• Sign In
  • Create Account
Sign In
Create Account
Vietnam Aquaculture Network
  • News Feed
  • Hot Topics
  • Top Rated
  • Categories
    • Everything (867)
    • Aquaponics (8)
    • Công nghệ Bioflocs (23)
    • Bệnh học thủy sản (155)
    • Nuôi trồng thủy sản (70)
    • Động vật thủy sinh (255)
    • Sản xuất giống thủy sản (69)
    • Dinh dưỡng thủy sản (46)
    • Sinh lý cá và giáp xác (33)
    • Quản lý chất lượng nước (36)
    • Thuốc & hóa chất thủy sản (51)
    • Sự kiện thủy sản (1)
    • Thực vật thủy sinh (19)
    • Khai thác, chế biến, xuất khẩu (36)
    • Chuyên mục khác (61)
  • Members
  • Cá than - Sablefish
    Cá than có tên khoa học là Anoplopoma fimpria, là một trong hai loài cá thuộc họ Anoplopomatidae và là loài duy nhất trong giống Anoplopoma. Cá than có rất nhiều tên gọi khác nhau tùy theo nước mà nó sinh sống, chúng được gọi là cá bơ (butterfish) ở Mỹ và Úc hoặc cá tuyết đen (black cod) hay cá nến (candlefish) ở Anh, hoặc cá than (coal-fish) ở Canada.

    Cá than được tìm thấy tại các đáy nhiều bùn của khu vực bắc Thái Bình Dương ở độ sâu từ 300 tới 2.700 m, chúng là loài cá có giá trị kinh tế quan trọng tại Nhật Bản và được bán với giá khá cao. Cá than có tuổi thọ rất cao, nhiều báo cáo cho thấy chúng có thể sống đến 75 năm. Kích thước lớn nhất của cá than được ghi nhận là 122 cm (4 feet).

    Cá than là loài cá dữ ăn động vật, do đó chúng thường ăn những con cá hoặc động vật khác nhỏ hơn. Thức ăn của chúng thường là cá minh thái (Pollock), cá eulachon, sand lance, herring. Chúng cũng ăn sứa và mực.

    Cá than được xem là loài cá ngon và giàu giá trị dinh dưỡng. Khi chế biến với ít dầu, chúng được xem là món ăn bổ dưỡng, vì chúng có hàm lượng mỡ cao. Thịt cá than chứa nhiều axít béo omega 3 chuỗi dài có lợi cho sức khỏe như EPA và DHA, hàm lượng các axít béo này tương tự như ở cá hồi hoang dã. Thịt cá than cũng rất giàu vitamin A và D rất tốt cho sức khỏe. Chúng cũng chứa ít thủy ngân, điều này rất quan trọng vì hiện nay nhiều người lo lắng về mức độ thủy ngân tích lũy trong thịt hải sản.

    © Triệu Thanh Tuấn, www.aquanetviet.org.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 2 likes
    • 6 hours ago
    • Trieu Thanh Tuan and
    • Ba Tôm
  • NAFIQAD cảnh báo về tảo độc Dinophysis caudate tại Kiên Giang
    Ngày 3/5/2013, Cục Quản lý Chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản Nam Bộ (NAFIQAD-SRA) đã gửi thông báo cảnh báo về việc phát hiện mật độ tảo độc Dinophysis caudata vượt quá giới hạn cảnh báo tại vùng thu hoạch Bà Lụa, tỉnh Kiên Giang.

    NAFIQAD-SRA yêu cầu Chi cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản Kiên Giang thực hiện lấy mẫu tăng cường (mẫu nước để phân tích tảo độc Dinophysis caudata và mẫu nghêu lụa, sò lông để phân tích độc tố Lypophylic) với tần suất 3 ngày/lần và tăng số điểm lấy mẫu gấp đôi.

