nghị của tác giả là cần kiểm tra mầm bệnh HPV trên tôm giống trước khi thả nuôi và sẽ loại bỏ khi giống tôm nhiễm virus HPV (Flegel et al., 1999).

    Bằng phương pháp truyền thống phát hiện HPV là dựa vào việc quan sát đặc điểm của thể vùi khi nhuộm H&E (Lightner, 1996), nhưng có kỹ thuật phát hiện virus HPV nhanh hơn được phát triển trong thời gian gần đây đó là những kỹ thuật thuộc lĩnh vực công nghệ sinh học phân tử (Mari et al., 1995 & Lightner 2000, 2001) và những sản phẩm này được thương mại hoá bởi các công ty DiagXotics, Wilton, CT, USA. Những đoạn mồi và gen dò thương mại của HPV được tổng hợp dựa trên đoạn gen của HPV nhiễm trên Penaeus chinensis (HPV-chin). Sản phẩm khuyếch đại PCR của HPV-chin là 350 bp, trong khi đó của HPV-mon là 732 bp. Điều này cho thấy rằng HPV-mon có trình tự đồng dạng với HPV-chin là 70%. Vì vậy việc sử dụng cặp mồi thương mại và gen dò để phát hiện HPV-mon thì có độ nhạy thấp hơn so với việc phát hiện HPV-chin. Để cải tiến độ nhạy trong việc phát hiên HPV-mon thì nhóm nghiên cứu sử dụng trình tự ADN của sản phẩm khuyếch đại PCR 732 bp từ HPV-mon để tổng hợp cặp mồi (H441F - 5’GCA TTA CAA GAG CCA AGC AG 3’ và H411R - 5’ ACA CTC AGC CTC TAC CTT GT 3’) và gen dò đặc hiệu. Sử dụng cặp mồi vừa được tổng hợp có thể phát hiện HPV-mon với nồng độ ADN tinh khiết rất thấp là 1fg, và sản phẩm khuyếch đại PCR 441 bp gắn với digoxygenin trong việc phát hiện HPV-mon bằng kỹ thuật lai in situ, dot blot cho kết quả dương tính mạnh và đặc hiệu. Ngược lại không có kết quả đối với những loài virus gây bệnh có cấu trúc di truyền là ADN và ADN của tôm. Bằng kỹ thuật PCR, sử dụng dịch huyền phù được lấy từ vùng tổn thương, phân tươi của tôm, hoặc tôm giống nghiền trong 0,025% NaOH/0,0125% SDS làm mẫu thì có thể phát hiện được HPV-mon có lượng ADN ít khoảng 1pg. Bằng kỹ thuật dot blot có thể phát hiện ADN tinh khiết của HPV-mon tại nồng độ 0.01 pg, nhưng trong phân tôm thì cần nồng độ là 1 pg và tôm giống là 0.1 pg.

    Người dịch: Ks. Phạm Trần Nguyên Thảo - BM Sinh học và Bệnh Thủy sản. Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
    Nguồn tin: Jurairat Phromjai, Vichai Boonsaeng, Boonsirm Withyachumnarnkul, Timothy W. Flegel, 2002. Detection of hepatopancreatic parvovirus in Thai shrimp Penaeus monodon by in situ hybridization, dot blot hybridization and PCR amplification. Dis Aquat Org 51: 227-232, 2002.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 3 likes
    • 1 day ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Truong Huynh Nhu and
    • Phạm Tiến Thành
  • Vì sao loài động vật biển có vú có thể thở lâu dưới nước
    Các nhà khoa học thuộc Đại học Liverpool đã giải đáp bí mật về sự thích nghi quan trọng nhất trong thế giới loài vật: “Vì sao động vật biển có vú có thể dự trữ lượng oxy để thở dưới nước trong thời gian dài?”.

    Các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu về myoglobin, một loại protein lưu trữ oxy trong các cơ của loài động vật biển có vú. Đó là một loại protein không dính.

    Tiến sĩ Michael Berenkrink từ Viện Sinh học tổng hợp thuộc Đại học Liverpool cho biết: “Ở nồng độ cao, protein có xu hướng dính lại với nhau, vì vậy chúng tôi đang cố gắng tìm hiểu làm thế nào mà hải cẩu và cá voi trong quá trình tiến hóa có thể tập trung loại protein này ở cơ mà không làm mất đi chức năng của cơ”.

    Myoglobin được lấy từ các cơ của loài động vật có vú, từ loài bò sống trên cạn, loài rái cá bán thủy đến cả loài chuyên lặn sâu như cá nhà táng. Kết quả cho thấy có sự thay đổi trong myoglobin ở loài động vật biển có vú lặn sâu này. Chất myoglobin ở chúng không dính trong quá trình tiến hóa 200 triệu năm qua.

    Tiến sĩ Berenkrink giải thích thêm myoglobin của loài động vật biển có vú tích điện dương, tương tự các cực dương trong trong nam châm, nó sẽ đẩy nhau. Bằng cách này, nó có thể "đóng gói" các protein với nồng độ cao vào cơ bắp của mình, vì nó đẩy nhau nên không thể dính lại và ảnh hưởng đến việc tắc nghẽn các cơ bắp.

    Giải mã bí mật đáng kinh ngạc này đã góp phần quan trọng trong lĩnh vực sinh học tiến hóa, từng biết hiểu rõ hơn cơ chế xảy ra trong cơ thể động vật có vú khi nó tiến hóa từ động vật trên đất liền tới loài sống gần nước, và trở thành sinh vật có “máy” thở sống trong các đại dương ngày hôm nay.

    Nguồn: Trùng Dương (Theo BBC News), tuoitre.vn
    • By Truong Huynh Nhu
    • 0 comments
    • 5 likes
    • 2 days ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Truong Huynh Nhu
    • Admin and
    • 2 others
  • Khách sạn có hình du thuyền ở SunCruise Resort
    Một khu du lịch nghĩ dưỡng ở Hàn Quốc được thiết kế giống một chiếc du thuyền sang trọng nằm trên ngọn đồi.

    Thoạt nhìn nó có vẻ là một chiếc du thuyền đại dương hàng triệu bảng đã bị mắc cạn trên đá.

    Khách sạn Sun Cruise ở Jeongdongjin, Hàn Quốc, rất tuyệt hảo cho những ai muốn được tận hưởng cuộc vui trên du thuyền nhưng bị say sóng!

    Triệu Thanh Tuấn, www.aquanetviet.org
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 5 likes
    • 2 days ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Truong Huynh Nhu
    • Admin and
    • 2 others
  • Trồng rong biển kết hợp trong các hệ thống nuôi hải sản: Phương pháp quan trọng ...
    Sự phát triển nhanh chóng của nghề nuôi thủy sản thâm canh (tôm, cá) trên thế giới làm nảy sinh nhiều vấn đề trở ngại, tác động xấu đến môi trường do việc nuôi đơn loài, đặc biệt là ở vùng nuôi tập trung cao độ hay vùng nuôi không thích hợp, quá tải. Những trở ngại môi trường chủ yếu là do nguồn dinh dưỡng và chất thải đổ ra vùng ven biển từ các hệ thống nuôi hở hay nuôi nội địa.

    Trong xu hướng tiến tới quản lý nuôi thủy sản tốt nhất (BMP), nghề nuôi thủy sản vừa phải xây dựng những biện pháp thực hành tiên tiến và có trách nhiệm để tối ưu hoá hiệu quả và đa dạng hoá nghề nuôi, nhưng vừa phải cải thiện được các tác động xấu của hoạt động thâm canh này, đảm bảo môi trường lành mạnh. Để tránh làm xáo động các diễn thế tự nhiên vùng ven biển, bảo tồn là giải pháp thông thường lâu nay ở các nước Châu Á. Việc kết hợp nuôi các loài thủy sản có cho ăn (tôm, cá) với nuôi các loài thủy sản hấp thụ dinh dưỡng hữu cơ và vô cơ (rong biển, động vật hai vỏ), chất thải của đối tượng này sẽ làm nguồn thức ăn, dinh dưỡng cho đối tượng khác. Cách tiếp cận hệ sinh thái cân bằng như thế sẽ giúp tái sử dụng dinh dưỡng, có lợi chung cho các đối tượng nuôi trồng, đa dạng hoá nguồn thu nhập từ nhiều đối tượng nuôi kết hợp và nâng cao lợi nhuận chung trên một đơn vị sản xuất. Hiện nay, một số nước đang có chủ trương và hướng dẫn sử dụng các loài rong biển thích hợp làm nguồn hấp thu và tái tạo dinh dưỡng theo hướng sinh học như một phương cách sử dung hiệu quả chi phí sản xuất, giảm thiểu chi phí môi trường toàn cầu. Với phương pháp nuôi kết hợp đa loài, nghề nuôi thủy sản làm tăng khả năng chấp nhận về kinh tế, xã hội và môi trường, tạo nên một cấu thành bền vững và đầy đủ trong khuôn khổ phát triển chương trình quản lý tổng hợp vùng ven biển.

