-
Cá mặt cáo có tên khoa học là Siganus vulpinus, thuộc giống Siganus, họ Siganidae. Cá mặt cáo thường sống ở các rạn san hô ở Tây Thái Bình Dương.
Chúng có kích thước trung bình với những đường sọc màu rắng và nâu đen trên đầu và phần phía trước. Chúng có cái mũi kéo dài tới miệng nhìn giống như "mặt con cáo" giúp chúng ăn các loại thực vật thân mềm và tảo. Cá mặt cáo là một loài cá cảnh nước mặn phổ biến bởi vẻ đẹp hấp dẫn của nó.
© Triệu Thanh Tuấn, www.aquanetviet.org.- By Trieu Thanh Tuan
- 0 comments
- 2 likes
-
Có nhiều bí ẩn ở đại dương hơn là chúng ta có thể thăm dò, ở đây chỉ là một số ít trong số những bí mật của đại dương mà đến nay các nhà khoa học vẫn chưa tìm ra lời giải đáp.
Tam giác Bermuda
Còn gọi là tam giác quỷ. Đây là khu vực thuộc Đại Tây Dương trải rộng 189.518 dặm vuông giữa Melbourne, Florida, Puerto Rico, Bermuda và trở lại Florida, nơi có hàng ngàn con tàu, máy bay và con người biến mất. Mỗi lần điều này xảy ra, không có bằng chứng của dấu hiệu tai họa, nhưng các nhà khoa học khi nghiên cứu hiện tượng này, đã không tìm ra được điều gì để giải thích những bí ẩn. Nhiều người tin có một lực lượng siêu nhiên vượt tầm hiểu biết của chúng ta chịu trách nhiệm cho hơn 1.000 thủy thủ và phi công biến mất. Một số người vẫn từ chối đi vào khu vực này vì sợ rằng họ là nạn nhân biến mất không giải thích được tiếp theo.
Kim tự tháp dưới nước của Nhật Bản
Được phát hiện gần quần đảo Ryukyu ở Nhật Bản, đội hình đá trông giống kim tự tháp đã được cộng đồng học giả tranh luận liệu rằng nó là do con người tạo nên hay có thể là phiên bản tại Châu Á của thành phố Atlantis , hay nó là hiện tượng tự nhiên nơi những tảng đá cát bị nứt vỡ theo những đường giả để tạo ra cấu trúc trông giống do con người xây dựng.
Thành phố Atlantis đã mất
Suốt nhiều nghìn năm, đã có sự tìm kiếm thành phố chìm mất trong biển. Từ thời Plato, khi thành phố đã mất Atlantis được nêu lên, đã có những tranh luận liệu rằng thành phố này từng tồn tại hay không và một nhóm những nhà nghiên cứu đã đưa ra những bằng chứng về vị trí và tính xác thực về sự tồn tại của nó. Nhưng cho tới ngày nay, không ai có thể đưa ra những bằng chứng có tính kết luận dù cách này hay cách khác. Atlantis được coi là cái nôi của nền văn minh và có tầm quan trọng lớn. Có lẽ một ngày nào đó chúng ta có thể biết sự thật về điều này.
Sự biến mất của người Maya
Ở Belize, một đất nước nhỏ bị kẹp giữa Mexico và Guatemala, và đầu tiên do người Anh chiếm hữu, có một hệ thống hang động, nơi là vị trí lặn biển nổi tiếng thế giới, The Blue Hole ( Lỗ Xanh ), được phát hiện. Người Maya tin rằng lối vào hang động là cánh cổng tới cõi âm. Ở đây, bạn có thể bơi vào Hang động của Trinh nữ Pha lê, người thiếu nữ được tin rằng đã được dâng cho vị thần sinh sản và xương còn nằm lại ở đó, được bao bọc bằng pha lê Calcium carbonate, lấp lánh như những mảnh kính nhỏ. Nhưng không ai biết điều gì xảy ra với đất nước Maya. Từ hàng ngàn năm trước cho tới thế kỷ 17, người Maya cai trị một khu vực rộng lớn bao gồm Yucatan, Guatemala, Belize, Honduras và nhiều phần của El Salvador, và sau đó họ biến mất. Đã có rất nhiều lý thuyết được đưa ra về những gì xảy ra cho quốc gia này, nhưng chưa có bằng chứng mang tính kết luận và bí ẩn vẫn còn tồn tại.
Rùa biển
Rùa biển sống ở đâu trong những năm đầu của cuộc đời? Sinh vật này đã tồn tại rất lâu và trong vài thập kỷ vừa qua đã được các nhà khoa học nghiên cứu nhiều lần, vì thế chúng ta xem là đã biết được câu trả lời. Tuy nhiên, cũng giống như chính Bà Mẹ Tự Nhiên, vẫn còn nhiều bí ẩn xung quanh loài rùa đáng yêu và xinh đẹp này. Nếu những gì chúng ta biết về rùa biển được tập trung lại, nó sẽ lấn át những gì chúng ta chưa biết. Số lượng của chúng suy giảm đáng kể và mong muốn bảo tồn loài rùa biển là những gì dẫn dắt chúng ta cố phát hiện ra câu trả lời nơi nào những con rùa biển sống trong những năm đầu đời vì đây là giai đoạn chúng dễ bị tổn thương nhất.
Nguồn: Blog Biển và Người.- By Trieu Phu
- 0 comments
- 0 likes
-
Giống rượu gin và nước khoáng mà không có chanh, như Hendrix không có cây đàn guitar, sushi sẽ không là sushi nếu không có nước tương Nhật Bản.
Có thể bạn ít chú ý đến những cái chai nhỏ vui mắt có nắp màu đỏ sáng, nhưng đối với nhiều người, nước tương là cả một ngành kinh doanh nghiêm túc, thậm chí xứng đáng thực hiện một chuyến hành hương về cội nguồn Yuasa của nó.
Một chuyến du hành trên tàu dài 40 phút từ thành phố Wakayama (100 cây số phía nam Osaka), thị trấn nhỏ Yuasa là quê hương của loại gia vị lên men này.
Tình cờ đây cũng là nơi tuyệt vời để thăm lại giai đoạn Edo lịch sử của Nhật Bản (1603 – 1868).
Khoảng 750 năm trước, một nhà sư Nhật bản đến Yuasa sau một chuyến đi đến Trung Hoa, mang theo cùng ông một kỹ năng làm miso mới phát hiện. Nước tương được phát hiện tình cờ – một sản phẩm phụ từ quá trình chế biến miso. Từ đó, Yuasa trở thành trung tâm sản xuất nước tương quan trọng nhất của nước này.
Mặc dù chỉ là một thị trấn nhỏ chỉ với khoảng chừng 1000 căn nhà, đã có lúc nó chật cứng với hơn 90 cữa hàng nước tương, gần như mười nhà thì có một cữa hàng.
Ngày nay, toàn bộ thị trấn được bảo vệ theo luật Nhật Bản – toàn bộ trong số 323 căn nhà và 4 biệt thự truyền thống khác (gồm cả 4 hãng đóng chai nước tương) được ghi nhận giá trị văn hóa to lớn của nó.
Được gọi là “hongawara”, một số trong những căn biệt thự cổ nhất đã tồn tại 400 năm. Nhiều căn vẫn còn những cữa sổ rèm truyền thống và những mái ngói cong.
Rất thanh bình và yên tĩnh, Yuasa thuộc kiểu thị trấn nơi những cư dân thân thiện thường chuyện trò với hàng xóm và các viện bảo tàng và cửa hàng thường để mở và không cần bảo vệ.
Du khách có thể mượn xe đạp hay đi bộ để viếng thăm những khu vực lịch sử của thị trấn. Ngoài ngành đóng chai nước tương cổ xưa, có nhiều lăng mộ và những công trình kiến trúc hấp dẫn khác đáng để khoe khoang trên Facebook.
Nguồn: Blog Biển và Người.- By Trieu Phu
- 0 comments
- 3 likes
-
Loài rồng xanh, còn có tên là ốc sên biển xanh, hay có tên khoa học là Glaucus Atlanticus này trông giống như một chiếc trâm cài áo. Chúng dành phần lớn thời gian cuộc đời mình trôi nổi trong làn nước xanh của Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Thứ khiến chúng có thể nổi được trên mặt nước chính là những quả bóng không khí ở dưới bụng.
Tuy có cuộc sống khá “nhàn hạ” nhưng loài vật này không hoàn toàn vô hại. Loài động vật không xương sống, chỉ dài 3 cm này lại có một thực đơn “quái đản”. Nó ăn những động vật cực độc như sứa biển, đặc biệt là loài Portugese Man-O’-War, một loài được biết đến với “chiến tích” giết người và để lại những vết chích cực kỳ đau đớn.
Glaucus có thể nuốt trọn con sứa này mà không hề đau đớn, bởi dưới lớp da của loài này có chứa những chiếc đĩa, có tác dụng như những barrier, và tiết ra những chất nhầy để bảo vệ rồng xanh khỏi tác động của những cú chích này.
Không chỉ có khả năng tự bảo vệ bản thân khỏi chất độc, nó có thể dự trữ lượng chất độc này để sử dụng sau. Chất độc được “cất” trong những “ngón tay” gắn liền với cơ thể. Rồng xanh có khoảng 84 “ngón tay” như thế.
Khi không có đủ thức ăn, nó có thể ăn bất cứ thứ gì để tồn tại. Các nhà khoa học cho rằng loài rồng xanh Glaucus này còn độc hơn cả sứa Man-O’-War.
Loài này có thể đánh lừa kẻ thù bằng cách ngụy trang. Cơ thể chúng có những mảng màu xanh sáng và tối để giúp chúng ngụy trang được khi đang trôi nổi trên những con sóng đại dương.
Tuy thuộc họ động vật thân mềm nhưng loài này hoàn toàn không hề có vỏ. Nó được phát hiện lần đầu vào thế kỷ 17.
Rồng xanh là loài lưỡng tính. Khi giao phối, cả 2 con đều đẻ trứng. Chúng đẻ trứng lên những mẩu gỗ trôi trên biển hoặc trên xương của kẻ thù.
Khi bị đưa lên khỏi mặt nước, loài này có xu hướng cuộn tròn người lại cho đến khi trở lại với môi trường nước.
Nguồn: kienthuc.net.vn- By Trieu Phu
- 0 comments
- 3 likes
-
Giới khoa học ghi danh tài tử phim "Cướp biển Caribe", Johnny Depp bằng cách lấy tên anh đặt cho một loài sinh vật đã tuyệt chủng.
Sinh vật này có móng vuốt "nhìn giống như kéo" gợi nhớ tới một trong những vai diễn nổi tiếng nhất của ngôi sao này.
Loài Kooteninchela Deppi tồn tại từ 505 triệu năm trước. Chúng là tổ tiên của những bọ cạp, tôm hùm ngày nay theo kết quả công bố của nhật báo Cổ sinh học.
Trong sự nghiệp, Johnny Depp từng vào vai quái nhân có bàn tay làm bằng kéo trong "Edward Scissorhands" (1990) và có sự tương đồng với Kooteninchela.
Nhà nghiên cứu David Legg, trường đại học London tuyên bố qua một thông cáo hôm 16/5: "Khi lần đầu tiên tôi nhìn thấy móng từ các bản hóa thạch của sinh vật này, tôi đã ngay lập tức nghĩ tới Edward Scissorhands".
"Và thực tế thì tôi cũng là một fan của Depp, do vậy còn cách nào tuyệt hơn để vinh danh người đàn ông này hơn là làm anh bất tử với tư cách một sinh vật cổ xưa từng du ngoạn biển cả", David Legg nói.
Từ "chela" trong cái tên Kooteninchela có nghĩa là "móng" hoặc "kéo" trong tiếng Latin. Loài này dài khoảng 4 cm và sống ở vùng biển Canada, đây có lẽ từng là một loại săn mồi và sử dụng móng để kiếm ăn.
"Kooteninchela deppi đang giúp đỡ các nhà nghiên cứu gắn lại những thông tin về cuộc sống trái đất kỷ Cambri khi mà gần như mọi sinh vật hiện tại đang bắt đầu sản sinh, tiến hóa lúc đó".
Cũng theo Legg, loài Kooteninchela deppi là tổ tiên của dòng sinh vật chân khớp và có liên quan tới những loài ngày nay như nhện, bọ cạp, rết, côn rùng và cua.