    Các doanh nghiệp chế biến nhuyễn thể 2 mảnh vỏ phải kiểm tra độc tố Lypophylic (DSP) đối với lô hàng nghêu lụa và sò lông hoặc có thành phần nghêu lụa và sò lông có xuất xứ từ vùng thu hoạch nhuyễn thể 2 mảnh vỏ Bà Lụa, tỉnh Kiên Giang kể từ ngày 20/4/2013 cho đến khi có thông báo kết quả kiểm tra an toàn vệ sinh vùng thu hoạch đạt yêu cầu. Chỉ những lô hàng có kết quả kiểm tra độc tố đạt yêu cầu mới được đưa ra thị trường tiêu thụ hoặc xuất khẩu.

    Các Trung tâm Chất lượng Nông lâm sản thủy sản vùng 1-6 phải giám sát việc thực hiện của doanh nghiệp đối với yêu cầu nêu trên trong quá trình kiểm tra lô hàng và cấp chứng thư.

    Nguồn: Ngọc Hà, VASEP.
    • By Trieu Phu
    • 0 comments
    • 2 likes
    • 7 hours ago
    • Trieu Thanh Tuan and
    • Ba Tôm
  • Loài hoa lớn nhất thế giới có mùi giống như mùi xác chết - Titan Arum
    Một trong những loài hoa lớn nhất và cổ nhất thế giới đã nở ở Ohio ngày 17/5/2013: hoa Titan Arum cực hiếm. Cây hoa, được trồng bỡi Nhà Khoa học Sinh học tại Đại học Ohio, là loài đặc hữu của rừng nhiệt đới Sumatra, nơi nó được phát hiện lần đầu năm 1878. Ngày nay, nó mang tên kỳ lạ là “hoa xác chết” vì mùi thối kinh khủng, giống như mùi thịt đang thối rữa.

    Thành tựu hôm thứ tư qua là một phần nỗ lực đang được tiến hành để cứu loài hoa quý hiếm này, một phần được dẫn đầu bỡi nhà sinh học gien phân tử Joan Leonard, người trồng hạt giống cho cây hoa hiện giờ nặng 49 pound từ năm 2001. Trên toàn thế giới, loài này đã nở hoa ít hơn 150 lần kể từ khi được phát hiện cách nay hơn 100 năm, theo Sandi Rutkowski, giám đốc thông tin của trường Nghệ thuật và Khoa học thuộc OSU cho biết.

    Vì sự bùng nổ dân số, môi trường sống của hoa xác chết giảm xuống. Khoảng 70% môi trường sống đặc hữu ở rừng mưa nhiệt đới Sumatra đã bị phá hủy, Leonard nói.

    Hôm thứ tư, khu nhà kính của bang Ohio lại trở thành một trong số ít nơi được chứng kiến sự nở hoa của một loài hoa rụt rè, hiếm thấy. Để cứu loài này, các nhà bảo tồn phải làm cho bông hoa thối của cây này nở hoa, vì đó là cách duy nhất mà các nhà thực vật học có thể thu được và chia xẻ phấn hoa và hạt giống để nhân giống, Rutkowski nói.

    “Quần đảo Sumatra có dân số đang bùng nổ, vì thế để nuôi sống dân chúng, người ta đang dọn sạch nơi sinh sống của Titan Arum. Nơi sinh sống của nó sẽ biến mất nhanh chóng, và nó chỉ mọc ở một nơi trên thế giới. Cách duy nhất để cứu nó là các nhà sinh học thực vật và các nhà bảo tồn bảo vệ nó. Đó là lý do tại sao các nhà thực vật học và các nhà bảo vệ môi trường khắp thế giới đang cố trồng nó,” cô nói.

    Mặc dù sự nở hoa ngày hôm qua đã đóng lại, nhiều bông hoa khác sẽ nở sớm, theo cô Leonard.“Việc nở hoa đã kết thúc, chúng tôi đã lấy phấn của nó ngày hôm qua, và chúng tôi sẽ lấy phấn đó để thụ phấn cho lần nở tới. Hôm nay chúng tôi có nụ thứ hai, và nó sẽ nở trong 10 ngày nữa.” IUCN phân loại loài hoa này là “sắp nguy cấp”, có nghĩa chỉ dưới nguy cấp một mức.