    Người dịch: Ts. Trần Ngọc Hải, BM Hải sản, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
    Nguồn tin: Chopin, T., A.H. Buschmmann, C. Halling, M. Troell, N. Kautsky, M. Neori, G.P. Kraemer, J.A. Z. Gonzaler, C. Yarish, and C. Neefus (2001). Integrating Seaweed into Marine Aquaculture Systems: A Key Toward Sustainability. Journal of Phycology, 37, 975-986.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 4 likes
    • 2 days ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Truong Huynh Nhu
    • Admin and
    • 1 other
  • Nuôi hải sâm ở Madagascar…vì hy vọng kinh tế và bảo tồn
    Hãy nhìn trên bản đồ và tìm Madagascar, đảo lớn thứ tư trên thế giới, chỉ ngoài khơi bờ biển phía đông Châu Phi. Tập trung vào phía tây nam khô ráo và tìm thị trấn Toliara, thủ phủ vùng đất nghèo khó này.

    9053074051_08e4d40f98_o.jpg

    Bây giờ hãy mường tượng một chuyến lái xe đi về phía bắc xuyên qua vùng đất nóng dọc theo con đường ghồ ghề đầy cát. bạn đang đi dọc theo bờ biển, bên rìa khu rừng kỳ lạ nhưng quyến rũ Spiny, một trong các hệ sinh thái đang bị nguy cấp nhất hành tinh.

    Ở phía tây là vùng nước xanh trong như ngọc bích và những vịnh lớn có rìa là một trong những rạn san hô ít được biết đến nhưng lớn nhất của Ấn Độ Dương. Bạn tiếp tục thưởng thức như thế trong 8 giờ, mồm há to với vẻ đẹp và màu sắc của những bãi biển chưa ai đụng đến xung quanh bạn.

    Cuối cùng bạn đến làng Andavadoaka, trung tâm của Velondriake, một trong những khu vực bảo tồn biển do cộng đồng quản lý lớn nhất của Ấn Độ Dương. Nguời dân nơi đây, người Vezo, là những chuyên gia thực thụ về bảo tồn. Thực tế, họ bảo tồn môi trường biển của họ từ năm 2006.

    9055298864_6f06d42bbf_o.jpg

    Hải sâm là một loài động vật da gai sống đáy – rất gần với sao biển – từng lổn ngổn dưới sàn đại dương khắp vùng nhiệt đới. Giống như những con giun vườn, chúng đóng một vai trò quan trọng trong việc tái sử dụng chất dinh dưỡng trong chất thải, tạo nền tảng cho chuỗi thực phẩm biển phức tạp. Sinh vật kỳ lạ này được tiêu thụ ở các nước Châu Á trong nhiều thế kỷ, được khen ngợi bỡi tính chất làm thuốc và là một loại thuốc kích thích tình dục ăn được. Tuy nhiên, nền kinh tế đang nổi của Trung Hoa đồng nghĩa với việc nhiều người có đủ tiền mua món đặc sản này, làm tăng nhu cầu của chúng.

    9055298886_f7de307836_o.jpg

    Điều có thể tiên đoán trước là số lượng hải sâm đã suy giảm nghiêm trọng, buộc những ngư dân sử dụng những phương pháp đánh bắt mạnh mẽ hơn để thu hoạch loài vật mỏng manh này. Trong những năm gần đây, ngư dân đã sử dụng thiết bị lặn khí nén để bắt những con hải sâm này ở vùng nước sâu – một thực tế bị cấm ở Madagascar nhưng ít được thực thi. Hiện nay, hải sâm đã bị tàn phá ở hầu hết các khu vực biển nhiệt đới có thể tiếp cận được.

    Hy vọng mới.

    Nhưng đừa sợ. Đây không phải là một câu chuyện tận thế về việc đại dương bị xà xẻo để phục vụ cho món ăn của con người. Có tia hy vọng mới cho cả hải sâm và cộng đồng Vezo. Các trại nuôi được quản lý ở địa phương đã bắt đầu mọc lên ở các vịnh cạn quanh Velondriake, giới thiệu những trại nuôi hải sâm bền vững về môi trường như một nguồn tiền mặt đơn giản cho người Vezo.

    9053074075_0b32195c07_o.jpg

    Sự hợp tác giữa một nhà xuất khẩu hải sản và Viện Biển của Toliara sử dụng kỹ thuật được cấp bằng sáng chế để sản xuất hải sâm non và bán cho ngư dân. Nhóm trại nuôi của cộng đồng sau đó nuôi những sinh vật có kích thước nhỏ này trong các lồng nuôi có mắc lưới cơ bản gần làng của họ. vì hải sâm kiếm ăn ở sàn đại dương, quá trình này không cần cung cấp thức ăn, chỉ có chi phí duy trì lồng nuôi và đôi mắt cảnh giác để canh chừng những kẻ săn trộm.

    Sau khoảng chín tháng, những sinh vật này có kích thước trưởng thành và được bán cho nhà xuất khẩu với giá khoảng 2,5 đô la mỗi con. Hệ thống thống nhất này đã kết nối những cộng đồng biệt lập với thị trường toàn cầu.

    9055298932_7e99a17ff2_o.jpg

    Hải sâm rất đắt tiền, bán được hàng trăm, thậm chí hàng ngàn đô la một ký tại điểm bán cuối cùng. Điều này có nghĩa những nông dân ở Velondriake, trước đây sống với chỉ 1,5 đô la một ngày, hiện nay đã gia tăng lợi tức của họ. Mới đây, mỗi nông dân đã có thêm thu nhập 30 đô la một tháng, với dự đoán gấp đôi lợi nhuận trong những tháng tới và tiếp tục tăng lên trong những năm tới. Hiện nay có khoảng 3 trại nuôi hải sâm ở Velondriake, được điều hành bỡi khoảng 200 nông dân.

    Có lẽ điều quan trọng nhất là, 48% những nông dân này là phụ nữ, một thành tựu không mong đợi trong một xã hội gia trưởng nặng nề.

    Kinh doanh độc lập

    Một nhóm các nhà kỹ thuật nuôi trồng huấn luyện nông dân và trợ giúp các gia đình quản lý trại của họ như một đơn vị kinh doanh độc lập. Chúng tôi cũng giúp huấn luyện những doanh nghiệp nhỏ, và hiện nay ngư dân đã tái đầu tư tiền bạc kiếm được vào giáo dục, mua gạo sỉ và mở rộng kinh doanh. Chúng tôi đã làm việc ở khu vực này từ năm 2003.

    Nguồn: Viết bỡi Taylor Mayol, Đ.Đ.S lược dịch. Bản tiếng Việt của Blog Biển và Người.
    • By Admin
    • 0 comments
    • 4 likes
    • 2 days ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Truong Huynh Nhu
    • Phạm Tiến Thành and
    • 1 other
  • Từ 3 – 5/9: Hội chợ Thủy sản Châu Á tại Hồng Kông 2013 (vasep.com.vn)
    Hội chợ Thủy sản Châu Á sẽ được tổ chức từ ngày 3 – 5/9/2013 tại Trung tâm Hội nghị và Triển lãm Hồng Kông, thu hút 6.000 nhà NK từ 50 nước và 150 công ty từ 25 nước tham gia.

    Hồng Kông được chọn tổ chức hội chợ năm nay bởi vị trí địa lý thuận tiện và là trung tâm chế biến tái XK tại khu vực Châu Á. Năm nay sẽ có nhiều sản phẩm chất lượng cao được trưng bày do thị trường Trung Quốc đang có nhiều nhu cầu đối với sản phẩm giá trị gia tăng như tôm hùm, cua, bào ngư, điệp, hàu, vẹm và trứng cá muối.

    Kinh tế phát triển và thu nhập cao khiến Trung Quốc tiêu thụ ngày càng nhiều sản phẩm thủy sản chất lượng cao cả từ nguồn trong nước và NK. Đây là cơ hội cho các nhà sản xuất và XK sản phẩm giá trị gia tăng.

    Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc (FAO) dự đoán mức tiêu thụ thủy sản bình quân đầu người của Trung Quốc sẽ tăng từ 12 kg hiện nay lên 36 kg vào năm 2020.

    Hồng Kông cũng đang là thị trường tăng trưởng và có tính cạnh tranh cao với giá trị tiêu thụ thủy sản đạt trung bình gần 2,68 tỷ USD, trong đó thủy sản NK lên tới 2,55 tỷ USD, còn nguồn cung nội địa chỉ đạt 128 triệu USD.
    Tháng 11/2013, Hội chợ Nghề cá Trung Quốc sẽ được tổ chức với 2.300 gian hàng, 900 công ty và 17.000 khách tham quan đến từ 84 nước trên thế giới.