"Hãy thử tưởng tưởng con tôm mà bạn đang phết mayonnaise (một loại sốt thức ăn) lên, con nhện bò trên tường và cả con ruồi đang bay vào cửa sổ nhà bạn, tất cả đều là hậu duệ của Kooteninchela deppi", David Legg nói.
Nguồn: Vietnam Plus- By Trieu Phu
- 0 comments
- 3 likes
-
Bệnh dịch là khó khăn chính trong việc nuôi tôm thâm canh. Những điều kiện trong ao nuôi thường là thuận lợi cho bệnh dịch phát triển và hàng loạt các bệnh dịch chưa được biết đến trước đây đã và đang xuất hiện trên tôm gây ra thiệt hại lớn. Một khi việc loại bỏ, trừ tận gốc hoặc kiểm soát môi trường nuôi là rất khó khăn thì vấn đề sinh sản có chọn lọc một số dòng tôm kháng bệnh có lẽ là một lựa chọn hấp dẫn để kiểm soát dịch bệnh.
Tuy nhiên, tôm kháng bệnh không phải là tôm có thể kháng mọi loại bệnh tật và nó nên được xem xét đối với:
1. Bệnh gây chết hang loạt
2. Bệnh không có thuốc chữa trị
3. Bệnh không liên quan đến di truyền trong bộ gene của tôm
Tôm biển kháng bệnh mới được gia hóa và thực hiện sinh sản từ giữa những năm 90 cho nên còn rất nhiều hạn chế về kinh nghiệm cho sinh sản nhân tạo ở tôm nói riêng và giáp xác nói chung. Do đó các nguyên tắc và khái niệm sử dụng trong các chương trình sinh sản chọn lọc chủ yếu dựa trên nền tảng kinh nghiệm của các loài khác đã được làm ở ngành thực vật và động vật. Người nuôi tôm thương phẩm hiện tại đã thả giống với dòng tôm được lai tạo có khả năng kháng bệnh virus hội chứng Taura và thu được kết quả khả quan. Hiện nay người ta cũng đang cố gắng phát triển một dòng tôm kháng bệnh đốm trắng và đây là một mục tiêu rất khó nắm bắt. Dòng tôm gốc kháng bệnh Taura được phát triển bằng kỹ thuật chọn giống đại trà đơn giản (Colombia) và ở các thể hệ tiếp theo việc chọn giống dựa trên nguồn gốc cha mẹ (gia đình) được áp dụng cho quần thể, thường là với khỏang 30% tỷ lệ sống.
Trong quá trình chọn giống, tránh việc lai cận huyết và mất đi sự biến động về di truyền trong bộ gene. Điều này cho thấy rằng khi quần thể gốc có một mức độ kháng bệnh nào đó thì tiếp theo các bước chọn giống sẽ có hiệu quả và khá là đơn giản để cho sinh sản dòng tôm kháng bệnh. Với những bệnh gây tai họa như bệnh đốm trắng (WSSV), tôm nuôi chết đến 98% hoặc hơn thì tần suất kháng bệnh thường thấp và người ta cho rằng về mặt lý thuyết, khả năng kháng bệnh do một gene quy định hơn là đa gene. Tần suất thấp của các gene kháng bệnh trong quần thể cho sinh sản có thể dẫn đến những nút thắt về di truyền và điều này làm giảm đi sự biến động về di truyền trong bộ gene của quần thể. Để có thể duy trì sự biến động này từ một số lượng rất nhỏ cá thể sống sót, một gene khác có thể được đưa vào gene của quần thể để tạo ra khả năng biến động di truyền rộng hơn. Hơn nữa để giảm thiểu khả năng mất đi của tính kháng bệnh theo hình tháp của gene kháng bệnh trên những địa điểm khác nhau của gene (loci) cũng sẽ là một lợi thế.
Sự biến động về di truyền trong gene kháng bệnh có thể gặp hoặc là trong các quần thể gốc ban đầu hoặc là đồng thời phát sinh do đột biến gene hoặc sự kết hợp của một tổ hợp mới. Với một loài đặc biệt mắn đẻ như tôm, hàng nhiều triệu con có thể được chọn lọc để có tỷ lệ sống và qua đó gene đột biến hoặc là tái tổ hợp có thể được xác định. Khi mà sự biến động về di truyền được khám phá thì phương pháp sinh sản thích hợp nhất sẽ phụ thuộc vào bản chất của cả hai: kháng bệnh và bệnh hoặc là các bệnh mà người nuôi quan tâm.
Người dịch:Ths. Nguyễn Thị Hồng Vân (nthvan@ctu.edu.vn), TT Ứng dụng và chuyển giao công nghệ TS, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
Nguồn tin: James Cock, Thomas Gitterle, Marcela Salazar và Morten Rye. Breeding for disease resistance of Penaeid shrimps. 2009. Aquaculture 286 (2009) 1–11.- By Trieu Thanh Tuan
- 0 comments
- 2 likes
-
Nhóm cá hồi, cá bơn và tôm he là những loài quan trọng trong sản xuất giống, ương và nuôi biển ở Nhật Bản. Bệnh do virus là một trong những nguyên nhân làm ảnh hưởng đến mức độ thành công trong sản xuất giống của các loài trên.
Các phương pháp hiện đang được sử dụng để hạn chế bệnh do virus là: (i) vệ sinh các dụng cụ sử dụng, (ii) vô trùng dụng cụ ương và xử lý nước thải bằng tia cực tím, ozon và điện phân, (iii) chọn các cá thể bố mẹ sạch bệnh (sử dụng kháng thể đặc hữu chống các mầm bệnh nguy hiểm bằng ELISA và hệ gen virus bằng PCR), (iv) giám sát tình trạng sức khỏe cá ương bằng các phương pháp miễn dịch và sinh học phân tử, (v) bổ sung vi khuẩn vào thức ăn để gián tiếp tạo ra các chất kháng virus, (vi) điều khiển nhiệt độ.
Với những phương pháp nêu trên, kết quả đã thu được những cá thể cá và tôm khỏe và sạch bệnh. Tuy nhiên, chúng vẫn có khả năng nhiễm bệnh từ mầm bệnh trong nước khi đưa đến vùng nuôi (ao hoặc bè). Những nghiên cứu tiếp theo cần phát triển các loại vaccine hiệu quả cũng như các loại máy tiêm vaccine và các công cụ trong miễn dịch học để đánh giá mức độ ảnh hưởng của vaccine là cần thiết.
Người dịch: Ts. Phạm Minh Đức (pmduc@ctu.edu.vn) và Ks. Trần Ngọc Tuấn, BM Sinh học và Bệnh Thủy sản, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
Nguồn tin: Mamoru Yoshimizu. 2009. Control Strategy for Viral Diseases of Salmonid Fish, Flounders and Shrimp at Hatchery and Seed Production Facility in Japan. Fish Pathology Volume 44, Issue 1, Pages 9-13.- By Admin
- 0 comments
- 2 likes
-
Nghiên cứu này được tiến hành nhằm thu được cơ sở dữ liệu mô tả giá trị dinh dưỡng của quần thể động vật nổi trong môi trường nước ngọt để mở rộng việc sử dụng cho ấu trùng cá và phát triển trong việc ương nuôi cá nước ngọt.
Thành phần các chất dinh dưỡng của động vật nổi hỗn hợp được thu từ 6 ao đất có bón phân được phân tích protein, lipid, carbohydrate và chất tro và các hàm lượng này biến động lần lượt là 73-79%, 10,79-14,55%, 3-4,79% và 3,20-10,07% được tính dựa trên vật chất khô (DM). Thành phần các amino acid cho thấy có sự hiện diện của tất cả 10 amino cid thiết yếu với hàm lượng methionine thấp. Hàm lượng các acid béo no (SAFA), các acid béo đơn phân tử chưa no (MUFA) và các aid béo đa phân tử chưa no (PUFA) dao động lần lượt từ 64-81%, 7-15% và 6-20% trên tổng các acid béo. Các acid béo có hàm lượng cao hơn đó là SAFA (16:0), MUFA (18:1n-9), PUFA như là acid linoleic (LA 18: 2n-6) và acid linolenic (LNA 18:3n-3). Trong số các Vitamin thì acid ascorbic (15-40,01µg/gDM) ít hơn so với nhu cầu của cá, đặc biệt là cá giai đoạn ấu trùng, vitamin A (13,61-63,95 µg/gDM) và vitamine E (218-348 µg/gDM) thì nhiều hơn so với nhu cầu của cá. Hàm lượng khoáng chất và các yếu tố vi lượng gồm có P, Ca, Fe, Cu, Zn và Mn.
Biến động theo mùa của tất cả các thành phần sinh hóa đã được đánh giá trong nghiên cứu. Vitamin E cùng có sự tương quan mạnh mẽ (r1 = 0,72; r2 = 0,88; r3 = 0,83; r4 = 0,86; r5 = 0,36 và r6 = 0,88) với sự biến động theo mùa của hàm lượng lipid của động vật nổi ở các ao khác nhau và biến động ngược lại với sự gia tăng nhiệt độ. Hàm lượng enzyme của quần thể động vật nổi hỗn hợp gồm có protease (6,21-7,92 µg leucine/mg protein/h), lipase (25,82-39,1 µg α-naphthol/mg protein/h) và men amylase (100-226,1 µg maltose /mg protein/h), hàm lượng enzyme này có thể được sử dụng như là nguồn enzyme tiêu hóa ngoại sinh cho cá và nhóm shellfish trong suốt giai đoạn phát triển. Không có sự hiện diện của hoạt chất l-gulonolactone γ-oxidase cho thấy động vật nổi không có khả năng tổng hợp acid ascorbic (AA). Trọng lượng khô trung bình của động vật nổi ở các ao khác nhau dao động từ 1,2-4,2 mg/l và các loài động vật nổi xuất hiện trong các ao đó là Moina (Moina dubia); Daphnia (Daphnia lumholtzi, Daphnia carinata); Cyclops (Mesocyclops hyalinus, Mesocyclops leuckarti); Diaptomus (Heliodiaptomus viddus, Neodiaptomus handeli); Rotifer (Brachionus).
Kết quả này cho thấy thành phần sinh hóa và giá trị dinh dưỡng của động vật nổi đã được xác định về mặc di truyền học và bị ảnh hưởng bởi giai đoạn thành thục và loại thức ăn của chúng. Các dữ liệu này có thể giúp cho việc tham khảo và chuẩn bị công thức thức ăn để tìm ra giá trị dinh dưỡng của động vật nổi nước ngọt trong quá trình ương nuôi cá nước ngọt giai đoạn ấu trùng và tiền trưởng thành.
Người dịch: Ths. Nguyễn Thị Kim Liên (ntklien@ctu.edu.vn), BM Thủy sinh học ứng dụng, Khoa Thủy Sản, Trường Đại học Cần Thơ.
Nguồn tin: Gopa Mitra, P.K. Mukhopadhyay, S. Ayyappan. 2007. Biochemical composition of zooplankton community grown in freshwater earthen ponds: Nutritional implication in nursery rearing of fish larvae and early juveniles. Aquaculture, Volume 272, Issues 1-4, 26 November 2007, Pages 346-360.- By Trieu Thanh Tuan
- 0 comments
- 2 likes
-
Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của việc kiểm soát tỷ lệ C/N trong các ao nuôi tôm càng có và không có giá thể cho tảo bám phát triển lên năng suất tôm nuôi.
Các tỷ lệ C/N là 10, 15 và 20 được bố trí trong các ao nuôi có diện tích 40m2 (có và không có giá thể cho tảo bám phát triển) và được thả nuôi tôm càng (trọng lượng 5.023±0.02 g) với mật độ 2 con/m2. Các nghiệm thức được kết hợp nhiều tỷ lệ C/N khác nhau với việc để và không để giá thể được ký hiệu tắt là ‘CN10’, ‘CN15’, ‘CN20’, ‘CN10+P’, ‘CN15+P’ and ‘CN20+P’, với P thể hiện là ao có để giá thể. Trong quá trình nuôi, một loại thức ăn viên địa phương có hàm lượng protein thô là 30% và tỷ lệ C/N là 10 được sử dụng làm thức ăn cho tôm. Bột khoai mì được sử dụng như là nguồn Carbonhydrate để điều chỉnh tỷ lệ C/N và nó được rải vào ao riêng biệt với thức ăn của tôm.