    Nguồn: Viết bỡi Eric Franco, Blog Biển và Người
    • By Trieu Phu
    • 0 comments
    • 2 likes
    • 8 hours ago
    • Trieu Thanh Tuan and
    • Ba Tôm
  • Kháng sinh mới an toàn cho một số bệnh phổ biến trên cá da trơn
    Một đại diện từ công ty chịu trách nhiệm cung cấp kháng sinh đầu tiên được Cơ quản Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA - Food and Drug Administration) chấp thuận cho dùng trong thức ăn cho nuôi trồng thủy sản ở Mỹ trong hai thập niên đã nói chuyện với khán giả về sản phẩm gần đây trong chương trình "Fish Farming Trade" ở Greenville, bang Mississippi.

    Palma Jordan (giám đốc tiếp thị cao cấp), Schering Plough (global aquaculture) cho rằng Aquaflor là an toàn cho cộng đồng và môi trường, nó đặc biệt hiệu quả trong việc chống lại bệnh nhiễm trùng huyết đường ruột (ECS - enteric septicemia), kết hợp với Edwardsiella ictaluri trên cá, mà không có bất kỳ tác dụng phụ tiêu cực rõ ràng được ghi nhận.

    Jordan nói rằng, dựa trên dữ liệu nghiên cứu sâu rộng, Aquaflor là kháng sinh chủ lực và quan trọng trên thị trường "vì thuốc có tác dụng rất nhanh và giảm tỉ lệ cá chết một cách rõ rệt, điều này cho phép người nuôi giảm tỉ lệ thả giống lại và giảm chi phí đáng kể".

    Theo số liệu từ USDA, bệnh cá da trơn (catfish) gây thiệt hại nhiều nhất là các bệnh liên quan đến ruột, nhiễm trùng huyết và culminatus, với tổng thiệt hại lên đến gần 50 triệu USD hàng năm.

    Trong khi các nhà nghiên cứu Plough vẫn chưa bắt đầu nghiên cứu để xem liệu Aquaflor có thể ngăn chặn được bệnh culminatus hay không, Jordan cho biết các nhà nghiên cứu đều có xu hướng nghĩ rằng nó sẽ hiệu quả.

    Việc tìm ra thuốc để ngăn chặn chỉ một mình bệnh ECS là đủ cho ngành công nghiệp nuôi cá vực dậy và phát triển. Hugh Warren, chủ tịch hội nông dân nuôi cá da trơn của Mỹ, đã gọi Aquaflor là một "bước đột phá cho ngành công nghiệp nuôi cá".

    "Aquaflor là một kháng sinh thế hệ mới, an toàn và có sẵn cho người nông dân nuôi cá da trơn, nó là một công cụ cần thiết để cải thiện lợi nhuận trong khi vẫn đảm bảo cung cấp một sản phẩm an toàn, lành mạnh cho sức khỏe người tiêu dùng", Warren nói.

    Các nhà nghiên cứu Plough tự hào cho rằng, không giống như các thuốc sulfa, tetracycline, Aquaflor được phát triển đặc biệt để sử dụng ở các loài nuôi dùng làm thực phẩm cho con người. Sự hình thành và phát triển Aquaflor được hỗ trợ bởi các nhà khoa học làm việc tại Trung tâm Quốc gia Nuôi trồng thủy sản Nước ấm Thad Cochran (Thad Cochran National Warmwater Aquaculture Center) ở Stoneville, bang Mississippi, và đặc biệt là nhà khoa học Patricia Gaunt.