    Nguồn: Ngọc Hà, (Theo seafoodnews.com)

    >> Thông tin và đăng ký tham dự tại: http://www.asianseafoodexpo.com/
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 3 likes
    • 2 days ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Truong Huynh Nhu and
    • Phạm Tiến Thành
  • Ảnh hưởng của độ mặn khác nhau lên tăng trưởng của ba khía (Sesarma mederi)
    Đề tài “Ảnh hưởng của độ mặn khác nhau lên tăng trưởng của ba khía (Sesarma mederi)” được thực hiện tại Khoa Thủy Sản – Trường Đại học Cần Thơ. Thời gian thực hiện 1 tháng. Mục tiêu của nghiên cứu là tìm ra độ mặn thích hợp để ương ấu trùng nhằm đạt tỷ lệ sống và tăng trưởng tốt nhất.

    Thí nghiệm được tiến hành với 5 nghiệm thức với các độ mặn lần lượt là 5‰, 10‰, 15‰, 20‰ và 25‰. Mỗi nghiệm thức có 3 lần lặp lại. Thí nghiệm ba khía được ương trong các bể nhựa 70 lít có chứa 20 lít nước ương và được sục khí nhẹ. Giá thể được chọn là chùm dây nylon để làm chỗ trú ẩn cho ba khía.

    Trong thí nghiệm ba khía được bố trí với mật độ 30 con/bể. Ba khía được chọn để bố trí có chiều dài trung bình là 2mm. Thức ăn được chọn là thức ăn công nghiệp dạng mãnh và tép băm nhuyển. Thức ăn công nghiệp được cho ăn vào buổi sáng và buổi chiều cho ăn tép băm nhuyển. Kết quả cho thấy ba khía được ương ở độ mặn 25‰ có tốc độ tăng trưởng cao nhất với chiều dài là 4,22 mm và có tỷ lệ sống cao nhất là 60% ở nghiệm thức 5‰. Kết quả thí nghiệm này cho thấy khả năng chịu đựng của ba khía là rất lớn. Ba khía có thể thích nghi với độ mặn từ 5‰ đến 25‰. Sự chênh lệch giữa các nghiệm thức về tỷ lệ sống và tăng trưởng không có ý nghĩa thống kê. Kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng rộng rải vào sản xuất thực tế phục vụ cho nghề nuôi ba khía.

    Nguồn: Nguyễn Khánh Ly. Luận văn tốt nghiệp năm 2009, Khoa Thủy sản, ĐH. Cần Thơ.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 3 likes
    • 2 days ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Admin and
    • Phạm Tiến Thành
  • Các nhà nghiên cứu đang phát triển kỹ thuật nuôi cá ngừ ở Mỹ
    Bơi vòng quanh bể 20.000 gallon nước tại Bay Campus của Đại học Rhode Island là những con cá ngừ vây vàng lớn bắt được mùa thu vừa rồi cách bờ đảo Rhode 100 dặm. Những con cá này là một phần của nỗ lực đầu tiên nuôi cá ngừ vây vàng ở Mỹ ở một cơ sở trên đất liền để đáp ứng nhu cầu gia tăng đối với một trong những loài săn mồi hàng đầu của đại dương.

    “Nhu cầu cá ngừ thế giới gia tăng hàng năm, ngay cả khi trữ lượng cá ngừ giảm sút,” Terry Bradley, một giáo sư về nghề cá và nuôi trồng thủy sản của trường, nói. “Những gì chúng tôi đang cố làm là sản xuất cá trong điều kiện nuôi nhốt và giảm bớt áp lực cho cá tự nhiên.”

    Ông Bradley and Peter Mottur, giám đốc công ty Greenfins ở đảo, đang thực hiện những bước đầu tiên của việc phát triển kỹ thuật nuôi cá ngừ từ trứng tới kích thước khai thác trong khi sáng tạo một ngành bền vững ở Rhode Island.

    Theo ông Bradley, một số nơi ở Úc, Mexico hay Địa Trung Hải đang thực hiện những dự án gọi là “Trại nuôi cá ngừ” bằng cách bắt cá ngừ tự nhiên, thả chúng vào lồng nuôi và nuôi chúng đến kích thước thu hoạch. “Tất cả những gì họ làm là bắt cá tự nhiên và vỗ béo chúng,” ông nói. “Nó vẫn hủy hoại trữ lượng cá tự nhiên và có ảnh hưởng dài hạn với cá ngừ.”

    Ông Bradley và ông Mottur đang bắt đầu quá trình bằng cách cho đẻ một số cá ngừ bắt ngoài tự nhiên ở bể cá này, nhưng đó là một nhiệm vụ khó khăn. Cá ngừ là loài di cư quãng đường tương đối xa với tốc độ lớn, vì thế, làm chúng thích nghi với môi trường bể nuôi có đường kính 20 feet đã là một thách thức. Một khi cá đẻ và trứng nở, ấu trùng nhỏ li ti phải được cho ăn thực phẩm sống được nuôi tại chỗ. Sau đó chúng phải được tập cho quen từ loại thực phẩm sống tới loại thức ăn khô được sản xuất theo công thức.

    “Những giai đoạn đầu tiên của dự án là nghiên cứu – học hỏi về chu kỳ sống đầu tiên của loài cá này và phát triển kỹ thuật nuôi chúng,” ông Bradley nói. “Nhưng chúng tôi nghĩ chúng có tiềm năng thương mại lớn.”

    Hai ông Bradley và Mottur mường tượng những nhà doanh nghiệp địa phương sử dụng kỹ thuật mà họ phát triển để sản xuất cá ngừ non sau đó bán cho những người khác muốn nuôi chúng lớn lên. Ở Nhật Bản, một con cá ngừ non dài 8 inch đang nuôi nhốt có thể bán được 100 đến 125 đô.

    “Đây là một dự án bền vững và chúng tôi hy vọng sẽ tạo ra những công việc kỹ thuật xanh ở Rhode Island làm đòn bẩy cho một trung tâm tri thức lớn mà chúng tôi có ở bang này,” ông Mottur nói. “Chúng tôi đã phát triển sự hợp tác giữa trường URI và công ty chúng tôi, và chúng tôi hy vọng đưa nó từ giai đoạn nghiên cứu đến giai đoạn thương mại một khi chúng tôi chứng minh được sự thành công trong việc nuôi cá ngừ từ giai đoạn ấu trùng.”

    “Ông Mottur bắt đầu nhiều công ty công nghệ ở Rhode Island, nhưng niềm đam mê của ông là đại dương và ông thích các môn câu cá biển khơi và lặn tự do, điều này dẫn đến việc ông biết về vấn đề mà cá ngừ đối mặt.

    “Tôi tham gia vào dự án khi tôi biết rằng không có tổ chức nào khác ở Mỹ chuyên nuôi cá ngừ,” ông Mottur, một người tốt nghiệp ngành nghề cá và nuôi thủy sản của trường này, nói. “Tôi nhìn thấy cơ hội khổng lồ với cá ngừ vây vàng và cuối cùng là cá ngừ vây xanh, loài này đã chịu áp lực đánh bắt toàn cầu đáng kể trong suốt 20 năm qua.”

    Hai ông Bradley và Mottur tin tưởng một bể lớn hơn, sẽ được xây dựng tại đây vào cuối năm, sẽ gia tăng đáng kể khả năng thành công của dự án.

    “Cá ngừ là loài cá đại dương đòi hỏi nhiều không gian và cần chất lượng nước tốt,” ông Bradley nói. “Nếu bạn cho quá nhiều cá vào bể, chúng sẽ bị căng thẳng và chất lượng nước bắt đầu suy giảm. Bạn càng tạo ra ít căng thẳng cho chúng, chúng sẽ càng sinh sản trong khung thời gian hợp lý.”

    Theo hai ông, lúc này là thời điểm lý tưởng để đầu tư nuôi cá ngừ. “Nhật Bản không có khả năng sản xuất ra tất cả cá ngừ mà nước họ cần, và Mỹ là một nước nhập siêu thủy sản, trong đó có cá ngừ,” ông Bradley nói. “Vì thế chúng tôi có tiềm năng lớn trong việc sản xuất loài cá có thể bán dễ dàng ở Mỹ, đặc biệt nếu đó là một sản phẩm bền vững theo cách thức có trách nhiệm với môi trường.”

    “Công ty phát triển kinh tế Rhode Island rất phấn kích để kết nối một nhà doanh nghiệp của đảo này và một trường đại học hàng đầu của bang trong dự án nghiên cứu nuôi cá ngừ bền vững độc đáo này,” John Riendeau, giám đốc phát triển kinh doanh của công ty, nói.

    Nguồn tin: H.V.M dịch, bản tiếng Việt của Blog Biển và Người.
    • By Truong Huynh Nhu
    • 0 comments
    • 3 likes
    • 2 days ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Admin and
    • Phạm Tiến Thành
  • Game chiến lược - Phage (armorgames.com)
    Đây là game chiến lược về việc lan truyền vi khuẩn, chơi vui khi rãnh rỗi. Tuy nhiên càng vào sâu càng cần một chiến lược rõ ràng mới mong chiến thắng.