Tăng tỷ lệ C/N từ 10 lên 20 sẽ làm giảm lượng TAN, NO2-N, NO3-N trong môi trường ao nuôi và tổng đạm Kjeldahl (TKN) trong nền đáy ao nuôi (P<0.001). Việc thả thêm giá thể vào ao chỉ ảnh hưởng tới hàm lượng NO2-N trong nước (P<0.001). Tăng tỷ lệ C/N kéo theo việc gia tăng quần thể vi khuẩn dị dưỡng (THB) trong nước, nền đáy và tảo bám (P<0.01). Nó cũng làm tăng vật chất hữu cơ khô (DM), tro không từ vật chất hữu cơ khô (AFDM) và hàm lượng Chlorophyla của tảo bám (P<0.001). Tốc độ tăng trưởng đặc biệt (SGR) thấp nhất, hệ số thức ăn (FCR) cao nhất và tỷ lệ sử dụng protein thấp nhất (PFR) được ghi nhận ở nghiệm thức CN10 (P<0.05).
Việc thêm vào giá thể không ảnh hưởng đến kích thước của tôm khi thu hoạch (P>0.05) nhưng đã cải thiện tỷ lệ sống từ 62.8% lên 72% (P<0.001). Việc tăng tỷ lệ C/N từ 10 lên 20 làm tăng năng suất thực (net yield) lên 40% và thả thêm giá thể làm tăng thêm 23%. Sự kết hợp giữa các tỷ lệ C/N và thả giá thể khiến năng suất thực tăng lên thêm 75% (từ 309 (CN10) lên 540 (CN20+P)kg/ha sau 120 ngày nuôi). 75% năng suất tăng thêm này xuất phát từ: (1) hàm lượng N vô cơ thấp hơn và (2) mật độ vi khuẩn dị dưỡng cao hơn đã cung cấp một nguồn protein từ các tế bào vi khuẩn này làm tăng năng suất tôm, cuối cùng (3) năng suất và chất lượng tảo bám được cải thiện.
Người dịch:Ths. Nguyễn Thị Hồng Vân (nthvan@ctu.edu.vn), TT Ứng dụng và chuyển giao công nghệ TS, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
Nguồn tin: M. Asaduzzaman, M.A. Wahab, M.C.J. Verdegem, S. Huque, M.A. Salam, M.E. Azim. 2008. C/N ratio control and substrate addition for periphyton development jointly enhance freshwater prawn Macrobrachium rosenbergii production in ponds. Aquaculture 280 (2008) 117–123.- By Trieu Thanh Tuan
- 0 comments
- 1 like
-
Ảnh hưởng của nồng độ muối lên sinh sản, vòng đời, tỉ lệ sống và ngưỡng chịu đựng việc sốc độ mặn của copepoda Pseudodiaptomus annandalei Sewell được nghiên cứu dưới điều kiện kiểm soát của phòng thí nghiệm. Tất cả các cá thể đều được cho ăn tảo Platymonas subcordiformis.
Tổng số con non có nhiều nhất ở độ mặn 15‰, tiếp đến là 10‰ trong 7 độ mặn thí nghiệm trong suốt 10 ngày. Tỉ lệ sống của ấu trùng đạt cao nhất là 98,33% ở độ mặn 15‰ khi ấu trùng được nuôi cho đến khi có một vài con trưởng thành ở 4 độ mặn (5,10,15 và 20‰). Sức sinh sản tổng cộng cao nhất là 334 ± 171.6 ấu trùng/con cái và số con non trung bình mỗi ngày là 22 ± 6.4 ấu trùng/con cái thu được ở độ mặn 15 ‰ trong suốt giai đoạn thí nghiệm. Độ mặn tốt nhất cho sinh sản và tỉ lệ sống của ấu trùng là 15 ‰. Sức chịu đựng độ mặn của con cái tốt hơn con đực thông qua việc so sánh tỉ lệ sống ở nhiều độ mặn gây sốc và khoảng chịu đựng độ mặn này ở con cái và con đực lần lượt là 4,5–40,5 ‰ và 12,9–38,7 ‰ trong suốt 48 giờ.
Người dịch: Ths. Dương Thị Hoàng Oanh (hoangoanh@ctu.edu.vn), BM Thủy sinh học ứng dụng, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
Nguồn tin: Qingxiang Chena, Junqing Shenga, Qiang Lina, Yongli Gaoa and Junyi Lv. Aquaculture, Volume 258, Issues 1-4, 31 August 2006, Pages 575-582.- By Admin
- 0 comments
- 2 likes
-
Loài kỳ giông Axolotl salamander có lý do để mỉm cười sau khi nó được du khách chào đón như một ngôi sao ở công viên Aquaria Fun ở Úc. Không giống họ hàng của mình, nó không bị kiệt sức trốn tránh ô nhiễm ở quê nhà Mexico hoặc bị bắt làm thí nghiệm ở các phòng lab nơi chúng bị săn đuổi sát sao để làm mẫu vật nghiên cứu.
Chúng hầu như bị quét sạch khỏi tự nhiên vì ô nhiễm và vì chúng được xem là một món đặc sản ở nhiều nơi. Sách đỏ IUCN liệt kê chỉ còn hai hồ được biết là có những cá thể loài này.
Trong điều kiện nuôi nhốt, chúng cũng nổi tiếng – nhưng không giống cá thể may mắn này – chúng chủ yếu được nuôi ở những phòng thí nghiệm nơi chúng được khen ngợi là có khả năng mọc lại các chi mới.
Điều được xem là một sự ngạc nhiên thú vị về mặt y khoa khi các nhà khoa học phát hiện Axolotl không những có khả năng mọc lại đầy đủ các chi mà còn các cơ quan bên trong, gồm cả xương sống và một phần bộ não. Các nhà khoa học tin rằng loài này có thể nắm giữ chìa khóa của việc tái tạo tay chân con người.
Loài Axolotl này không phải là loài động vật duy nhất thích nở một nụ cười. Với nụ cười kỳ dị và thân thể mờ đục, con cá đuối lưng gai có nụ cười rất ma quái. Bộ phận cứ ngỡ là mắt hóa ra là khe mang, dùng để thở. Mắt thật của nó là trên đỉnh thân. Cá đuối lưng gai là loài rất thường thấy ở các vùng nước Anh Quốc và có thể dài đến 4 feet. Lưng chúng phủ đầy gai.
Nguồn: Viết bỡi Tara Brady, Bản tiếng Việt Blog Biển và Người.- By Trieu Phu
- 0 comments
- 3 likes
-
Cá nóc hòm sừng đuôi dài có tên khoa học là Lactoria cornuta, thuộc giống Lactoria, họ cá Ostraciidae. Cá nóc hòm sừng đuôi dài phân bố rộng ở các vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới như Hồng Hải, Đông Phi, đông Indonesia, phía Bắc đến phía Nam Nhật Bản, miền nam Hàn Quốc, phía nam Australia và Đảo Lord Howe.
Con cá này có tên như vậy vì nó giống một con trâu có gai dài nhô ra trên đầu (chúng còn có tên là hải ngưu). Chiếc gai này có thể mọc lại khi bị gãy. Chúng có thể có màu khác và thường có những chấm trắng trên thân. Thịt nó có độc và biến chúng trở thành một loài cá không hấp dẫn mấy với những kẻ đi săn. Chúng là những tay bơi chậm và dễ dàng bị bắt và nổi tiếng là tạo ra âm thanh lạ thường.
Môi trường sống chính của nó là các rạn san hô, trên những bãi đá ngầm. Cá lớn thường sống đơn độc quanh các rạn san hô, trong khi con nhỏ thường sống thành đàn tập trung ở các rạn san hô Acropora. Cá nóc hòm sừng đuôi dài thường sống ở độ sâu là 3,3-148 ft (1-45 m, có thể lên đến 100 m). Chúng có thể dài đến 20 inch. Cá nóc hòm sừng đuôi dài hiện đang được nuôi phổ biến làm cảnh.
© Triệu Thanh Tuấn, www.aquanetviet.org.- By Trieu Thanh Tuan
- 0 comments
- 4 likes
-
Trào lưu chơi tép kiểng tại TP Hồ Chí Minh đang “thịnh”. Đặc biệt là những loại tép ngoại với những cái tên rất “oách” như: Reb cherry Shrimp, Caridina sp Tiger (tép cọp), Crytal Red Shrimp (tép ong đỏ), tép Sulawesi…
1. Thú chơi tép kiểng giá ngàn đô
Đáng nói là giá của những loại tép này cũng không “dễ xài”, từ vài chục USD đến hơn 100 USD. Đặc biệt, loại tép ong đỏ chỉ bằng đầu tăm nhưng có giá đến 1.000 USD/con. Theo anh Lê Đức Huy (quận Phú Nhuận) người chơi tép lâu năm thì loại tép này xuất xứ từ Nhật Bản, có màu trắng, trên đỉnh đầu có chấm màu đỏ, giống biểu tượng của lá cờ Nhật nên tại nước này, loại tép ong đỏ rất quý hiếm và được ưa chuộng. Đây cũng là loại tép khó nuôi vì đòi hỏi môi trường nước tinh khiết, giống của nó đột biến nên khả năng thích ứng với môi trường kém, sinh sản khó nên giá thành rất cao.
2. Thể tích bể nuôi tép kiểng
- Thể tích cần của bể nuôi tép chỉ đóng vai trò thứ yếu. Ngay cả với bể 12 L người ta có thể nuôi được tốt một bầy tép nhỏ.
- Tất nhiên ở những bể lớn hơn sẽ giảm thiểu hậu quả những sai phạm hay xẩy ra: cho ăn quá nhiều, thay nước không đều đặn, vì thế thể tích nhỏ nhất được khuyên cho bể nuôi tép từ 54 L trở lên, cũng là kích thước phổ biến dễ tìm mua của bể làm sẵn trên thị trường. Trở lên trên không có giới hạn tối đa, người viết cũng thỉnh thoảng mơ tưởng đến bể có dung tích lít… bốn năm số, nhưng đó lại là chuyện khác rồi.
3. Nền bể nuôi tép kiểng
- Dù bằng cát hay sỏi, đen hay trắng, mỗi người có thể thiết kế theo ý mình. Tép kiểng không “quan tâm” đến nhiều lắm. Tuy nhiên cần chú ý không dùng nền đá sỏi quá lớn, thức ăn thừa có thể lọt xuống bên dưới, hư thối làm ô nhiễm nước.
- Thêm một điểm nhỏ: trước khi chọn nền cho bể, cần biết sẽ nuôi loại tép kiểng nào để chọn màu. Tép kiểng đỏ trên nền sáng thường không nổi bằng nền có màu sẫm hơn.
4. Lũa trong bể nuôi tép kiểng
Nếu có thể, bố trí vài khúc gỗ lũa cho bể. Không phải là bắt buộc nhưng tép kiểng rất thích trèo lên lũa tìm tòi thức ăn bám lên. Cũng cần chú ý không dùng gỗ lũa chất lượng xấu, còn thải ra nhiều tạp chất, sẽ ảnh hưởng đến tép kiểng.
5. Cây thủy sinh
- Cũng có thể chọn theo ý thích. Đặc biệt nên bố trí những góc trồng Moos bám trên lũa (Javamoos, Vesicularia dubyana, Pellia, Monosolenium tenerum), đây là những nơi rút vào cho tép kiểng khi thay vỏ và là nơi sống, tìm thức ăn an toàn cho tép kiểng con.
- Trong bể quá ít cây, đôi khi tép kiểng không tìm được nơi trú ẩn cho quá trình thay vỏ. Trong trường hợp xấu, chúng sẽ bị chính đồng loại tấn công do vỏ còn mềm, tép kiểng còn yếu. Đó cũng là lý do khi tép kiểng rút lui lên tầng trên của bể, bám bất động ở điểm nào đó vì không tìm được nơi trú ẩn trong quá trình thay vỏ.