    Nghiên cứu được tiến hành tại cả hai trung tâm nghiên cứu Stoneville và trung tâm khảo sát địa chất ở Wisconsin đã xác định rằng Aquaflor không ảnh hưởng đến khả năng bắt mồi (tính ngon miệng) và tỷ lệ tử vong thấp khi trộn vào thức ăn cá da trơn.

    Jordan nói rằng trong một nghiên cứu khả năng bắt mồi, Aquaflor đạt số điểm 19,5/20. "Và ở khu vực thí nghiệm với cá được cho ăn cao hơn 10 lần liều lượng đề nghị cùng với cá không được điều trị bằng Aquaflor cho thấy không có sự khác biệt". "Những lợi thế đó giúp giảm thiểu tỷ lệ tử vong trong khi cá sử dụng thức ăn có chứa kháng sinh và bạn sẽ tối đa hóa lượng kháng sinh," Jordan nói.

    Jordan cho biết cũng có nhiều "yếu tố tiện lợi" để xem xét áp dụng Aquaflor trong điều trị bệnh cá: "Nó rất ổn định ở nhiệt độ cao và khá bền, dể sử dụng khi trộn vào trong thức ăn nổi, bạn có thể theo dõi thức ăn của bạn và lượng kháng sinh trong thời gian điều trị".

    Một loại kháng sinh khác cũng tương tự Aquaflor được phát triển bởi Plough, được gọi là Nuflor (florfenicol), đã được chứng minh để điều trị bệnh hô hấp ở gia súc. Bởi vì điều này được phân loại bởi FDA, nó là cần thiết rằng để các nông dân nuôi cá da trơn có được một toa thuốc của Aquaflor từ một bác sĩ thú y được cấp phép.

    Jordan cho biết Aquaflor đã chứng tỏ là một thành công lớn với người nuôi cá ở châu Âu và châu Mỹ La tinh trong khoảng 15 năm. Cán bộ Công ty có kỳ vọng tương tự ở thị trường nuôi trồng thủy sản Mỹ. "Lần đầu tiên được cấp phép tại Nhật Bản và Na Uy, bây giờ được sử dụng trong nuôi trồng thủy sản trên khắp thế giới. Nó có một thành tích tuyệt vời đã được chứng minh" Jordan nói.

    © Triệu Thanh Tuấn, www.aquanetviet.org.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 4 likes
    • 13 hours ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Admin
    • Ba Tôm and
    • 1 other
  • Câu chuyện về cá hồi
    Chuyện cá hồi bắt đầu bằng một cái chết, khi con cái, kiệt sức vì bơi ngược dòng sông có thể kéo dài trong vài tuần và vượt qua hàng trăm dặm, vảy mất màu, thân co lại, đẻ hàng vạn trứng ở hàng loạt vị trí dưới đáy sông. Khi những con đực cũng kiệt sức không kém ấp những trứng này, con cái lấp chúng lại bằng bùn và sỏi, và bảo vệ chúng cho tới khi chết, cũng như cha của chúng.

    Chẳng bao lâu sau, trứng bắt đầu nở. Ban đầu chúng chỉ là cá bột, nhỏ xíu, ngoằn ngèo như những con giun, sau đó chúng tự ngụy trang bằng những vạch sọc, khi đó chúng được gọi là parr. Sau vài tháng hay vài năm, chúng phát triển thành smolt và bơi xuôi dòng để đến vùng nước lợ nơi những con sông hòa vào biển. Dần dần, cơ thể cá điều chỉnh theo độ mặn lạ lùng, cho tới khi chúng hướng về đại dương, và biến mất.

    Nhiều năm sau đó, có hồi trở lại. Chúng sẽ bơi hàng ngàn dặm băng qua đại dương, đó là trường hợp của cá hồi Đại Tây dương sống ở vùng nước lạnh ngoài khơi bờ biển phía tây Greenland. Nhưng bất cứ con cá hồi nào còn sống sót đều làm như vậy trong chính dòng sông mà chúng sinh ra. Từ lâu con người rất thích thú điều này, và điều này cho đến nay vẫn còn hiểu mù mờ. Một số cho rằng cá hồi tìm ra được dòng suối bằng cách sử dụng lực hút từ trường của trái đất, hoặc khứu giác của cá hồi nhạy đến nỗi chúng có thể nhận ra các vật trong dòng nước mà con người không thể nhận ra.