    Chơi đỡ buồn trong khi chờ đợi một giải pháp mới với EMS. Ha ha
    • By AHPNS
    • 1 comment
    • 4 likes
    • 2 days ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Truong Huynh Nhu
    • Admin and
    • 1 other
    • Trieu Thanh Tuan Hy vọng chiến đấu với EMS dể hơn chơi game này, càng vào sâu càng rắc rối, cũng giống như tìm hiểu về EMS vậy:)
      • 0 likes
      • Like
      • Reply
      • 2 days ago
  • VIETFISH2013 (vietfish.com.vn)
    VIETFISH - Vietnam Fisheries International Exhibition

    Hội Chợ Triển Lãm Quốc Tế Thủy Sản Việt Nam (VIETFISH) là hội chợ chuyên ngành thủy sản nổi tiếng trên thế giới và lớn nhất tại Việt Nam được tổ chức bởi Hiệp Hội Chế Biến Và Xuất Khẩu Thủy Sản Việt Nam (VASEP) vào tháng 06 hàng năm tại Thành Phố Hồ Chí Minh. Hàng năm hội chợ thu hút gần 200 đơn vị triển lãm trong và ngòai nước, gần 30.000 lượt khách tham quan trên tòan quốc và nhiều nứơc trên thế giới. Qua 14 kỳ triển lãm, qui mô và tính chất của hội chợ ngày càng trở nên tầm cỡ và chuyên nghiệp hơn nhằm đáp ứng nhu cầu xúc tiến thương mại của tất cả các doanh nghiệp Việt Nam cũng như quốc tế. VIETFISH 2013 sẽ diễn ra từ ngày 25/06/2013 đến 27/06/2013 tại Trung Tâm Hội Chợ và Triển Lãm Sài Gòn (SECC) -799 Nguyễn Văn Linh, Q.7, Tp.HCM. Đây là cơ hội tốt nhất để các đơn vị quảng bá thương hiệu của mình ngay tại một hội chợ nổi tiếng ở Việt Nam có quy mô và tầm cỡ trên thế giới. Kính mời các đơn vị đang họat động trong lĩnh vực sau đăng ký tham gia triển lãm.

    Các công ty họat động trong các lĩnh vực:

    - Thủy sản: thủy sản đông lạnh, thủy sản chế biến, đồ hộp, thủy sản khô, nước mắm,…và tất cả các lọai thủy sản khác.
    - Máy móc thiết bị: máy và thiết bị chế biến, máy và thiết bị bao gói, thiết bị bảo quản, kho lạnh…..
    - Hóa chất phụ gia
    - Bao bì
    - Vận tải
    - Thông tin, công nghệ thông tin..
    - Dịch vụ tư vấn thiết kế
    - Tổ chức hành chánh sự nghiệp
    - Tất cả các ngành nghề khác có liên quan phục vụ cho ngành thủy sản.
    • By AHPNS
    • 0 comments
    • 3 likes
    • 2 days ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Truong Huynh Nhu and
    • Phạm Tiến Thành
  • Sản phẩm có tiềm năng chữa trị EMS trên tôm
    Dưới đây là bài phỏng vấn của Bob Rosenberry, Admin. của trang Shrimp News International với TS. Maurice Kemp, Giám đốc kỹ thuật của công ty Mionix Corporation về một sản phẩm có khả năng chữa trị EMS. Công dụng chính của sản phẩm này là làm giảm pH trong ruột tôm đến mức ức chế sự nhân lên của vi khuẩn; biến đổi thành ruột tôm làm cho vi khuẩn không thể bám vào và nhân lên; công dụng khác là kích thích hệ miễn dịch của tôm. Mình chỉ e ngại là khi pH trong ruột giảm đến mức có thể ức chế vi khuẩn Vibrio sẽ làm tổn thương thành ruột và từ đó ảnh hưởng đến khả năng tiêu hóa, hấp thu thức ăn và tăng trưởng của tôm. Hy vọng kết quả nghiên cứu thử nghiệm sẽ có hiệu quả trong phòng trị EMS trên tôm trong thời gian tới.

    Ngày 13 tháng 6 năm 2013, tôi có nói chuyện với TS. Maurice Kemp, Giám đốc kỹ thuật của Mionix Corporation một công ty công nghệ với các sản phẩm giúp giảm thiểu các tác nhân gây bệnh trong thực phẩm và kiểm soát bệnh do vi khuẩn có thể lây nhiễm sang động vật. Mionix Corporation kinh doanh sản phẩm gọi là "Vitoxal ®", một sự phối trộn của natri/canxi silicat nhôm với calcium sulfate acid hóa có khả năng ngăn chặn hội chứng chết sớm (EMS). Nghiên cứu gần đây ở Malaysia đã chỉ ra rằng độ pH cao gây ra bệnh EMS trong ao nuôi tôm. Vitoxal, trộn với thức ăn cho tôm ăn (sản phẩm được chấp thuận bởi FDA và USDA), làm giảm độ pH trong đường ruột của tôm giúp ngăn ngừa vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus nhân lên và lan rộng.

    Nhìn chung, quá trình axit hóa trong đường tiêu hóa tôm tạo điều kiện cho sự phát triển của vi khuẩn gram dương, tức là, vi khuẩn cạnh tranh loại trừ, chúng tiết ra các sản phẩm có khả năng ức chế hoặc ức chế sự phát triển của mầm bệnh vi khuẩn (ví dụ như vi khuẩn Vibrio spp. và Pseudomonas spp.). Vi khuẩn Gram âm, chẳng hạn như vi khuẩn Vibrio spp. và Pseudomonas spp. nhạy cảm hơn với những thay đổi pH hơn vi khuẩn gram dương.

    Shrimp News: Ông có nghĩ rằng sản phẩm Vitoxal sẽ có hiệu quả với việc ngăn chặn EMS?

    Maurice Kemp: Vâng, nhưng chỉ khi vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể tôm. Nếu vi khuẩn xâm nhập trước khi cho ăn Vitoxal thì nó không thể ngăn chặn bệnh, ngược lại nếu vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể của tôm sau khi cho ăn Vitoxal, rất có khả năng nó sẽ ngăn chặn được vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus lây nhiễm cho tôm.

    Shrimp News: EMS/AHPNS được gây ra bởi một loại vi khuẩn (Vibrio parahaemolyticus) bị nhiễm virus (một thể thực khuẩn) và lan truyền bằng đường miệng. Cùng với nhau, chúng xâm nhập vào đường tiêu hóa của tôm và qua thành ruột, kết quả gây nên nhiễm trùng toàn thân. Thông thường, một loại độc tố sau đó được sản xuất bởi các gen mã hóa của thực khuẩn thể được tiết ra, gây phá hủy mô và rối loạn chức năng của gan tụy, một cơ quan đa chức năng riêng biệt với ruột. Như vậy, có phải khi quần thể vi khuẩn Vibrio giảm, thể thực khuẩn cũng sẽ giảm?

    Maurice Kemp: Vâng, trên thực tế DNA của thực khuẩn trở thành một phần của DNA của vi khuẩn Vibrio, do đó khi vi khuẩn Vibrio giảm, thể thực khuẩn cũng sẽ giảm. 

    Shrimp News: Ông đã thử nghiệm sản phẩm này trên tôm? 

    Maurice Kemp: Vâng, nhưng không phải dùng để điều trị EMS. Vitoxal đã được sử dụng ở Ecuador để kiểm soát Vibrios ở giai đoạn đầu và cuối chu kỳ nuôi thương phẩm. Nó giúp loại bỏ các Vibrios sớm trong chu kỳ nuôi và nếu điều kiện môi trường xấu làm cho chúng xuất hiện trở lại, Vitoxal sẽ giúp kiểm soát vi khuẩn một lần nữa. Chúng ta không nói về việc tiêu diệt các vi khuẩn Vibrios như một loại kháng sinh, ở đây chúng ta đang nói về việc kiểm soát chúng, do đó, tôm sẽ tiếp tục phát triển bình thường.

    Shrimp News: Có phải khi pH thấp sẽ làm dừng sự nhân lên của vi khuẩn Vibrio trong đường ruột của tôm? 