- Khi mua, chọn tép kiểng, không để bị choáng trước những cái tên mỹ miều hấp dẫn của người bán đặt cho. Cũng vì lý do tép là lĩnh vực chưa được tìm hiểu, nghiên cứu cặn kẽ nên những nơi nhập, buôn bán tép lớn hay dễ dãi với tên gọi. Đã có nơi bán loại Crystal Cherry? Xui xẻo cho người mua chưa có thông tin cơ bản ví dụ mua lầm Red Fire(Cherry) dưới tên Red Crystal với giá đắt hơn thực sự.
6. Chọn mua tép kiểng
- Người mua cần chú ý đến biểu hiện khỏe mạnh của tép, cơ động bơi tới lui trong bể và chân trước nhặt tìm thức ăn không ngừng.
- Bộ giáp cần mầu sắc đều đặn, không có điểm lạ như chấm nâu đỏ hoặc mầu lạ không đặc trưng của loại tép đó, thủng lỗ hoặc nổi bọc, mụn.
- Người bán càng vất vả, mồ hôi mồ kê chảy càng nhiều, mặt mũi càng đỏ tưng bừng bao nhiêu khi vớt tép bán càng tốt. Tép khỏe mạnh di chuyển, trốn nhanh như chớp, người vớt phải cần nhiều khéo léo và cử động mới mong tóm được chúng. Những con di chuyển chậm chạp lờ đờ hoặc đứng yên bất động, chúng ta nên để chúng… đứng luôn tại đó, không đưa về nhà.
- Hầu hết tép là loại sống theo bầy. Nếu ai chỉ cho chúng có một, hai “bạn chơi”, có lẽ chẳng có mấy cơ hội nhìn thấy chúng rời khỏi nơi ẩn nấp. Đặc biệt ở những bể thả nhiều cá kích thước tương đối lớn. Điều này thay đổi tức khắc khi chúng hợp được thành bầy, ít nhất từ mười con trở lên. Hầu như sự nhút nhát ở chúng biến mất hoàn toàn.
- Đáng tiếc rằng chỉ riêng số lượng vẫn chưa là điều kiện đủ để chúng rời khỏi nơi ẩn nấp trong nhiều trường hợp. Trong bể của người viết thời gian bắt đầu nuôi tép, chỉ một con cá Phượng hoàng duy nhất trong bể đã đủ làm hai mươi chú tép Amano nấp kỹ lưỡng sau đống lũa. Tình hình thay đổi ngay trong ngày đầu tiên khi PH được dời sang bể khác, chú tép đầu tiên đã lò dò khỏi lô cốt. Đến ngày thứ hai cả bầy đã liên tục tuần tra khắp bể.
- Lại có thông tin tép dạo chơi đường hoàng trong bể có nuôi cá Ali hoặc Discus. Những thông tin trái ngược nhau đó làm chúng ta trước mắt có thể bỏ qua việc lập list loại cá nào thích hợp, không thích hợp, ít thích hợp nuôi chung với tép. Nhưng trong mọi trường hợp không thể ít hơn hai, ba con trong một bể. Số lượng được khuyên nên thả từ đầu để có được đàn tép khỏe mạnh phát triển về sau không nên ít hơn năm con, hoặc hơn vài đôi càng tốt.
7. Dinh dưỡng thức ăn cho tép kiểng
- Ngay cả khi tép có tiếng là ăn rêu, chúng không là loài chỉ ăn thực vật. Từ ăn tạp có lẽ thích hợp hơn và như vậy, không cần loại bỏ thức ăn gốc động vật khỏi thực đơn cho chúng. Nhưng phải tránh nguồn Protein động vật với số lượng lớn. Kết quả những nghiên cứu cho thấy, quá trình lột vỏ tăng cao và chúng chết rất nhanh.
- Trong bể nuôi chung với nhiều cá thực ra không cần cho chúng ăn, thức ăn thừa của cá rơi xuống luôn đủ cho chúng. Thực đơn của tép có thể là viên khô, thức ăn công nghiệp, đồ sống hoặc đông lạnh, Spinat, dưa leo, đậu Hà Lan… luôn được chúng đón chào nồng nhiệt. Người viết đã thu được kết quả tốt khi sử dụng viên thức ăn chứa lượng Spirulina cao.
- Lượng thức ăn cần được tiêu thụ hết trong một giờ. Phần còn thừa hút, đưa ra ngoài, vì làm ô nhiễm nước nếu để lâu.
- Ngoài bữa chính, tép còn nhặt nhạnh rêu, vi sinh vật quanh bể nên trong những bể đã ổn định nếu không cho chúng ăn vài ngày cũng không có chú nào chết đói cả.
- Trong vài trường hợp có thể tép nảy ra ý định ngông cuồng gặm cả Moos mềm như Riccia,Pellia, nhưng chỉ xẩy ra ở những bể lớn nhân giống tép với số lượng lớn. Bình thường chúng ta không cần lo lắng đến cây trồng, chúng chỉ gặm đi những phần đã hư hỏng trên cây.
- Để thực đơn cho tép thêm phần phong phú, chúng ta có thể trong khi đi dạo nhặt ít lá khô, rửa sạch nhúng qua nước sôi rồi cho vào bể. Các bạn sẽ thấy tép đổ xô đến tìm tòi thức ăn trên lá, và qua thời gian lá sẽ được gặm bớt đến khi chỉ còn lại cuống. Lá khô có tác dụng tốt làm ổn định quá trình lột vỏ của tép, nhả acidhumin giảm pH, chống nấm, mầm bệnh trong bể và là sân chơi ưa thích của tép.
8. Các loại tép kiểng đẹp
- Cardinal Shrimp
- Brown Camo Shrimp
- Blue Tiger Shrimp
- Blue Pearl Shrimp
- Black Tiger Shrimp
- Bee Shrimp
- Bamboo Shrimp
- Amano Shrimp
- Blue Bee Shrimp
Nguồn: Thế giới Sinh vật cảnh, www.arowana.com.vn. -
Một hệ thống nuôi luân trùng liên tục được bố trí để tìm hiểu về ảnh hưởng của việc kết hợp cho ăn hai loài tảo Nannochloropsis oculata (N) mật độ cao và Chlorella nước ngọt cô đặc (FC) lên thành phần acid béo của luân trùng Brachionus plicatilis kích thước lớn (L-type) khi được nuôi liên tục.
Việc cung cấp tảo vào bể nuôi đựoc tiến hành theo 3 bước kế tiếp nhau: cho ăn N → cho ăn N+FC→ cho ăn FC. Luân trùng được nuôi ở nhiệt độ 24oC và độ mặn 25-27ppt trong các bình 2lít với 50% lượng nước được thay hàng ngày. Sự kết hợp cho ăn hai loài tảo N+FC có hiệu quả làm tăng mật độ luân trùng. Luân trùng ăn N+FC có nhiều lipid không cực (non-polar) hơn là lipid có cực và nó tương tự như luân trùng chỉ ăn tảo N và ngược lại với luân trùng chỉ ăn tảo FC. Luân trùng ăn N+FC có hàm lượng 16:2, 18:2n-6 (linoleic acid [LA]) và 20:2n-6 cao hơn nhưng hàm lượng 18:1, 20:4n-6 (arachidonic acid), 20:5n-3 (eicosapentaenoic acid [EPA]) và 22:5n-3 (docosapentaenoic acid [DPA]) lại thấp hơn so với luân trùng chỉ ăn N trong khi đó luân trùng ăn N+FC có hàm lượng 16:1n-7, EPA và DPA cao hơn nhưng hàm lượng 16:2 và LA lại thấp hơn luân trùng chỉ ăn FC. Thêm nữa luân trùng ăn N+FC có nhiều DPA trong lipid có cực hơn trong lipid không cực. Tỷ lệ Σn-6/Σn-3 trong luân trùng ăn N+FC là 0.9-1 và tỷ lệ này khác biệt có ý nghĩa so với luân trùng chỉ ăn N (0.4) và chỉ ăn FC (6.6-8.4). Vì vậy có thể suy luận rằng thành phần acid béo của luân trùng nuôi với tảo N+FC trong hê thống nuôi liên tục bị ảnh hưởng bởi cả hai loại tảo N và FC và việc kết hợp cho ăn cả hai loại tảo này sẽ có hiệu quả trong việc điều chỉnh tỷ lệ n-3/n-6 ở luân trùng được nuôi liên tục.
Người dịch:Ths. Nguyễn Thị Hồng Vân (nthvan@ctu.edu.vn), TT Ứng dụng và chuyển giao công nghệ TS, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
Nguồn tin: Takayuki KOBAYASHI, Toshiya NAGASE, Akinori HINO và Toshio TAKEUCHI. 2008. Effect of combination feeding of Nannochloropsis and freshwater Chlorella on the fatty acid composition of rotifer Brachionus plicatilis in a continuous culture. Aquaculture Nutrition 2008.- By Trieu Thanh Tuan
- 0 comments
- 2 likes
-
Tính nhạy cảm của 3 loài tôm biển đối với Macrobrachium rosenbergii nodavirus (MrNV) và extra small virus (XSV) được kiểm tra bằng cách cho ăn và tiêm vào cơ.
Kết quả cho thấy những loài tôm biển này không nhạy cảm với 2 loài virus và 2 loài virus này cũng không gây chết tôm biển. Phân tích RT-PCR cho thấy sự hiện diện của MrNV và XSV ở những cơ quan khác nhau như: mang, cơ bụng, dạ dày, ruột và máu của 3 loài tôm biển được tiêm virus. Những loài virus này cũng được tìm thấy trên những mô khác nhau của tôm gây cảm nhiễm bằng cách cho ăn cơ của tôm nhiễm bệnh, nhưng không tìm thấy ở những nhóm cho ăn cơ của tôm không nhiễm bệnh. Thực hiện tiêm nhắc bằng cách dùng dịch tiêm của MrNV và XSV trích từ những loài tôm biển mà những virus này gây chết 100% trên tôm càng xanh giống và những tôm giống gần chết đều cho kết quả dương tính khi kiểm tra bằng RT-PCR.
Kết quả cho thấy khả năng tôm biển là nguồn cung của MrNV và XSV và duy trì độc lực của virus trong cơ tôm biển.
Người dịch: Ks. Trần Thị Mỹ Duyên (ttmduyen@ctu.edu.vn), BM. Sinh học và Bệnh thủy sản, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
Nguồn tin: R. Sudhakaran, S. Syed Musthaq, P. Haribabu, S.C. Mukherjee, C. Gopal, A.S. Sahul Hameed. Experimental transmission of Macrobrachium rosenbergii nodavirus(MrNV) and extra small virus (XSV) in three species of marine shrimp (Penaeus indicus, Penaeus japonicus and Penaeus monodon). Aquaculture 257 (2006) 136–141.- By Trieu Thanh Tuan
- 0 comments
- 2 likes
- Thuy Loan Tran and
- Ba Tôm
-
Để giám sát vi khuẩn hữu ích Bacillus S11 (BS11) trong cơ thể sống, các tế bào gốc chưa thuần (wildtype) được cấy vào protein phát quang xanh lục (GFP) biểu hiện trong huyết tương ký hiệu là pAD44-12, protein này mang một đọan gen với tên gfpmut3a chứa đọan gen họat hóa UW85 cấu thành vi khuẩn Bacillus cereus và huyết tương bình thường không được cấy protein phát quang của loại vi khuẩn này. Các tế bào được biến đổi pAD44-12 (BS11-GFP) và không biến đổi (đối chứng, BS11-pAD) biểu hiện khả năng phát quang nhưng với mức độ không cao.
Sự đề kháng Chloramphenicol (BS11-GFP, BS11-pAD) và việc sử dụng vi khuẩn biến đổi (BS11-GFP) làm dấu cho thấy rằng sự lưu giữ trong huyết tương là khỏang 78-79% đối với cả hai loại tế bào BS11-GFP và BS11-pAD sau khỏang 50 thế hệ sinh trưởng mà không có các sàng lọc về kháng sinh. Khi trộn chúng vào trong thức ăn tôm với liều lượng 10^5 CFU/g, thể vùi của vi khuẩn được biến đổi có thể tồn tại được trong thức ăn này. Sau khi cho tôm ăn 3 lần/ ngày ở các bể xi măng 400L trong 9 tuần, không thấy có sự khác biệt về trọng lượng trung bình cũng như số lượng vi khuẩn BS11 trong nước cũng như trong ruột tôm giữa hai loại thức ăn có chứa BS11-GFP, BS11-pAD và hoặc là BS11.