    Dù chúng làm cách nào, thì chúng trở về với cơ thể béo tốt – và ăn ngon nhất – và bắt đầu bơi chầm chậm ngược dòng nước. Chúng sử dụng năng lượng của chính mình rất hiệu quả, bao tử của chúng bị hủy hoại khi chúng vào nội địa, không có thời gian nào để nghỉ ngơi vì dòng nước luôn tuôn vào chúng bằng những chất ô nhiễm, đập thủy điện và những kẻ săn mồi. Hàm của con đực cong và hơi méo, dường như làm cho nó hấp dẫn hơn đối với con cái, và da chúng đổi màu. Cuối cùng khi chúng về đến nơi chúng được nở ra, chúng đẻ trứng, chăm sóc trứng, và hầu như không có ngoại lệ, chúng chết. Giả sử không có những trở ngại mà con người tạo ra cho cá hồi, ít hơn một phần ngàn cá hồi thực hiện trọn vẹn chuyến trở về của chúng.

    Tất cả cá hồi sống ở bán cầu bắc: bất kỳ con “cá hồi” nào họ phục vụ cho bạn ở Melbourne hay Cape Town phải là cá được nhập khẩu hoặc một loài cá khác hoàn toàn. Thái Bình dương có khoảng một tá loài cá hồi, chất lượng thịt của chúng rất khác nhau. Cá hồi bạc (silver salmon ) hay soho ở miên tây Canada rất ngon. Loài cá hồi nhiều nhất ở Thái Bình Dương, được đặt tên một cách tầm thường và xấu là cá hồi chó (dog salmon), chỉ để dùng trong ngành đồ hộp.

    Chỉ một loài cá hồi dũng cảm còn lại ở Đại tây dương, Salmo Salar. Là loài cá hồi ngon nhất, chúng đã từng phân bố từ bờ biển nam Bồ Đào Nha lên tận phía bắc đến Na-uy, qua Greenland và phía nam đến sông Hudson. Nó là loài cá chính của những người trung niên Âu Châu, nướng và hầm, kho rim, làm patê và ướp bỏ hũ, ướp muối và xông khói.

    Những người Mỹ bản địa sống gần bờ biển Đại tây Dương xẻ cá và nướng trong các bữa ăn ngoài trời. Hiện nay, khó mà có con cá hồi Đại Tây Dương nào tồn tại. Số lượng của chúng giảm tới 80% kể từ đầu những năm 1980, chúng bị tàn phá nặng nề so với trước đó. Hiện nay, cá này nằm trong sách đỏ của tổ chức Greenpeace là loài cực kỳ nguy cấp.

    Nhưng tất nhiên lúc nào chúng ta cũng ăn chúng. Người Anh chén một bữa cá hồi mỗi ngày. Trên toàn cầu, ngành công nghiệp nuôi cá hồi đạt trị giá 11 tỷ đô la vào năm 2007, gấp 10 lần so với năm 1982. Hai mươi lăm năm trước, ngành nuôi cá hồi chỉ đạt sản lượng quá nửa số lượng cá hồi Đại Tây Dương sản xuất trên toàn thế giới. Hiện nay, cá hồi nuôi chiếm 99,8% thị trường. Cá hồi là loại thực phẩm xuất khẩu lớn nhất của Scotland, và từ khi Trung hoa xung đột với Na-uy vào năm ngoái, người Scots đã tìm ra một thị trường có lợi nhuận tiềm năng khổng lồ.