    Maurice Kemp: Vâng, sau khi cho tôm ăn Vitoxal, độ pH sẽ giảm và làm dừng sự sao chép của vi khuẩn Vibrio trong đường ruột. Thông thường, đường ruột của tôm có độ pH trung tính (khoảng 7). Khi cho tôm ăn, Vitoxal sẽ làm giảm độ pH trong ruột xuống khoảng 4-5. Khi tiếp tục cho ăn như vậy nó sẽ làm giảm độ pH đến khi Vibrios không thể chịu đựng được. Ngoài ra, nghiên cứu thực hiện tại Trung tâm Nghiên cứu Nuôi trồng hải sản A&M Texas của Tiến sĩ Addison Lawrence chỉ ra rằng những thay đổi trên bề mặt của thành ruột tôm làm cho vi khuẩn Vibrios không còn khả năng bám vào và nhân lên, từ đó ngăn ngừa nhiễm trùng toàn thân. Nghiên cứu của tiến sĩ Lawrence cũng cho thấy Vitoxal có khả năng kích thích hệ thống miễn dịch của tôm, từ đó giúp tăng sức đề kháng và bảo vệ cơ thể tôm. Vì vậy, ngoài việc tạo ra một môi trường mà Vibrios không thể nhân lên, chúng còn làm thay đổi thành ruột và kích thích hệ thống miễn dịch của tôm. Ba yếu tố này sẽ ngăn chặn sự bùng phát EMS.

    Shrimp News: Ông có dự định nghiên cứu xác định mức độ acid hóa khi sử dụng sản phẩm này trên tôm bệnh EMS?

    Maurice Kemp: Có, chúng tôi sẽ làm nghiên cứu cảm nhiễm và xác định. 

    Shrimp News: Chi phí khi bổ sung sản phẩm này vào thức ăn tôm là bao nhiêu?  

    Maurice Kemp: Nó sẽ mất ít hơn 3% chi phí thức ăn khi được bổ sung ở mức 1%!

    © Triệu Thanh Tuấn, www.aquanetviet.org
    Information: Maurice C. Kemp, Ph.D., Mionix Corporation, Suite B 206-343, 8127 Mesa Drive, Austin, Texas 78759, USA (phone, 1-877-464-6649 or 916-616-7037, fax 1-520-441-9871, email info@mionix.com, webpage http://www.mionix.com).
    Sources: 1. Maurice Kemp, Telephone Interview by Bob Rosenberry, Shrimp News International. June 13, 2013. 2. Journal of the World Aquaculture Society. Effect of Dietary Supplementation of Acidic Calcium Sulfate (Vitoxal) on Growth, Survival, Immune Response and Gut Microbiota of the Pacific White Shrimp, Litopenaeus vannamei. Effect of Dietary Supplementation of Acidic Calcium Sulfate (Vitoxal) on Growth, Survival, Immune Response and Gut Microbiota of the Pacific White Shrimp, Litopenaeus vannamei. J. Davies Anuta (Agrilife Research Mariculture Laboratory, Texas A&M System, Port Aransas, Texas 78343, USA), Alejandro Buentello, Susmita Patnaik, Addison Lawrence (Texas AgriLife Research Mariculture Laboratory, Texas A&M University System, Port Aransas, Texas 78373, USA (phone (phone 1-361-749-4625, extension 223, email smpall@yahoo.com), Ahmed Mustafa, Michael E. Hume, Delbert M. Gatlin III and Maurice Kemp. Volume 42, Number 6, December 2011.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 16 comments
    • 8 likes
    • 3 days ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Truong Huynh Nhu
    • Admin and
    • 5 others
    • AHPNS Hầu hết người nuôi VN đều sử dụng "con vi sinh" như Bác nói, nhưng không phải lúc nào cũng tốt nhưng họ luôn trung thành với cách sử dụng vi sinh.

      Ao nuôi là một môi trường mở không dễ điều khiển như Bác nói nhé. Bác phải làm đi đã, nuôi mật độ 60 - 100 con đàng hoàng. Oxy đầy đủ và vi sinh đầy đủ Bác sẽ thấy là không dễ như Bác nói.

      Vi sinh cũng có 50 - 70 đường vi sinh, chưa kể phải biết cách sử dụng. Tui nuôi tất cả bằng vi sinh, xử lý sự cố cũng vi sinh, hiếm khi dùng hóa chất, trừ khi cải tạo ao ban đầu và sự cố buộc phải dùng hóa chất nhưng sau đó đều sử dụng vi sinh lại.

      Còn Minh Phú là vấn đề khác mà tui không bàn ở đây. Nhưng Minh Phú thì chuyên dùng EM. Mà từ EM sang EMS thì mấy hồi. Bác hiều rỏ về EM không? Thất bại luôn cần mổ xẻ nguyên nhân cho kỹ. Rút kinh nghiệm lần sau, mà Bác thì đá vào đít cái kinh nghiệm, vậy không biết Bác trọng cái gì nữa.
      • 3 likes
      • Like
      • Reply
      • 2 days ago
    • liemtran308 NUÔI BẰNG CÔNG NGHỆ BIOFLOC:


      - Có ca nào, có báo cáo(report) là nuôi bằng công nghệ cao Biofloc bị bệnh này bệnh nọ bệnh kia không?

      - Bởi vì con Men Vi Sinh là CHỦ LỰC....DỌ DẸP CẶN BẢ, GIẢI PHÓNG AMMONIA(NH3)....THÀNH PROTEIN(NH4)....ĐÁY AO SẠCH....CÂN BẰNG HỆ SINH THÁI.

      - Cặn bả ...ô nhiễm trong ao là thức ăn cho con vi khuẩn Xấu, con Virút.....trong ao giờ còn đâu thức ăn đâu để con vi khuẩn Xấu, con Virút bùng phát.....nó tự hũy tự diệt.

      - Vậy người nuôi với Công Nghệ Cao Biofloc có cần "TỐN TIỀN, CÔNG SỨC, SUY NGHĨ VÀ TƯ DUY PHONG THẦN) mua Nano để diệt khuẩn hay không?

      - Vậy người nuôi với Công Nghệ Cao Biofloc có cần "TỐN TIỀN, CÔNG SỨC, SUY NGHĨ VÀ TƯ DUY PHONG THẦN) mua máy Ozon để diệt khuẩn hay không?

      - Vậy người nuôi với Công Nghệ Cao Biofloc có cần "TỐN TIỀN, CÔNG SỨC, SUY NGHĨ VÀ TƯ DUY PHONG THẦN) mua máy Vitoxal để diệt khuẩn hay không?

      Trong toán học "điều kiện ắc có và đủ), với những lý do nêu trên...để

      Kết luận rằng:

      - Nuôi ao đất không cần diệt khuẩn
      - Không cần Nano
      - Không cần Ozon
      - Không cần Vitoxal


      NÓI VỀ KINH NGHIỆM:

      - Trong Ngành Nghề khác kinh nghiệm vài ba năm...10 năm...kinh nghiệm của họ đầy mình.

      - Trong Ngành Thủy Sản kinh nghiệm 10-20-30 năm là nghĩa địa gì...đừng giở giọng khoe khoang.....cho dù 1 triệu năm nữa nói chi là ngàn năm ....cùi bắp vẫ là cùi bắp ....dốt vẫn là dốt....khờ vẫn là khờ....ngu muội vẫn là ngu muội...khi mà BỆNH THỦY SẢN VẪN NẰM TRONG AO.

      Công ty Minh Phú là một điển hình về nuôi tôm là cty đứng nhất VN, nuôi tôm giàu nhất VN, đội nhân lực lao động nhiều nhất VN, đội TS KS nhiều nhất VN, có cty nuôi tôm nào sánh bằng....Tôm chết...lăng đùng ra chết...cty Minh Phú có cản được không.....TS thủy sản "GỌI LÀ" tài ba của toàn nước VN ngăn cản được không?

      Công ty Minh Phú với 30 năm kinh nghiệm đầy mình....356 ao tôm sú đi bụi....200 ao tôm thẻ đi bụi chỉ còn 20 ao....đấy đấy 30 năm kinh nghiệm đấy.

      Công ty Minh Phú với 30 năm kinh nghiệm mà đi mời Chuyên Gia của Indo qua tư vấn "CÁCH NUÔI, KỸ THUẬT NUÔI"....30 NĂM KINH NGHIỆM....nhục ơi là nhục.....

      10 NĂM KINH NGHIỆM NUÔI TÔM LÀ CÁI NGHĨA ĐỊA GÌ MÀ HÁ MIỆNG KHOE KHOANG?????????????????????


      Nước Mỹ hơn tất cả các nước trên Thế Giới, bởi vì họ coi trọng những nhà nghiên cứu về Quân Sự, Chính Trị, Kinh Tế...những nhà nghiên cứu này....ngôi tại văn phong ở nước Mỹ thấu nội tinh của các nước trên thế giới....mà khi có vấn đề gì....Tổng Thống nước Mỹ còn phải ý kiến và Tư Vấn của các chuyên gia này.

      Họ có đi ra khỏi nước MỸ....đi đến các nước để tìm hiểu hay không....thời chiến tranh lạnh... các vị nay có qua Công Hoa Liên Bang Sô Viết, qua bên Trung Quốc hay không ....mà vẫn biết tình hình quân sự, chính trị, kinh tế.