Điều này cho thấy rằng sự biểu hiện của gen gfpmut3a không có bất kỳ ảnh hưởng nào đối với các đặc tính của BS11 cũng như tăng trưởng của tôm. Các xét nghiệm mô học ở hệ tiêu hóa của tôm sau khi cho ăn thức ăn chứa BS11-GFP đã chứng minh vi khuẩn BS11-GFP có thể sông trong thức ăn và bám vào bề mặt ruột tôm vì vậy nó có tiềm năng tốt trong việc sử dụng như một loại marker (dấu) sinh học cho các thí nghiệm ngắn hạn.
Người dịch: Ths. Nguyễn Thị Hồng Vân (nthvan@ctu.edu.vn), Trung tâm Ứng dụng và CGCN, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
Nguồn tin: S. Rengpipat; N. Wongtangprasert v T. Palaga, Department of Microbiology, Faculty of Science, Chulalongkorn University, Bangkok, Thailand. The use of green fluorescent protein as a marker for monotoring a probiotic Bacillus S11 in black tiger shrimp Penaeus monodon. Aquaculture Nutrition, Received 13 March 2008, accepted 9 April 2008.- By Admin
- 0 comments
- 1 like
-
BOD5 là một chỉ số đánh giá mức độ ô nhiễm cũng như đánh giá hiệu quả của một hệ thống xử lý chất thải. Giá trị này chỉ thị cho nhu cầu oxy sinh học bởi sự phân hủy vật chất hữu cơ. Tuy nhiên trong quá trình đo BOD5 thường bị ảnh hưởng bởi nhu cầu oxy cho quá trình nitrite hóa và kết quả BOD5 đo đạc được cao một cách bất thường khi so sánh với giá trị COD(Mn).
Một thí nghiệm nhỏ được thực hiện để kiểm tra xu hướng biến động oxy và N-NOx trong chai ủ mẫu BOD. Kết quả đã cho thấy rằng:
- Quá trình nitrite hóa xảy ra trong hai ngày đầu của quá trình ủ 5 ngày với sự tăng lên theo cấp số mũ của hàm lượng N-NO3- trong mẫu.
- Giá trị BOD5 đo đạc được cao hơn giá trị COD, đôi khi cao gấp 3 lần.
- Quá trình nitrite hóa trong chai ủ mẫu bị ảnh hưởng bởi hàm lượng N-NH3. Khi hàm lượng N-NH3 trong mẫu phân tích BOD5 cao, giá trị BOD5 đo được sẽ tỉ lệ nghịch với nồng độ NH3 trong mẫu và ngược lại. Khi bị ảnh hưởng bởi quá trình nitrite hóa, nó sẽ rất khó trong việc đánh giá hiệu quả của quá trình xử lý nước thải. Vì vậy việc đo các chỉ số ATU-BOD, N-NH3, N-NO2-, N-NO3- là rất cần thiết.
Người dịch: Ks. Huỳnh Trường Giang (htgiang@ctu.edu.vn). BM Thủy sinh học ứng dụng, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
Nguồn tin:Nobuyuki Hayashi. Effect on BOD5 Value by Oxidation of N-NH3. Vol. 19 (1996), No.1 pp. 76-83. Journal of Japan Society in Water Environment.- By Trieu Thanh Tuan
- 0 comments
- 1 like
-
Cá sư tử là một trong nhiều loài cá biển có nọc độc thuộc giống Pterois, Parapterois, Brachypterois, Ebosia hay Dendrochirus của họ Scorpaenidae. Trong đó, giống Pterois hiện xác định được 10 loài. Cá sư tử cũng có tên cá Thổ Nhĩ Kỳ, cá rồng, cá mao tiên hay cá bò cạp.
Cá sư tử sống ở vùng biển nhiệt đới thuộc Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương, đông Đại Tây Dương và Caribe, nhưng một số loài có thể sống khắp nơi trên khắp thế giới. Cá sư tử có kích thước khoảng 6,2-42,4 cm, con trưởng thành trung bình đo được 38 cm và trọng lượng khoảng 480 g. Cá sư tử có thể sống khoảng 5-15 năm.
Cá sư tử là một trong những con cá đẹp nhất của đại dương. Chúng có các tua dài, thân có nhiều sọc màu đỏ, vàng, da cam, nâu, đen hoặc trắng. Chúng có các gai lớn, tách biệt, tạo ra dáng vẻ tráng lệ tuyệt đẹp. Tuy nhiên, bạn nên cẩn thận đừng để vẻ đẹp của nó làm mờ mắt vì chúng là loài cá rất độc. Một vết chích từ cá sư tử không làm chết người, nhưng những độc tố cực mạnh từ chúng có thể gây đau đớn tộn cùng cho bạn.
© Triệu Thanh Tuấn, www.aquanetviet.org.- By Trieu Thanh Tuan
- 0 comments
- 4 likes
-
Bệnh virus trên tôm đang là một thảm họa cho nền sản xuất nuôi trồng thủy sản cho Việt Nam và thế giới. Hiện tại các loại virus gây bệnh trên tôm sú đang phổ biến tại Việt nam là virus gây hội chứng đốm trắng (WSSV – White spot syndrome virus), hoại tử (IHHNV – Infectious hypodermal and haematopoietic necrosis virus), bệnh còi (MBV – Monodon baculovirus), đầu vàng (YHV – Yellow-head virus), v.v… Theo ước tính của Bộ Thủy sản, thất thoát do bệnh virus gây ra cho tôm sú vào khoảng 30% – 50% sản lượng thu hoạch. Với sản lượng tôm sản xuất hàng năm vào khoảng 350.000 tấn, Việt Nam là nước sản xuất tôm lớn thứ hai thế giới sau Trung Quốc (450.000 tấn). Việc nghiên cứu ngừa và phòng bệnh virus cho tôm đang là đề tài nóng bỏng cho các phòng thí nghiệm thế giới.
Đối với tôm, cũng như các loài động vật không xương sống, hệ thống miễn dịch của chúng không giống như hệ thống miễn dịch của loài có xương sống. Tôm chỉ dựa trên hệ thống miễn dịch tế bào thông qua interferon là chính. Tôm có những hệ thống miễn dịch cơ thể nhưng theo cơ chế chưa thật rõ ràng. Do vậy việc tiêm vaccine cho tôm dưới dạng kháng nguyên như cho động vật máu nóng chưa mang lại kết quả. Do vậy các phương pháp khác để tăng khả năng miễn dịch ngắn hạn cho tôm đang được thử nghiệm.
Hiện tại có hai nguyên lý tạo miễn dịch ngắn hạn cho tôm đang được các phòng thí nghiệm tích cực đầu tư, đó là: vaccine thụ động (passive vaccine) và vaccine bằng RNA sợi đôi.
+ Vaccine thụ động dựa trên nguyên tắc tạo kháng thể chống lại protein vỏ của virus trên động vật có xương sống, sau đó sử dụng kháng thể này bổ sung vào thức ăn cho tôm nhằm tăng khả năng kháng nhiễm bệnh virus cho tôm. Trên thế giới, Trung Quốc và Hàn Quốc đang thử nghiệm một chế phẩm IgY của trứng gà có tiêm protein P28 (protein vỏ của WSSV). Kháng thể kháng protein P28 này được cho tôm ăn và họ đã thu nhận được kết quả khả quan. Tôm ăn IgY kháng P28 đã sống sót nhiều hơn nhiều so với đối chứng khi nhiễm bệnh đốm trắng.
+ Phương pháp thứ hai là phương pháp gây miễn dịch bằng iRNA hay RNA sợi đôi. Những RNA sợi đôi có chứa trình tự tương đồng với các gene của virus đã làm tăng khả năng kháng bệnh của tôm lên một cách rất đáng kể. Việc tiêm những RNA sợi đôi đã làm tăng họat động của hệ thống nhận biết virus của tế bào tôm, làm giảm khả năng nhân lên của virus trong tế bào tôm. Nhóm nghiên cứu của Giáo sư Warr (Hoa Kỳ) đã công bố thí nghiệm (2005) bảo vệ được 90% tôm không chết sau 10 ngày gây nhiễm với virus đốm trắng. Trong khi đó, tôm đối chứng đã chết hơn 95% sau 5 ngày. Cũng trên nguyên lý đó, nhóm của giáo sư Vlac (Hà Lan, 2005) sử dụng siRNA (small interfering RNA) tiêm cho tôm cũng đạt được kết quả tương tự. Đó là hai hướng chính trong chiến lược tìm vaccine cho tôm.
Ở Việt Nam, hướng nghiên cứu dùng vaccine thụ động đang được chú trọng. Để tạo được kháng thể kháng lại protein virus tôm, chúng ta có thể dùng protein vỏ của tôm hoặc virus tôm hoàn chỉnh. Muốn có virus tôm hoàn chỉnh, chúng ta cần số lượng virus đủ nhiều và nguồn virus ổn định. Muốn như vậy, cần phải có một hệ thống nhân virus tôm lên nhanh từ một mẫu ban đầu. Trong nỗ lực tìm nhân tố có thể nhân virus tôm lên trong tế bào nuôi cấy in vitro, TS. Văn Thị Hạnh (Viện Sinh học nhiệt đới – Viện Khoa học & Công nghệ Việt Nam) đã thành công trong việc dùng tế bào côn trùng để nhân các loại virus tôm. Khi nhân được các loại virus tôm, việc tạo kháng thể kháng lại các loại virus tôm trong gà hay thỏ có thể thực hiện được mộ cách đơn giản. Sử dụng các kháng thể đó để làm tăng khả năng kháng bệnh cho tôm là đề tài của Trung tâm CNSH TP. HCM đang triển khai kết hợp với TS. Văn Thị Hạnh.
Song song với việc sử dụng virus nguyên, một số loại protein vỏ của virus tôm cũng đang được tổng hợp bằng con đường protein tái tổ hợp. Khả năng kháng virus của các kháng thể kháng protein vỏ virus này cũng đang được thử nghiệm. Đây là đề tài trọng điểm có thể mang lại những kết quả mang tính đột phá, song không thể nào không được nghiên cứu một cách thấu đáo. Việc nghiên cứu tìm ra vaccine cho tôm là một công việc còn nhiều ẩn số. Đó là cuộc chạy đua của các phòng nghiên cứu trên thế giới không chỉ vì tính kinh tế mà còn vì sự hiểu biết của khoa học.
Nguồn: TS. Nguyễn Quốc Bình, hcmbiotech.com.vn.- By Trieu Thanh Tuan
- 1 comment
- 3 likes
-
liemtran308 Tám Lúa đã đến nhà của Ts Văn Thị Hạnh rồi, dịp tới gặp Ts Hạnh hỏi xem vụ việc tiến triển như thế nào ...ka ka....
Tám Lúa không bao giờ tin về vaccine trong nuôi trồng thủy sản.
-
Nghề nuôi cá rô phi đỏ (Oreochromis sp) ở nước ta tập trung và phát triển mạnh nhất ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, chất lượng cá giống hiện bị suy giảm, ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của nghề nuôi. Con giống có chất lượng (màu sắc đẹp, tăng trưởng nhanh, tỉ lệ sống cao) đang là một yêu cầu bức thiết của nghề nuôi cá rô phi đỏ tại Nam Bộ. Chọn giống dựa trên lý thuyết di truyền số lượng đã được chứng minh là cách thức khoa học và có hiệu quả nhất nhằm nâng cao các tính trạng mong muốn trên vật nuôi. Kết quả của chọn giống còn được tích lũy và duy trì qua từng thế hệ, do đó chất lượng con giống được ổn định và gia tăng theo thời gian.
Chương trình chọn giống tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II bắt đầu với việc tạo quần thể ban đầu của cá rô phi đỏ tại Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có sử dụng các chỉ thị di truyền phân tử để đánh giá vật liệu di truyền. Sau đó phương pháp chọn lọc gia đình được áp dụng lên hai tính trạng quan trọng là màu sắc và tăng trưởng của cá. Cho đến nay, chương trình chọn giống cá rô phi đỏ đầu tiên tại Nam Bộ đạt được một số kết quả quan trọng.