    Cá hồi nuôi cũng có tiếng xấu như nuôi gà bằng năng lượng và nuôi heo trong thùng gỗ. Một nghiên cứu khoa học vào năm 2004 phát hiện cá hồi nuôi (đặc biệt là ở Scotland) có chứa hàm lượng chlorine cao, và nghiên cứu tiếp theo vào năm sau tiết lộ cá từ trại nuôi cá hồi có chứa gấp 10 lần mức thuốc trừ sâu, dioxin, và PCB. Nghiên cứu này kết luận rằng “ người tiêu dùng không nên ăn cá hồi nuôi từ Scotland, Na-uy và đông Canada nhiều hơn 3 lần một năm”.

    Các trại nuôi cá hồi làm tăng phát tán động vật ký sinh và bệnh dịch như rận biển (sea lice) và bệnh thiếu máu do cá hồi nhiễm bệnh, điều này có thể gây hủy hoại toàn bộ sản lượng chỉ trong vòng vài ngày. Các kim loại nặng như đồng và kẽm tích tụ bên dưới trại nuôi cá hồi trong điều kiện không có dòng nước mạnh để cuốn chúng đi. Những con cá hồi sổ lồng (600 ngàn lồng chỉ tính ở Scotland vào năm 2004) có thể phối giống với cá tự nhiên làm hủy hoại nguồn gene và lây thêm bệnh. Để nuôi cá hồi, người ta dùng một số lượng bột cá khổng lồ, việc này góp phần tàn phá trữ lượng các loài cá tự nhiên. Những gì tạo áp lực cho những người thích cá hồi như chúng ta, là giá cá hồi thu hoạch tự nhiên. Chi phí môi trường của thực phẩm không nên bỏ qua, nhưng người ta cũng không nên từ bỏ một trong những loại thực phẩm ngon nhất của tự nhiên. Thật đáng buồn, câu chuyện khó sửa chữa này lập lại quá thường xuyên trong thực phẩm và nông nghiệp, chưa có giải pháp rõ ràng và tương lai sáng sủa. Ngay cả loại cá hồi nuôi màu vàng cam đậm nhất, nhiều mỡ nhất và rẻ nhất có thể cũng rất ngon nếu được chế biến đúng cách. Tôi thừa nhận tôi miễn cưỡng từ chối ăn cá hồi nuôi một vài lần, vì tôi nghi ngờ đa số những người thích ăn cá thỉnh thoảng sẵn sàng hy sinh đạo đức vì vòm miệng.

    Dĩ nhiên cá hồi có thể được nấu thành quá nhiều món, không những là món cá xông khói ngon nhất (loại ngon nhất tôi từng ăn do hãng Jon Ross sản xuất) mà còn kết hợp tốt với hầu hết những thực phẩm khác và đa số những gia vị tuyệt vời. Thịt nhiều mỡ của cá rất thích hợp với chanh và giấm cũng như dưa leo Anh, và hợp màu sắc với loại trái cây nhiều dầu nhất, lê tàu. Có lẽ tôi thích nhất là ăn cá hồi với củ cải đường, vị ngọt lạ của nó phù hợp cực kỳ với loại protein cá hồng hồng.

    Nguồn: Bản tiếng Việt từ Blog Biển và Người.
    • By Trieu Phu
    • 2 comments
    • 3 likes
    • 13 hours ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Admin and
    • Ba Tôm
    • liemtran308 Cá Hồi(Salmon) có 2 loại:

      - Cá hồi Thái Bình Dương gồm có Nga, Mỹ(Alaska, Washington và Oregon) và Canada, sau 4 năm rong chơi ngoài biển, chúng trở về nguồn theo dòng sông lên SUỐI NGUỒN đẻ xong rồi chết, thân xác rả ra biến thành rong rêu là thức ăn sau này cho cá hồi con, đặc tính của cá hồi là sanh ra từ dòng sông nào thì chúng trở về dòng sông đó.