      HÃY TỪ BỎ TU DUY BẰNG CẤP, KINH NGHIỆM:

      - Bằng cấp chỉ là tờ giấy lộn lận lưng quần
      - Kinh nghiệm không có chân, không có mống...cất nhà....nhà sẽ sụp thôi

      TRỊ GỐC CHỨ AI TRỊ NGỌN:

      - Chữa lửa, dập lửa....xịt nước ngay chổ phát ra lửa....có sở cứu hỏa nào, lính cứu hỏa nào chữa cháy lấy vòi rồng xịt ở ngọn lửa?

      - Đập con rắn cho chết.....có ai đời nay đập cái đuôi của con rắn?


      THÍ DỤ:

      Bác AHPNS người giàu có không quen lao động chân tay cho nên:

      - Trong nhà "CÒN" đống rác, kiến bu ruồi đậu, Tám Lúa là người đi bán thuốc diệt ruồi diệt kiến...mang theo mấy chai trong mình.

      Tám Lúa đi ngang qua nhà của bác AHPNS thấy ruồi đậu kiến bu như vậy.... mới mời bác AHPNS mua 1 chai diệt kiến, diệt ruồi.....

      Tám Lúa lấy ra 1 chai...xịt một cái kiến ruồi lăng đùng ra chết tại chổ.

      Bác AHPNS thấy hiệu quả quá mới "ĐẮC Ý", thôi bác Tám bán cho AHPNS 1 chai đi.....ruồi kiến đến là bác AHPNS xịt đả cái tay...khoái chúi tử.... hết chai này...mua chai khác....Tám Lúa bỏ tiền đầy túi....ka ka....đi quán bia ôm, gội đầu tá lã.....


      Một ngày kia bác Phạm Tiến Thành nghèo thất nghiệp đến nhà bác AHPNS chơi....xem bác AHPNS có mướn làm lặt vặt gì không để kiếm tiền xài.

      Thấy bác AHPNS lui cui xịt mấy con kiến con ruồi....bác Phạm Tiến Thành mới nói....có gì đâu mà bác AHPNS phải nhọc công xịt, lại tốn tiền mua thuốc xịt, mắc lắm....trả em 1 chút tiền em dọn đống rác là xong...không còn mùi hôi...không còn ruôi đậu kiến bu....

      Bẳng đi....bác AHPNS không còn mua thuốc của Tám Lúa nữa...Tám Lúa không có tiền ....đi quán bia ôm, gội đầu...hu hu...

      Trong câu chuyện:

      - Bác AHPNS là người nuôi tôm
      - Rác là phân thải của tôm
      - Mùi hôi là Ammonia
      - Bác Phạm Tiến Thành là con men vi sinh
      - Tám Lúa là thuốc diệt khuẩn, là Nano, là Ozon


      KẾT LUÂN:

      - Tám Lúa "Chủi Dã Man" như THúy Loan Trần nói....đọc bài của Tám lúa cũng không hiểu!!!!

      - Tám Lúa dùng lời "Bất Bạo Động"....đọc bài của Tám Lúa cũng không hiểu!!!

      - 2-3 anh em của Tám Tường ở Sóc Trăng nuôi tôm đi bụi....thấy Tám Tường trúng đậm 210 triệu cũng không tin Tám Tường và cũng không tin là Tám Lúa giúp cho Tám Tường....anh em ruột còn không tin...he he.....

      Mọi người trên mạng đều là người dưng....làm sao tin được Tám Lúa:

      - Tốt nghiệp lớp 9
      - Kỹ thuật nuôi tôm không bằng cấp, không kinh nghiệm thực tế
      - Nuôi tôm trên mạng, nuôi tôm trên trời, nuôi tôm trên bàn phiếm


      Thầy giáo, giáo sư Thủy Sản có tên nào có kinh nghiện nuôi tôm chưa?


      Nói Nhiều Vô Ích!!!!

      Đờn khảy Tai T.....


      Bye bye


      Trần Thanh Liêm
      (Tám Lúa Liemtran308)
      Chuyên gia nghiên cứu cải tiến cách nuôi trồng Thuỷ Sản tại Hoa Kỳ
      Seattle, USA
      • 0 likes
      • Like
      • Reply
      • 2 days ago
    • AHPNS Khoa học về vi khuẩn nói chung (cả lợi và hại) là môn khoa học rất phức tạp và loài người khó lòng hiểu đầy đủ về nó. Nó luôn biến đổi - và biến đổi rất nhanh - cho nên không dễ dàng để có thể khống chế (vi khuẩn có hại) và cũng không dễ dàng để ứng dụng (vi khuẩn có lợi) đúng cách.

      Các bệnh và hội chứng do vi khuẩn nói chung (trên cả người và động vật nuôi, trong đó có tôm cá) cho dù là tiên phát hay thứ phát đều luôn gây khó khăn - thậm chí rất khó khăn - trong việc ngăn ngừa và chữ trị. Kiến thức sơ đẳng này không phải ai cũng biết, cho dù có tốt nghiệp ngành thủy sản ra đi chăng nữa.

      Trang này theo tôi rất hay, có nhiều kiến thức bổ ích, có nhiều kiến thức có thể ứng dụng được ngay ngoài thực tiễn sản xuất, có nhiều kiến thức để ta phải suy gẫm, tìm hiểu thêm. Với kinh nghiệm 18 năm hoạt động trong lĩnh vực thủy sản, tôi đánh giá cao nỗ lực của Ban Quản trị trang này.

      Với 10 năm liền nuôi tôm, tôi có đủ kinh nghiệm, kiến thức và tư duy để tiếp cận kiến thức mới và luôn luôn như thế.

      Cho nên tôi thấy, thật không thích hợp tí nào cho những phê phán vô căn cứ trên trang này mà không cần tìm hiểu nó đúng hay sai. Với kiến thức hạn hẹp và lối tư duy thiếu logic, ưa thich phê bình mà không hiểu gì về cái mình đang nói đang làm xấu đi hình ảnh của trang này và chẳng đóng góp được gì hữu ích cả.

      Tôi nghĩ, các bác nào ưa thích phê phán (mà kiến thức quá hạn hẹp, kinh nghiệm thực tiễn cũng không có) thì tốt nhất nên thôi đi. Nên hành động thiết thực hơn, chẳng hạn như đóng góp kiến thức, kinh nghiệm của mình cho cộng đồng, hoặc tốt hơn nữa thì đi mà tìm giải pháp cho vấn đề EMS/AHPNS để chia sẽ với người nuôi. Các bác luôn được ghi ơn và vinh danh vì điều đó.

      Còn nếu không, các bác chính là những người chỉ biết nói nhưng chẳng biết làm và đóng góp tích cực cho sự nghèo khó của ngành TS thêm mà thôi. Đó là biểu hiện đặc trưng của bệnh ảo tưởng về năng lực của mình, tự tôn, và thiếu tôn trọng chính bản thân các bác.

      Điều này thật đáng xấu hổ và tôi - một người nuôi - đang thực sự nổi điên vì cái tư duy của hạn hẹp, cái lối văn chương nghèo nàn, và cái thói rãnh rổi đi phê phán của các bác.
      • 1 like
      • Like
      • Reply
      • 3 days ago
    • 13 more comments
  • Ảnh hưởng của oxy hòa tan lên sử dụng thức ăn và tăng trưởng của tôm càng xanh (...
    Tóm tắt

    Tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) là loài nuôi quan trọng ở vùng nước ngọt. Nghiên cứu này nhằm xác định sự ảnh hưởng của các mức oxy hòa tan (30, 60 và 100% oxy bão hòa) lên sự tiêu hóa thức ăn, tỉ lệ sống, chu kỳ lột xác và sự tăng trưởng của tôm càng xanh.

    Kết quả cho thấy ở nghiệm thức 30% oxy bão hòa tổng thời gian sử dụng và tiêu hóa thức ăn của tôm kéo dài hơn so với hai nghiệm thức còn lại (theo thứ tự là 7 giờ, 6 giờ và 5 giờ). Số lần lột xác của tôm có sự khác biệt có ý nghĩa giữa nghiệm thức 30% oxy bão hòa (4 lần) với hai nghiệm thức 60 và 100% oxy bão hòa (5 lần). Khối lượng trung bình của tôm sau 90 ngày nuôi ở nghiệm thức 30% oxy bão hòa là 13,7g và khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) so với nghiệm thức 60% oxy bão hòa (17,3 g) và 100% oxy bão hòa (19,1 g). Kết quả nghiên cứu cho thấy khi hàm lượng oxy hòa tan trong nước khoảng 30% mức bão hòa đã có sự ảnh hưởng đến sử dụng thức ăn và phát triển của tôm càng xanh.