Tỉ lệ màu sắc được thị trường ưa chuộng đã được tăng lên gần gấp đôi chỉ sau một thế hệ, đạt 63,93%. Trọng lượng trung bình của cá có màu sắc được ưa chuộng không khác biệt có ý nghĩa thống kê (P>0,05) so với nhóm cá không ưa chuộng. Có thể chọn những nhóm cá có màu sắc được thị trường ưa chuộng (hồng hoặc cam hoặc đỏ và không có đốm) mà không ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng. Hệ số di truyền (heritability, h2) của quần thể cá rô phi đỏ F1 được ước tính sơ bộ là 0,23 ± 0,12. Cá phát tán từ chương trình chọn giống đã nhận được phản hồi tích cực từ người nuôi bè tại Mỹ Tho và Vĩnh Long về hai chỉ tiêu màu sắc và tăng trưởng.
Những kinh nghiệm và kết quả hiện tại của chương trình chọn giống sẽ giúp hoạch định và phát triển chiến lược chọn giống dài hạn cho cá rô phi đỏ nuôi tại Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và có thể mở rộng ra toàn quốc nói chung.
Nguồn: Trịnh Quốc Trọng, Trần Hữu Phúc, Phạm Đăng Khoa, Lao Thanh Tùng, Nguyễn Công Minh, Lê Trung Đỉnh. 2010. Chương trình chọn giống cá rô phi đỏ (Oreochromis sp.) đầu tiên tại Đồng Bằng Sông Cửu Long. Hội nghị CNSH Thủy sản Toàn quốc, TP. HCM, năm 2010.- By Trieu Thanh Tuan
- 1 comment
- 3 likes
-
Vu Nguyen Hoang Chương trình có ý tưởng hay và thiết thực nhưng tiếc là cho đến nay vẫn chưa...mang lại lợi ích gì đáng kể cho người nuôi, chương trình chọn lọc giống cho cá tra trước đây cũng như vậy !
-
Sự phát triển nghề nuôi tôm công nghiệp trong nhiều năm qua đã tạo áp lực lên môi trường nước và sự tự ô nhiễm môi trường ao nuôi. Bùn thải này nếu không được xử lý sẽ mang nhiều mầm bệnh và là nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm ao nuôi tôm. Trong nguồn thức cung cấp cho tôm và trong quá trình phát triển, tôm lột xác làm cho hàm lượng kitin trong môi trường ao nuôi tăng cao. Kitin không hoà tan trong nước nhưng khi được phân hủy bởi các enzym phân giải kitin sẽ tạo thành các sản phẩm hoà tan trong nước. Do vậy, hoạt động của nhóm VSV phân giải kitin trong môi trường rất quan trọng, sẽ giúp loại bỏ chất hữu cơ này trong bùn đáy ao nuôi tôm. Tuy nhiên, hầu hết các chế phẩm vi sinh vật sử dụng trong xử lý môi trường thủy sản được sản xuất trong nước hay nhập ngoại đều chưa quan tâm tới nhóm vi sinh vật này. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu phân lập và tuyển chọn được 2 chủng VK ST59 và BL75 từ các mẫu bùn ao nuôi tôm. chúng sinh trưởng tốt nhất và sinh tổng hợp enzym kitinaza mạnh nhất trong môi trường có nồng độ muối từ 0-3%.
Sử dụng dịch nuôi cấy của 2 chủng vi khuẩn này để xử lý bùn ao nuôi tôm trong điều kiện phòng thí nghiệm cho thấy: Sau 20 ngày ủ trong mẫu thí nghiệm mật độ của vi khuẩn phân giải kitin cao hơn hẳn so với mẫu bùn ban đầu và mẫu đối chứng. Số lượng vi khuẩn Total coliform và vi khuẩn yếm khí trong mẫu thí nghiệm thấp hơn rất nhiều so với mẫu đối chứng do đó mùi thối cũng giảm hẳn. Các chỉ tiêu phân tích thành phần hóa học của bùn sau khi xử lý cũng cho thấy hàm lượng mùn trong mẫu thí nghiệm tăng 44,4%; K2O dễ tiêu tăng 12,7%; P2O5 dễ tiêu tăng 25,1%; tổng N hoà tan tăng 13,2% so với mẫu đối chứng. Vì vậy có thể sử dụng 2 chủng vi khuẩn trên để tạo chế phẩm sinh học dùng cho xử lý bùn ao nuôi tôm cao sản.
Nguồn: Tăng Thị Chính, Hoàng Đại Tuấn. 2010. Nghiên cứu sử dụng vi khuẩn sinh tổng hợp enzyme kitinase cao để tạo chế phẩm vi sinh vật xử lý ao hồ nuôi tôm. Hội nghị CNSH Thủy sản Toàn quốc, TP. HCM, năm 2010.- By Trieu Thanh Tuan
- 0 comments
- 2 likes
-
Sự ảnh hưởng của nước và hexan ly trích từ lá cây trên lên đáp ứng miễn dịch không đặc hiệu và sức đề kháng bệnh của cá rôphi được xác định bằng cách tiêm chúng riêng lẽ vào cá rô phi ở các nồng độ 0, 4, 40 và 400mg/kg trọng lượng cá và được ghi nhận sau 2, 4, 6, 8 và 10 ngày.
Miễn dịch không đặc hiệu được đánh giá thông qua hoạt tính của lysozyme trong huyết thanh, sản phẩm oxy nguyên tử (ROS) và sản phẩm nitơ nguyên tử (RNS) được sinh ra từ các bạch cầu trong máu. Bên cạnh đó, tỉ lệ sinh tồn tương đối (RPS) cũng được ghi nhận khi cá được cảm nhiễm với vi khuẩn Aeromonas hydrophila. Kết quả thí nghiệm cho thấy, hoạt tính của lysozyme đều tăng ở các nồng độ tiêm của chúng. Đối với ROS, các nồng độ của nước ly trích đều làm tăng ROS trong mọi thời điểm của thí nghiệm, nhưng hexan chỉ xuất hiện từ ngày thứ 4 của thí nghiệm. Tiếp đó, sự tăng của RNS cũng được quan sát ở nước ly trích với nồng độ 400mg/kg cá trong ngày thứ 6 và 8, nhưng hexan chỉ ở liều 40mg/kg cá trong ngày thứ 6. Cuối cùng là RPS, nó đạt cao nhất ở nghiệm thức 400mg nước ly trích/kg cá (70.84%), kế đó là nghiệm thức 4mg hexan/kg cá (65.01%).
Vì thế, các dịch chiết từ lá cây trên có thể được dùng để tăng sức đề kháng của cá trong nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, theo tác giả thì dịch chiết hexan là tốt hơn và có thể dùng cho việc phòng bệnh trong thủy sản.
Người dịch: Ths. Đoàn Nhật Phương, BM Sinh học và Bệnh thủy sản, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
Nguồn tin: M. Divyagnaneswari, D. Christybapita and R. Dinakaran Michael. 2007. Enhancement of nonspecific immunity and disease resistance in Oreochromis mossambicus by Solanum trilobatum leaf fractions. Fish and Shellfish immunology 23: 249-259 (2007).- By Trieu Thanh Tuan
- 0 comments
- 2 likes
-
Dấu hiệu bệnh lý
Cá bệnh sẽ có một hoặc nhiều dấu hiệu dưới đây, nhưng cũng có trường hợp cá nhiễm bệnh mà không có bất kỳ dấu hiệu bệnh lý nào đặc trưng.
- Tỉ lệ chết cao ở cá hương và cá giống
- Trướng bụng (bụng sưng lên do tích lũy các chất dịch)
- Mắt cá bị phù
- Xuất huyết bên trong cơ
- Xuất huyết ở phần vây
- Hoại tử ở phần mô kẽ của ống thận
Tác nhân
Bệnh virus trên cá da trơn (Channel catfish virus disease - CCVD) gây ra do tác nhân là herpesvirus (Ictalurid herpesvirus 1).
Các loài cá có thể cảm nhiễm bệnh CCVD
- Hiện những loài cá được biết cảm nhiễm virus CCVD là: cá nheo xanh (blue catfish* - Ictaluris furcatus), cá nheo (channel catfish* - Ictaluris punctatus) và cá nheo trắng (white catfish - Ictaluris catus). (* cảm nhiễm tự nhiên những loài cá khác cảm nhiễm trong điều kiện thí nghiệm).
- Hiện diện ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
- Điều ngạc nhiên là hiện tại chưa có báo cáo chính thức nào về bệnh do virus này ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương trong các chương trình quản lý dịch bệnh trên động vật thủy sản do NACA – FAO – OIE quản lý.
Dịch tể học
- Bệnh lây truyền theo phương ngang trực tiếp bởi nguồn nước hoặc từ các vật chủ mang mầm bệnh khác.
- Lây truyền theo phương dọc được cho là phổ biến. Tuy nhiên, do không tìm thấy virus trên da hay các sản phẩm sinh dục trong quá tình sinh sản nên cơ chế này không được chứng minh.
- Những ổ virus CCVD trên cá sẽ lây truyền khi tiếp xúc với cá khỏe.
- Tính nhạy cảm với virus phù thuộc vào những loài cá datrown khác nhau.
- Mặc dù cá lớn thường dễ bộc phát bệnh do CCVD, nhưng trong thực tế cá thường mắc bệnh trong khoảng dưới 1 năm tuổi, đặc biệt là giai đoạn cá dưới 4 tháng tuổi.
- Tỉ lệ cá chết cao nhất khi nhiệt độ vượt quá 27°C, nhưng tỉ lệ chết bắt đầu giảm khi nhiệtđộ giảm xuống và cá ngừng chết khi nhiệt độ đạt 18°C.
Chuẩn đoán bệnh
Hiện chưa có phương pháp "chuyên sâu" để chuẩn đoán bệnh, chủ yếu là dựa vào dấu hiệu bệnh lý. Tuy nhiên, dấu hiệu bệnh lý tổng quát nêu trên cũng thường tìm thấy trong một số bệnh khác trên cá da trơn. Vì vậy, chỉ nên tham khảo dấu hiệu bệnh chứ không thể khẳng định chính xác bệnh do CCVD dựa vào dấu hiệu bệnh lý.
Thu mẫu
Bởi vì không chắc chắn trong việc xác định bệnh dựa vào dấu hiệu tổng quát, và cũng không chắc là bệnh này có thể lây sang người hay không, bạn không nên tự mình thu mẫu cá bệnh trừ khi bạn đã qua đào tạo. Do đó, khi quan sát thấy cá có dấu hiệu bệnh lý bạn nên báo cho các trung tâm quản lý dịch bệnh động vật thủy sản để họ cho bạn lời khuyên nên làm thế nào để xử lý và thu mẫu như thế nào.
© Triệu Thanh Tuấn, www.aquanetviet.org.- By Trieu Thanh Tuan
- 0 comments
- 2 likes
-
Cá than có tên khoa học là Anoplopoma fimpria, là một trong hai loài cá thuộc họ Anoplopomatidae và là loài duy nhất trong giống Anoplopoma. Cá than có rất nhiều tên gọi khác nhau tùy theo nước mà nó sinh sống, chúng được gọi là cá bơ (butterfish) ở Mỹ và Úc hoặc cá tuyết đen (black cod) hay cá nến (candlefish) ở Anh, hoặc cá than (coal-fish) ở Canada.
Cá than được tìm thấy tại các đáy nhiều bùn của khu vực bắc Thái Bình Dương ở độ sâu từ 300 tới 2.700 m, chúng là loài cá có giá trị kinh tế quan trọng tại Nhật Bản và được bán với giá khá cao. Cá than có tuổi thọ rất cao, nhiều báo cáo cho thấy chúng có thể sống đến 75 năm. Kích thước lớn nhất của cá than được ghi nhận là 122 cm (4 feet).
Cá than là loài cá dữ ăn động vật, do đó chúng thường ăn những con cá hoặc động vật khác nhỏ hơn. Thức ăn của chúng thường là cá minh thái (Pollock), cá eulachon, sand lance, herring. Chúng cũng ăn sứa và mực.
Cá than được xem là loài cá ngon và giàu giá trị dinh dưỡng. Khi chế biến với ít dầu, chúng được xem là món ăn bổ dưỡng, vì chúng có hàm lượng mỡ cao. Thịt cá than chứa nhiều axít béo omega 3 chuỗi dài có lợi cho sức khỏe như EPA và DHA, hàm lượng các axít béo này tương tự như ở cá hồi hoang dã. Thịt cá than cũng rất giàu vitamin A và D rất tốt cho sức khỏe. Chúng cũng chứa ít thủy ngân, điều này rất quan trọng vì hiện nay nhiều người lo lắng về mức độ thủy ngân tích lũy trong thịt hải sản.
© Triệu Thanh Tuấn, www.aquanetviet.org.- By Trieu Thanh Tuan
- 0 comments
- 2 likes
-
Ngày 3/5/2013, Cục Quản lý Chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản Nam Bộ (NAFIQAD-SRA) đã gửi thông báo cảnh báo về việc phát hiện mật độ tảo độc Dinophysis caudata vượt quá giới hạn cảnh báo tại vùng thu hoạch Bà Lụa, tỉnh Kiên Giang.
NAFIQAD-SRA yêu cầu Chi cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản Kiên Giang thực hiện lấy mẫu tăng cường (mẫu nước để phân tích tảo độc Dinophysis caudata và mẫu nghêu lụa, sò lông để phân tích độc tố Lypophylic) với tần suất 3 ngày/lần và tăng số điểm lấy mẫu gấp đôi.
Các doanh nghiệp chế biến nhuyễn thể 2 mảnh vỏ phải kiểm tra độc tố Lypophylic (DSP) đối với lô hàng nghêu lụa và sò lông hoặc có thành phần nghêu lụa và sò lông có xuất xứ từ vùng thu hoạch nhuyễn thể 2 mảnh vỏ Bà Lụa, tỉnh Kiên Giang kể từ ngày 20/4/2013 cho đến khi có thông báo kết quả kiểm tra an toàn vệ sinh vùng thu hoạch đạt yêu cầu. Chỉ những lô hàng có kết quả kiểm tra độc tố đạt yêu cầu mới được đưa ra thị trường tiêu thụ hoặc xuất khẩu.
Các Trung tâm Chất lượng Nông lâm sản thủy sản vùng 1-6 phải giám sát việc thực hiện của doanh nghiệp đối với yêu cầu nêu trên trong quá trình kiểm tra lô hàng và cấp chứng thư.
Nguồn: Ngọc Hà, VASEP.- By Trieu Phu
- 0 comments
- 2 likes
-
Một trong những loài hoa lớn nhất và cổ nhất thế giới đã nở ở Ohio ngày 17/5/2013: hoa Titan Arum cực hiếm. Cây hoa, được trồng bỡi Nhà Khoa học Sinh học tại Đại học Ohio, là loài đặc hữu của rừng nhiệt đới Sumatra, nơi nó được phát hiện lần đầu năm 1878. Ngày nay, nó mang tên kỳ lạ là “hoa xác chết” vì mùi thối kinh khủng, giống như mùi thịt đang thối rữa.
Thành tựu hôm thứ tư qua là một phần nỗ lực đang được tiến hành để cứu loài hoa quý hiếm này, một phần được dẫn đầu bỡi nhà sinh học gien phân tử Joan Leonard, người trồng hạt giống cho cây hoa hiện giờ nặng 49 pound từ năm 2001. Trên toàn thế giới, loài này đã nở hoa ít hơn 150 lần kể từ khi được phát hiện cách nay hơn 100 năm, theo Sandi Rutkowski, giám đốc thông tin của trường Nghệ thuật và Khoa học thuộc OSU cho biết.
Vì sự bùng nổ dân số, môi trường sống của hoa xác chết giảm xuống. Khoảng 70% môi trường sống đặc hữu ở rừng mưa nhiệt đới Sumatra đã bị phá hủy, Leonard nói.
Hôm thứ tư, khu nhà kính của bang Ohio lại trở thành một trong số ít nơi được chứng kiến sự nở hoa của một loài hoa rụt rè, hiếm thấy. Để cứu loài này, các nhà bảo tồn phải làm cho bông hoa thối của cây này nở hoa, vì đó là cách duy nhất mà các nhà thực vật học có thể thu được và chia xẻ phấn hoa và hạt giống để nhân giống, Rutkowski nói.
“Quần đảo Sumatra có dân số đang bùng nổ, vì thế để nuôi sống dân chúng, người ta đang dọn sạch nơi sinh sống của Titan Arum. Nơi sinh sống của nó sẽ biến mất nhanh chóng, và nó chỉ mọc ở một nơi trên thế giới. Cách duy nhất để cứu nó là các nhà sinh học thực vật và các nhà bảo tồn bảo vệ nó. Đó là lý do tại sao các nhà thực vật học và các nhà bảo vệ môi trường khắp thế giới đang cố trồng nó,” cô nói.
Mặc dù sự nở hoa ngày hôm qua đã đóng lại, nhiều bông hoa khác sẽ nở sớm, theo cô Leonard.“Việc nở hoa đã kết thúc, chúng tôi đã lấy phấn của nó ngày hôm qua, và chúng tôi sẽ lấy phấn đó để thụ phấn cho lần nở tới. Hôm nay chúng tôi có nụ thứ hai, và nó sẽ nở trong 10 ngày nữa.” IUCN phân loại loài hoa này là “sắp nguy cấp”, có nghĩa chỉ dưới nguy cấp một mức.
Nguồn: Viết bỡi Eric Franco, Blog Biển và Người- By Trieu Phu
- 0 comments
- 2 likes
-
Một đại diện từ công ty chịu trách nhiệm cung cấp kháng sinh đầu tiên được Cơ quản Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA - Food and Drug Administration) chấp thuận cho dùng trong thức ăn cho nuôi trồng thủy sản ở Mỹ trong hai thập niên đã nói chuyện với khán giả về sản phẩm gần đây trong chương trình "Fish Farming Trade" ở Greenville, bang Mississippi.
Palma Jordan (giám đốc tiếp thị cao cấp), Schering Plough (global aquaculture) cho rằng Aquaflor là an toàn cho cộng đồng và môi trường, nó đặc biệt hiệu quả trong việc chống lại bệnh nhiễm trùng huyết đường ruột (ECS - enteric septicemia), kết hợp với Edwardsiella ictaluri trên cá, mà không có bất kỳ tác dụng phụ tiêu cực rõ ràng được ghi nhận.
Jordan nói rằng, dựa trên dữ liệu nghiên cứu sâu rộng, Aquaflor là kháng sinh chủ lực và quan trọng trên thị trường "vì thuốc có tác dụng rất nhanh và giảm tỉ lệ cá chết một cách rõ rệt, điều này cho phép người nuôi giảm tỉ lệ thả giống lại và giảm chi phí đáng kể".
Theo số liệu từ USDA, bệnh cá da trơn (catfish) gây thiệt hại nhiều nhất là các bệnh liên quan đến ruột, nhiễm trùng huyết và culminatus, với tổng thiệt hại lên đến gần 50 triệu USD hàng năm.
Trong khi các nhà nghiên cứu Plough vẫn chưa bắt đầu nghiên cứu để xem liệu Aquaflor có thể ngăn chặn được bệnh culminatus hay không, Jordan cho biết các nhà nghiên cứu đều có xu hướng nghĩ rằng nó sẽ hiệu quả.
Việc tìm ra thuốc để ngăn chặn chỉ một mình bệnh ECS là đủ cho ngành công nghiệp nuôi cá vực dậy và phát triển. Hugh Warren, chủ tịch hội nông dân nuôi cá da trơn của Mỹ, đã gọi Aquaflor là một "bước đột phá cho ngành công nghiệp nuôi cá".
"Aquaflor là một kháng sinh thế hệ mới, an toàn và có sẵn cho người nông dân nuôi cá da trơn, nó là một công cụ cần thiết để cải thiện lợi nhuận trong khi vẫn đảm bảo cung cấp một sản phẩm an toàn, lành mạnh cho sức khỏe người tiêu dùng", Warren nói.
Các nhà nghiên cứu Plough tự hào cho rằng, không giống như các thuốc sulfa, tetracycline, Aquaflor được phát triển đặc biệt để sử dụng ở các loài nuôi dùng làm thực phẩm cho con người. Sự hình thành và phát triển Aquaflor được hỗ trợ bởi các nhà khoa học làm việc tại Trung tâm Quốc gia Nuôi trồng thủy sản Nước ấm Thad Cochran (Thad Cochran National Warmwater Aquaculture Center) ở Stoneville, bang Mississippi, và đặc biệt là nhà khoa học Patricia Gaunt.
Nghiên cứu được tiến hành tại cả hai trung tâm nghiên cứu Stoneville và trung tâm khảo sát địa chất ở Wisconsin đã xác định rằng Aquaflor không ảnh hưởng đến khả năng bắt mồi (tính ngon miệng) và tỷ lệ tử vong thấp khi trộn vào thức ăn cá da trơn.
Jordan nói rằng trong một nghiên cứu khả năng bắt mồi, Aquaflor đạt số điểm 19,5/20. "Và ở khu vực thí nghiệm với cá được cho ăn cao hơn 10 lần liều lượng đề nghị cùng với cá không được điều trị bằng Aquaflor cho thấy không có sự khác biệt". "Những lợi thế đó giúp giảm thiểu tỷ lệ tử vong trong khi cá sử dụng thức ăn có chứa kháng sinh và bạn sẽ tối đa hóa lượng kháng sinh," Jordan nói.
Jordan cho biết cũng có nhiều "yếu tố tiện lợi" để xem xét áp dụng Aquaflor trong điều trị bệnh cá: "Nó rất ổn định ở nhiệt độ cao và khá bền, dể sử dụng khi trộn vào trong thức ăn nổi, bạn có thể theo dõi thức ăn của bạn và lượng kháng sinh trong thời gian điều trị".
Một loại kháng sinh khác cũng tương tự Aquaflor được phát triển bởi Plough, được gọi là Nuflor (florfenicol), đã được chứng minh để điều trị bệnh hô hấp ở gia súc. Bởi vì điều này được phân loại bởi FDA, nó là cần thiết rằng để các nông dân nuôi cá da trơn có được một toa thuốc của Aquaflor từ một bác sĩ thú y được cấp phép.
Jordan cho biết Aquaflor đã chứng tỏ là một thành công lớn với người nuôi cá ở châu Âu và châu Mỹ La tinh trong khoảng 15 năm. Cán bộ Công ty có kỳ vọng tương tự ở thị trường nuôi trồng thủy sản Mỹ. "Lần đầu tiên được cấp phép tại Nhật Bản và Na Uy, bây giờ được sử dụng trong nuôi trồng thủy sản trên khắp thế giới. Nó có một thành tích tuyệt vời đã được chứng minh" Jordan nói.
© Triệu Thanh Tuấn, www.aquanetviet.org.- By Trieu Thanh Tuan
- 0 comments
- 4 likes
-
Chuyện cá hồi bắt đầu bằng một cái chết, khi con cái, kiệt sức vì bơi ngược dòng sông có thể kéo dài trong vài tuần và vượt qua hàng trăm dặm, vảy mất màu, thân co lại, đẻ hàng vạn trứng ở hàng loạt vị trí dưới đáy sông. Khi những con đực cũng kiệt sức không kém ấp những trứng này, con cái lấp chúng lại bằng bùn và sỏi, và bảo vệ chúng cho tới khi chết, cũng như cha của chúng.
Chẳng bao lâu sau, trứng bắt đầu nở. Ban đầu chúng chỉ là cá bột, nhỏ xíu, ngoằn ngèo như những con giun, sau đó chúng tự ngụy trang bằng những vạch sọc, khi đó chúng được gọi là parr. Sau vài tháng hay vài năm, chúng phát triển thành smolt và bơi xuôi dòng để đến vùng nước lợ nơi những con sông hòa vào biển. Dần dần, cơ thể cá điều chỉnh theo độ mặn lạ lùng, cho tới khi chúng hướng về đại dương, và biến mất.
Nhiều năm sau đó, có hồi trở lại. Chúng sẽ bơi hàng ngàn dặm băng qua đại dương, đó là trường hợp của cá hồi Đại Tây dương sống ở vùng nước lạnh ngoài khơi bờ biển phía tây Greenland. Nhưng bất cứ con cá hồi nào còn sống sót đều làm như vậy trong chính dòng sông mà chúng sinh ra. Từ lâu con người rất thích thú điều này, và điều này cho đến nay vẫn còn hiểu mù mờ. Một số cho rằng cá hồi tìm ra được dòng suối bằng cách sử dụng lực hút từ trường của trái đất, hoặc khứu giác của cá hồi nhạy đến nỗi chúng có thể nhận ra các vật trong dòng nước mà con người không thể nhận ra.