    Phương pháp nghiên cứu

    1. Thí nghiệm ảnh hưởng của oxy hòa tan lên thời gian tiêu hóa thức ăn của tôm càng xanh

    - Bố trí thí nghiệm
    Thí nghiệm gồm 3 nghiệm thức (30, 60 và 100% oxy bão hòa) được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên trong bể composite 1 m3, mực nước trong bể 70-80 cm. Tôm được bố trí vào trong các sọt nhựa có vách ngăn bằng lưới thành 2 ô và mỗi ô chứa 1 con tôm. Mỗi bể composite 1 m3 đặt 8 sọt (tương ứng với 16 con tôm). Tôm trước khi bố trí thí nghiệm được cân khối lượng. Hàm lượng oxy hòa tan trong nước ở các nghiệm thức được điều khiển bởi hệ thống máy oxy Guard.

    - Phương pháp thu mẫu
    Sau khi cho tôm ăn đến khi tôm ngừng ăn tiến hành thu mẫu dạ dày theo nhịp thời gian để xác định sự hiện diện của thức ăn trong dạ dày tôm và lượng thức ăn có trong dạ dày. Mẫu tôm và dạ dày sẽ được thu sau khi cho tôm ăn 20 phút, 40 phút, 1 giờ, 2 giờ, 3 giờ,… cho đến khi dạ dày hết thức ăn. Mỗi nhịp thu 5 dạ dày tôm của mỗi nghiệm thức. Mẫu tôm và dạ dày sau khi thu được xác định khối lượng tươi và khối lượng khô (mẫu được sấy trong tủ sấy 105oC trong 24 giờ để xác định trọng lượng khô).

    2. Thí nghiệm ảnh hưởng của oxy hòa tan lên tăng trưởng của tôm

    - Bố trí thí nghiệm
    Thí nghiệm gồm 3 nghiệm thức là 30, 60 và 100% oxy bão hòa, tương tự như thí nghiệm theo dõi thời gian tiêu hóa thức ăn. Tôm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên trong bể composite 1 m3, mực nước trong bể 70-80 cm. Tôm được nuôi trong các sọt nhựa có vách ngăn bằng lưới thành 2 ô và mỗi ô chứa 1 con tôm. Mỗi bể composite 1 m3 đặt 8 sọt nhựa (tương ứng với 16 con tôm), lặp lại 4 lần mỗi nghiệm thức và thí nghiệm được tiến hành trong 90 ngày. Hàm lượng oxy hòa tan trong các nghiệm thức được điều khiển bởi hệ thống máy oxy Guard. Mỗi bể được thả thêm 3 con cá lau kiếng nhằm góp phần làm sạch đáy bể và giảm một phần oxy hòa tan trong nước ở 2 nghiệm thức 30 và 60% oxy bão hòa.

    - Chăm sóc
    Khối lượng tôm được cân trước khi bố trí vào từng nghiệm thức. Tôm được cho ăn theo nhu cầu 2 lần/ngày vào lúc 8 giờ và 16 giờ, thu thức ăn thừa sau 1-2 giờ. Hàng ngày trước khi cho tôm ăn thì làm vệ sinh bể để loại phân và thức ăn thừa. Thay nước các bể sau mỗi 3-5 ngày và mỗi lần thay không quá 30% thể tích bể.

    - Chỉ tiêu theo dõi
    Hàng ngày theo dõi và ghi nhận nhiệt độ, hàm lượng oxy hòa tan trên màn hình máy oxy Guard vào lúc 8 giờ và 16 giờ. Các chỉ tiêu môi trường như pH, NH3, NO2 và NO3 được đo một lần mỗi tuần. Ghi nhận số tôm chết và tôm lột xác hàng ngày. Mỗi tháng và sau khi kết thúc thí nghiệm tôm được thu để cân khối lượng từng cá thể.

    - Các chỉ tiêu tính toán
    + Hàm lượng oxy hòa tan (mg/L)=(% bão hòa x A)/100 (A: giá trị độ hòa tan của oxy ở nhiệt độ và độ mặn tương ứng (Colt, 1984)
    + Chu kỳ lột xác: chu kỳ lột xác của tôm là khoảng thời gian được tính từ lần lột xác này cho đến lần lột xác kế tiếp.
    + Tỉ lệ sống (%)=(số cá thể cuối thí nghiệm/số cá thể đầu)x100
    + Tăng trưởng: Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối (g/ngày): DWG=(Wt–W0)/t; Tốc độ tăng trưởng tương đối (%/ngày): SGR=[(LnWt–LnW0)/t]x100. Trong đó: W0: khối lượng tôm ở thời điểm ban đầu (g); Wt: Khối lượng tôm ở thời điểm kết thúc thí nghiệm (g), t: thời gian nuôi (ngày)

    © Triệu Thanh Tuấn, www.aquanetviet.org
    Nguồn: Triệu Thanh Tuấn, Mark Bayley và Đỗ Thị Thanh Hương. Tạp chí Khoa học 2011:17b 240-250, Trường Đại học Cần Thơ.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 1 comment
    • 4 likes
    • 3 days ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Admin
    • Thuy Loan Tran and
    • 1 other
    • Trieu Thanh Tuan [40319,AHPNS] đây là một phần luận văn tốt nghiệp master của mình nè.
      • 1 like
      • Like
      • Reply
      • 3 days ago
  • Mô bệnh học của Kabatana arthuri (Microspora) nhiễm trên cá tra, Pangasius sutch...
    Kabatana arthuri (Lom, Dykova và Shaharom, 1990) đã gây ra sự thay đổi rất nghiêm trọng trên cơ của cá tra Pangasius sutchi ở Thái Lan. Sự hoại tử xảy ra trên các sợi cơ theo các giai đoạn phát triển và trên bề mặt của các bào tử khổng lồ. Đặc điểm chính sự phản ứng lại của ký chủ là sự thực bào của các đại thực bào. Phản ứng viêm được quan sát rất hiếm. Các đại thực bào spore-laden được tìm thấy trên các cơ quan và mô khác nhau; sự thâm nhiễm của chúng qua lớp biểu bì bao gồm những lớp ở ngòai cùng của nó có thể làm gia tăng tốc độ nhiễm trong khi ký chủ vẫn còn sống.

    Cá tra Pangasius sutchi (Fowler, 1937) là loài cá làm thức ăn quan trọng. Cơ vân của cơ thể cá là vị trí đặc biệt của sự phát triển của nhiều loài tiểu bào tử trùng thuộc giống Heterosporis Schubert, 1969; Pleistophora Gurley, 1983 và của nhiều nhóm Microsporidium. Các loài tiểu bào tử trùng nhiễm trên cơ vân thì hầu hết gây ra bệnh lý rất nghiêm trọng trên cá. Bốn mẫu cá tra P. sutchi bị nhiễm thu thập tại các trại nuôi cá ở vùng Bangkok (Thái Lan) được thí nghiệm; trong đó 2 mẫu nhiễm thấy các đốm trắng lớn xuyên qua da. Mô tả các vùng và phạm vi bị thương tổn, tòan bộ cơ thể của tất cả các mẫu (dài 3.5 cm) được cố định trong dung dịch Davidson được thay đổi cho mô cá nước ngọt. Các mẫu được đúc khối trong Histoplast-S và được cắt song song với trục dọc của cơ thể cá. Mẫu mô được nhuộm bằng haematoxyline và eosin (H&E), Trichorome và Giemsa. Sự thay đổi mô chủ yếu do Kabatana arthuri (Lom, Dykova và Shaharom, 1990) ở cá tra P. sutchi được tìm thấy ở hệ cơ phần bên, cơ lưng và cơ bụng.

    Người dịch: Ks. Đặng Thụy Mai Thy (dtmthy@ctu.edu.vn), BM Sinh học và Bệnh Thuỷ sản, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
    Nguồn tin: Iva Dyková và Jiri Lom - Khoa ký sinh trùng, Viện khoa học Cộng hòa Czech - Folia Parasitologica 47: 161-166, 2000
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 4 likes
    • 3 days ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Truong Huynh Nhu
    • Admin and
    • 1 other
  • Hiệu lực của “vaccine sống cải tiến Edwardsiella ictaluri” trên cá da trơn ở gia...
    Bốn loại vaccine được dùng trong nghiên cứu bao gồm 3 loại vaccine sống cải tiến dưới dạng đông khô (Immuno X+5, Immuo2 X+5, Serial 1A) và 1 loại vaccine sống truyền thống (RE-33). Cá da trơn (Ictalurus punctatus) được gây miễn dịch bằng phương pháp ngâm ở các ngày tuổi khác nhau là 7, 10, 12, 14, 16 và 31. Ở ngày thứ 20-21 sau khi gây miễn dịch với vaccine, cá được gây cảm nhiễm với E. ictaluri bằng phương pháp ngâm và tỉ lệ cá chết được ghi nhận trong 14 ngày.

    Cá được gây miễn dịch với vaccine RE-33 ở 12, 14, 16, 31 ngày tuổi với thời gian ngâm cá trong vaccine là 2 và 10 phút. Sau thời gian gây cảm nhiễm, tỉ lệ sống của cá được ghi nhận 45,3-79,5%. Khi cá được ngâm với vaccine trong 2 phút thì đều biểu hiện hiệu quả bảo hộ của vaccine đối với E. ictaluri. Trong khi đó, cá ở 16 ngày tuổi và được ngâm với vaccine trong 10 phút thì cho kết quả ngược lại.