Dù chúng làm cách nào, thì chúng trở về với cơ thể béo tốt – và ăn ngon nhất – và bắt đầu bơi chầm chậm ngược dòng nước. Chúng sử dụng năng lượng của chính mình rất hiệu quả, bao tử của chúng bị hủy hoại khi chúng vào nội địa, không có thời gian nào để nghỉ ngơi vì dòng nước luôn tuôn vào chúng bằng những chất ô nhiễm, đập thủy điện và những kẻ săn mồi. Hàm của con đực cong và hơi méo, dường như làm cho nó hấp dẫn hơn đối với con cái, và da chúng đổi màu. Cuối cùng khi chúng về đến nơi chúng được nở ra, chúng đẻ trứng, chăm sóc trứng, và hầu như không có ngoại lệ, chúng chết. Giả sử không có những trở ngại mà con người tạo ra cho cá hồi, ít hơn một phần ngàn cá hồi thực hiện trọn vẹn chuyến trở về của chúng.
Tất cả cá hồi sống ở bán cầu bắc: bất kỳ con “cá hồi” nào họ phục vụ cho bạn ở Melbourne hay Cape Town phải là cá được nhập khẩu hoặc một loài cá khác hoàn toàn. Thái Bình dương có khoảng một tá loài cá hồi, chất lượng thịt của chúng rất khác nhau. Cá hồi bạc (silver salmon ) hay soho ở miên tây Canada rất ngon. Loài cá hồi nhiều nhất ở Thái Bình Dương, được đặt tên một cách tầm thường và xấu là cá hồi chó (dog salmon), chỉ để dùng trong ngành đồ hộp.
Chỉ một loài cá hồi dũng cảm còn lại ở Đại tây dương, Salmo Salar. Là loài cá hồi ngon nhất, chúng đã từng phân bố từ bờ biển nam Bồ Đào Nha lên tận phía bắc đến Na-uy, qua Greenland và phía nam đến sông Hudson. Nó là loài cá chính của những người trung niên Âu Châu, nướng và hầm, kho rim, làm patê và ướp bỏ hũ, ướp muối và xông khói.
Những người Mỹ bản địa sống gần bờ biển Đại tây Dương xẻ cá và nướng trong các bữa ăn ngoài trời. Hiện nay, khó mà có con cá hồi Đại Tây Dương nào tồn tại. Số lượng của chúng giảm tới 80% kể từ đầu những năm 1980, chúng bị tàn phá nặng nề so với trước đó. Hiện nay, cá này nằm trong sách đỏ của tổ chức Greenpeace là loài cực kỳ nguy cấp.
Nhưng tất nhiên lúc nào chúng ta cũng ăn chúng. Người Anh chén một bữa cá hồi mỗi ngày. Trên toàn cầu, ngành công nghiệp nuôi cá hồi đạt trị giá 11 tỷ đô la vào năm 2007, gấp 10 lần so với năm 1982. Hai mươi lăm năm trước, ngành nuôi cá hồi chỉ đạt sản lượng quá nửa số lượng cá hồi Đại Tây Dương sản xuất trên toàn thế giới. Hiện nay, cá hồi nuôi chiếm 99,8% thị trường. Cá hồi là loại thực phẩm xuất khẩu lớn nhất của Scotland, và từ khi Trung hoa xung đột với Na-uy vào năm ngoái, người Scots đã tìm ra một thị trường có lợi nhuận tiềm năng khổng lồ.
Cá hồi nuôi cũng có tiếng xấu như nuôi gà bằng năng lượng và nuôi heo trong thùng gỗ. Một nghiên cứu khoa học vào năm 2004 phát hiện cá hồi nuôi (đặc biệt là ở Scotland) có chứa hàm lượng chlorine cao, và nghiên cứu tiếp theo vào năm sau tiết lộ cá từ trại nuôi cá hồi có chứa gấp 10 lần mức thuốc trừ sâu, dioxin, và PCB. Nghiên cứu này kết luận rằng “ người tiêu dùng không nên ăn cá hồi nuôi từ Scotland, Na-uy và đông Canada nhiều hơn 3 lần một năm”.
Các trại nuôi cá hồi làm tăng phát tán động vật ký sinh và bệnh dịch như rận biển (sea lice) và bệnh thiếu máu do cá hồi nhiễm bệnh, điều này có thể gây hủy hoại toàn bộ sản lượng chỉ trong vòng vài ngày. Các kim loại nặng như đồng và kẽm tích tụ bên dưới trại nuôi cá hồi trong điều kiện không có dòng nước mạnh để cuốn chúng đi. Những con cá hồi sổ lồng (600 ngàn lồng chỉ tính ở Scotland vào năm 2004) có thể phối giống với cá tự nhiên làm hủy hoại nguồn gene và lây thêm bệnh. Để nuôi cá hồi, người ta dùng một số lượng bột cá khổng lồ, việc này góp phần tàn phá trữ lượng các loài cá tự nhiên. Những gì tạo áp lực cho những người thích cá hồi như chúng ta, là giá cá hồi thu hoạch tự nhiên. Chi phí môi trường của thực phẩm không nên bỏ qua, nhưng người ta cũng không nên từ bỏ một trong những loại thực phẩm ngon nhất của tự nhiên. Thật đáng buồn, câu chuyện khó sửa chữa này lập lại quá thường xuyên trong thực phẩm và nông nghiệp, chưa có giải pháp rõ ràng và tương lai sáng sủa. Ngay cả loại cá hồi nuôi màu vàng cam đậm nhất, nhiều mỡ nhất và rẻ nhất có thể cũng rất ngon nếu được chế biến đúng cách. Tôi thừa nhận tôi miễn cưỡng từ chối ăn cá hồi nuôi một vài lần, vì tôi nghi ngờ đa số những người thích ăn cá thỉnh thoảng sẵn sàng hy sinh đạo đức vì vòm miệng.
Dĩ nhiên cá hồi có thể được nấu thành quá nhiều món, không những là món cá xông khói ngon nhất (loại ngon nhất tôi từng ăn do hãng Jon Ross sản xuất) mà còn kết hợp tốt với hầu hết những thực phẩm khác và đa số những gia vị tuyệt vời. Thịt nhiều mỡ của cá rất thích hợp với chanh và giấm cũng như dưa leo Anh, và hợp màu sắc với loại trái cây nhiều dầu nhất, lê tàu. Có lẽ tôi thích nhất là ăn cá hồi với củ cải đường, vị ngọt lạ của nó phù hợp cực kỳ với loại protein cá hồng hồng.
Nguồn: Bản tiếng Việt từ Blog Biển và Người.- By Trieu Phu
- 2 comments
- 3 likes
-
liemtran308 Cá Hồi(Salmon) có 2 loại:
- Cá hồi Thái Bình Dương gồm có Nga, Mỹ(Alaska, Washington và Oregon) và Canada, sau 4 năm rong chơi ngoài biển, chúng trở về nguồn theo dòng sông lên SUỐI NGUỒN đẻ xong rồi chết, thân xác rả ra biến thành rong rêu là thức ăn sau này cho cá hồi con, đặc tính của cá hồi là sanh ra từ dòng sông nào thì chúng trở về dòng sông đó.
Ở bang Washington, trường Đại Học Seattle (cách nhà Tám Lúa 18km)là trung tâm nghiên cứu về cá hồi mà ông Vũ Thế Trụ đang làm việc ở đó, Ts Trụ đã vang bóng một thời viết sách CÙI BẮP về Kỹ Thuật nuôi tôm đã tái xuất bản ở VN năm 90 của thế kỷ trước.
Cái link nghiên cứu cá hồi ở đại Seattle:
http://www.vietlinh.com.vn/vietlinh/2012_UW_hatchery_vi.asp
Cá hồi Đại Tây Dương(Âu Châu), cũng 4 năm trở về nguồn đẻ, cá bố mẹ không chết vẫn sống nhăn răng và trở ra biển.
-
Nghiên cứu này nhằm xác định một số đặc điểm sinh học của tinh trùng tôm sú và đánh giá khả năng sử dụng các chất chông đông: DMSO (dimethyl sulfoxide), methanol và glycerol để bảo quản tinh trùng tôm sú trong nitơ lỏng.
Kết quả quan sát cho thấy tinh trùng của tôm sú gồm hai phần: phần đầu hình oval có đường kính theo trục dọc là 4,57- 5,00 μm, đường kính theo trục ngang là 4,35-4,85 μm; phần gai nhọn (spkike) có chiều dài 4,10- 4,75 μm. Trong 3 loại chất chống đông trên thì DMSO cho kết quả tỷ lệ sống của tinh trùng đạt 76,4±2,2%, cao hơn so với 2 chất còn lại; tỷ lệ dị hình của tinh trùng sau bảo quản là thấp nhất: 17,8±7,1%. Sử dụng DMSO với nồng độ 5% sẽ cho kết quả tỷ lệ thụ tinh (67,3±10,4) và tỷ lệ nở (56,7±9.9) cao hơn so với DMSO 10%.
Nguồn: Nguyễn Văn Minh, Ngô Đăng Nghĩa, Đặng Thúy Bình. 2010. Nghiên cứu bảo quản tinh trùng tôm sú (Penaeus monodon Fabricius, 1798) trong nitơ lỏng. Hội nghị CNSH Thủy sản Toàn quốc, TP. HCM, năm 2010.- By Trieu Thanh Tuan
- 0 comments
- 3 likes
-
Hội chứng virus đốm trắng xảy ra khắp nơi trên thế giới, là nguyên nhân gây tỉ lệ tôm chết cao và ảnh hưởng nghiêm trọng đến ngành nuôi tôm công nghiệp. Hiện tại, chưa có phương pháp nào chống lại virus này được phổ biến.
Thông thường, động vật không xương sống như tôm không có hệ thống đáp ứng miễn dịch như ở những loài động vật có xương sống. Tuy nhiên, thí nghiệm đã chỉ ra rằng những tôm sống sót sau khi bị nhiễm WSSV sẽ có tỉ lệ sống cao hơn khi tái cảm nhiễm. Chúng tôi nghiên cứu khả năng của vacxin cho tôm thông phương pháp cho ăn, vacxin này chứa protein vỏ của WSSV. Tôm sú (Penaeus monodon) được cho ăn thức ăn viên áo bên ngòai 1 lớp vi khuẩn không họat động biểu hiện 2 lọai protein vỏ của WSSV là VP19 và VP28. Vacxin chứa VP28 cho thấy tỉ lệ chết của tôm thấp hơn có ý nghĩa khi so sánh với lô đối chứng (vi khuẩn chỉ chứa vector rổng) thông qua phương pháp ngâm (tỉ lệ sống 61%), trong khi đó vacxin chứa VP19 không thể hiện sự bảo vệ nào. Để xác định sự tấn công và thời gian bảo vệ của vacxin, thí nghiệm cảm nhiễm được thực hiện sau khi sử dụng vacxin 3, 7 và 21 ngày.
Tỉ lệ sống cao hơn có ý nghĩa được quan sát sau khi tôm sử dụng vacxin 3, 7 ngày (64% và 77%), nhưng sự bảo vệ đã giảm sau 21 ngày (tỉ lệ sống 29%). Trái với những hiểu biết hiện tại, động vật không xương sống không có hệ thống đáp ứng miễn dịch nhưng kết quả này cho thấy đáp ứng miễn dịch đặc hiệu và khả năng bảo vệ có thể tạo ra ở P. monodon. Các thí nghiệm trên mở ra con đường mới phòng WSSV mang lợi ích cho công nghiệp nuôi tôm.
Người dịch: Ths. Bùi Thị Bích Hằng (btbhang@ctu.edu.vn), BM Sinh học và Bệnh thủy sản, Khoa Thủysản, Đại học Cần Thơ.
Nguồn tin: Jeroen Witteveldt, Carolina C. Cifuentes, Just M. Vlak, and Marie¨lle C. W. van Hulten. Protection of Penaeus monodon against White Spot Syndrome Virus by Oral Vaccination. JOURNAL OF VIROLOGY, Feb. 2004, p. 2057–2061 Vol. 78, No. 4- By Admin
- 0 comments
- 2 likes