    Hiệu lực của các loại vaccine trên cũng được đánh giá ở cá 7 và 10 ngày tuổi bằng phương pháp ngâm trong 2 phút. Kết quả cho thấy đối với cá 7 ngày tuổi, tỉ lệ sống của cá được gây miễn dịch dao động khoảng 58,4-77,5%; cá 10 ngày tuổi thì dao động khoảng 64,1-78,9%. Như vậy, hiệu lực của vaccine đã thể hiện được khi cá được gây miễn dịch ở giai đoạn 7 ngày tuổi.

    Người dịch: Ks. Đoàn Nhật Phương, BM Sinh học và Bệnh TS, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
    Nguồn tin: Craig A. Shoemaker, Phillip H. Klesius, Joseph M. Bricker. 1999. Efficacy of a modified live Edwardsiella ictaluri vaccine in channel catfish as young as seven days post hatch Aquaculture 176.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 2 likes
    • 3 days ago
    • Trieu Thanh Tuan and
    • Phạm Tiến Thành
  • Kiểm soát bệnh tôm bằng ứng dụng vi sinh hữu ích trong nuôi trồng thuỷ sản
    Tổng sản lượng tôm nuôi trên thế giới bị giảm phần lớn nguyên nhân do bệnh, một phần do vi khuẩn phát sáng Vibrio hoặc virus gây ra.

    Một lượng lớn thuốc kháng sinh đã được sử dụng, nhưng không có hiệu quả trong nhiều trường hợp hoặc làm tăng độc lực của mầm bệnh và nó cũng là nguyên nhân gây nên sự kháng thuốc cho dòng vi khuẩn gây bệnh trên người. Áp dụng kỹ thuật sử dụng vi sinh vật hữu ích (probiotic bacteria) là một giải pháp để giải quyết vấn đề này. Quần thể vi sinh trong các bể nuôi hoặc trong ao nuôi có kích thước lớn có thể thay đổi bằng việc thêm vào những dòng vi khuẩn có ích thay cho những dòng gây bệnh. Kết quả cho thấy số lượng lớn vi khuẩn phát sáng giảm khi bổ sung dòng chọn lọc Bacillus vào. Một nông trại ở Negros, Philippines, bị thiệt hại do vi khuẩn phát sáng Vibrio khi sử dụng liều cao kháng sinh cho vào thức ăn; nhưng đã đạt được tỉ lế sống 80-100% khi bổ sung vi sinh vật hữu ích trong tất cả các ao nuôi tôm.

    Người dịch: Ths. Phạm Thị Tuyết Ngân (pttngan@ctu.edu.vn), BM Thủy sinh học Ứng dụng, Khoa Thuỷ sản, Đại học Cần Thơ.
    Nguồn tin: David J. W. Moriarty (1999). Disease control in shrimp Aquaculture with probiotic bacteria. Biomanagement system Pty. Ltd., 315 Main road, Wellington point. Quennsland 4160 Australia and Department of Chemical Engineering. The University of Queensland. Qld. 4072 Australia.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 2 likes
    • 3 days ago
    • Trieu Thanh Tuan and
    • Phạm Tiến Thành
  • Trồng rong câu Gracilaria (Rhodophyta) trong ao nước thải của tôm ở Brazil
    Hoạt động nuôi tôm biển thâm canh tạo ra một lượng lớn chất thải, phần lớn là nitơ và phospho được thải ra mà không qua xử lý sẽ gây ô nhiễm môi trường nước. Nghiên cứu sử dụng hai chất này làm nguồn dinh dưỡng để trồng rong biển và đồng thời làm giảm chất thải trong môi trường nước là biện pháp có thể thực hiện được, do rong biển được xem là loài thực vật biển có khả năng hấp thu chất thải động vật một cách có hiệu quả. Rong câu Gracilaria sp được chọn trong thí nghiệm này vì tính sẵn có và tiềm năng kinh tế của chúng, Mục tiêu của nghiên cứu nhằm bước đầu đánh giá sản lượng và tốc độ tăng trưởng của rong được trồng trong ao nước thải của tôm.

    Nghiên cứu đã được thực hiện từ tháng 12/2000-04/2001 ở bang Rio Grande do Norte (Brazil). Diện tích khu nuôi tôm là 40 ha, nền đáy là đất sét pha cát, mức nước 1,0-1,5 m. Mật độ tôm nuôi 25 con/m2, năng suất trung bình 4000kg/ha/năm. Lượng thức ăn (10-3%) trọng lượng thân/ngày và giảm theo sự tăng kích cỡ của tôm. Các thông số thủy lý-hóa của nước (nhiệt độ, độ mặn, pH, oxy hòa tan và độ trong) được theo dõi. Rong câu được trồng ở kênh thoát nước chứa nước thải tôm, sâu 1,5 m và rộng 8,0 m. Phân urê, monoammonium phosphate and calcium nitrat được sử dụng, bón phân lần đầu trong thời gian bơm đầy nước ao. Sau đó phân được bón thêm dựa theo màu nước và độ trong của ao.

    Rong câu Gracilaria được trồng trong 6 bè, mỗi bè gồm một khung 1,0x1,0 m làm bằng ống PVC và dây thừng (5mm). Các bè rong câu được đặt trong ao nước thải, ba bè được bố trí thẳng hàng ở giữa ao, các bè khác được đặt gần nơi tháo nước thải. Chúng được treo lơ lửng dưới mặt nước 0,3m có gắn phao nổi, dây neo ở đáy có dây thừng buộc vào khối đá. Dây thừng được buộc qua khung và tản rong câu được chèn vào giữa dây.

    Rong câu được thu hoạch mỗi 15 ngày, rửa sạch, cân trọng lượng và đặt lại vào bè sau khi điều chỉnh lại trọng lượng rong ban đần (810 g). Do hàm lượng phù sa trong nước cao, mỗi 2 ngày di chuyển các bè rong qua lại nhẹ nhàng để tránh phù sa bám trên thân rong câu.

    Trong suốt thời gian nghiên cứu, nhiệt độ nước ở khu nước thải, nơi trồng rong câu dao động 28-32oC, độ mặn: 30-43‰. Hàm lượng oxy hòa tan: 4,1-6,8 mg/L, độ trong trung bình 37 cm và pH biến động khá lớn trung bình là 7,9 ±. 0,31. Biến động hàm lượng các chất dinh dưỡng bị ảnh hưởng nhiều bởi chu kỳ bón phân. NH4 dao động 0,4-20 mg/L, NO3: 2,97-8,0 mg/L, PO4: 0,1-0,8 mg/L.

    Sau 5 tháng thí nghiệm năng suất rong biến động rất lớn theo thời gian, đạt tối đa 2540 g/m2 và tối thiểu 380 g/m2, trung bình là 1418 ± 708 g/m2. Năng suất rong câu đạt cao nhất trong 15 ngày đầu, và đôi khi đạt đến 190% so với khối lượng giống ban đầu. Theo kết quả này, sản lượng rong câu có thể đạt được 23,93 tấn/ha/năm (trọng lượng khô). Qua phân tích ANOVA cho thấy tốc độ tăng trưởng tương đối (RGR) của rong câu khác nhau có ý nghĩa (P<0.05), RGR dao động từ 8,8% đến 1,8%/ngày. Sự biến động hàm lượng các chất dinh dưỡng chịu ảnh hưởng chủ yếu bởi chu kỳ bón phân trong ao, NH4 là chất dinh dưỡng có hàm lượng cao nhất và biến động từ 0,4 -20 mg/L. Không có sự tương quan giữa RGR và các thông số môi trường trong suốt thời gian nghiên cứu (P>0.05). Dựa theo kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng rong câu Gracilaria sp. có thể trồng được trong ao nước thải của tôm. Tuy nhiên, cần tiến hành nghiên cứu trên phạm vi rộng hơn và thời gian lâu hơn để xác định tính khả thi của việc nuôi rong thương phẩm từ nguồn nước thải của các trại tôm.

    Người dịch: Ths. Nguyễn Thị Ngọc Anh (ntnanh@ctu.edu.vn), Bộ môn KTN Hải sản, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
    Nguồn tin: E. Marinho-Soriano E., C. Morales and W.S.C. Moreira. Cultivation of Gracilaria (Rhodophyta) in shrimp pond effeluents in Brazil. Aquaculture Research, 2002 (33): 1081-1086.
    • By Admin
    • 0 comments
    • 2 likes
    • 3 days ago
    • Trieu Thanh Tuan and
    • Phạm Tiến Thành
© Vietnam Aquaculture Network Privacy & Terms Facebook Twitter About Contact
  • Facebook
    Like us on Facebook!
  • Twitter
    Follow us on Twitter!
This text will display in the Announcement Box.
×