      Ở bang Washington, trường Đại Học Seattle (cách nhà Tám Lúa 18km)là trung tâm nghiên cứu về cá hồi mà ông Vũ Thế Trụ đang làm việc ở đó, Ts Trụ đã vang bóng một thời viết sách CÙI BẮP về Kỹ Thuật nuôi tôm đã tái xuất bản ở VN năm 90 của thế kỷ trước.

      Cái link nghiên cứu cá hồi ở đại Seattle:

      http://www.vietlinh.com.vn/vietlinh/2012_UW_hatchery_vi.asp

      Cá hồi Đại Tây Dương(Âu Châu), cũng 4 năm trở về nguồn đẻ, cá bố mẹ không chết vẫn sống nhăn răng và trở ra biển.
      • 1 like
      • Like
      • Reply
      • 9 hours ago
  • Nghiên cứu bảo quản tinh trùng tôm sú (Penaeus monodon Fabricius, 1798) trong ni...
    Nghiên cứu này nhằm xác định một số đặc điểm sinh học của tinh trùng tôm sú và đánh giá khả năng sử dụng các chất chông đông: DMSO (dimethyl sulfoxide), methanol và glycerol để bảo quản tinh trùng tôm sú trong nitơ lỏng.

    Kết quả quan sát cho thấy tinh trùng của tôm sú gồm hai phần: phần đầu hình oval có đường kính theo trục dọc là 4,57- 5,00 μm, đường kính theo trục ngang là 4,35-4,85 μm; phần gai nhọn (spkike) có chiều dài 4,10- 4,75 μm. Trong 3 loại chất chống đông trên thì DMSO cho kết quả tỷ lệ sống của tinh trùng đạt 76,4±2,2%, cao hơn so với 2 chất còn lại; tỷ lệ dị hình của tinh trùng sau bảo quản là thấp nhất: 17,8±7,1%. Sử dụng DMSO với nồng độ 5% sẽ cho kết quả tỷ lệ thụ tinh (67,3±10,4) và tỷ lệ nở (56,7±9.9) cao hơn so với DMSO 10%.

    Nguồn: Nguyễn Văn Minh, Ngô Đăng Nghĩa, Đặng Thúy Bình. 2010. Nghiên cứu bảo quản tinh trùng tôm sú (Penaeus monodon Fabricius, 1798) trong nitơ lỏng. Hội nghị CNSH Thủy sản Toàn quốc, TP. HCM, năm 2010.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 3 likes
    • 15 hours ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Admin and
    • Ba Tôm
  • Phòng bệnh đốm trắng (WSSV) trên tôm sú bằng phương pháp cho ăn vacxin
    Hội chứng virus đốm trắng xảy ra khắp nơi trên thế giới, là nguyên nhân gây tỉ lệ tôm chết cao và ảnh hưởng nghiêm trọng đến ngành nuôi tôm công nghiệp. Hiện tại, chưa có phương pháp nào chống lại virus này được phổ biến.

    Thông thường, động vật không xương sống như tôm không có hệ thống đáp ứng miễn dịch như ở những loài động vật có xương sống. Tuy nhiên, thí nghiệm đã chỉ ra rằng những tôm sống sót sau khi bị nhiễm WSSV sẽ có tỉ lệ sống cao hơn khi tái cảm nhiễm. Chúng tôi nghiên cứu khả năng của vacxin cho tôm thông phương pháp cho ăn, vacxin này chứa protein vỏ của WSSV. Tôm sú (Penaeus monodon) được cho ăn thức ăn viên áo bên ngòai 1 lớp vi khuẩn không họat động biểu hiện 2 lọai protein vỏ của WSSV là VP19 và VP28. Vacxin chứa VP28 cho thấy tỉ lệ chết của tôm thấp hơn có ý nghĩa khi so sánh với lô đối chứng (vi khuẩn chỉ chứa vector rổng) thông qua phương pháp ngâm (tỉ lệ sống 61%), trong khi đó vacxin chứa VP19 không thể hiện sự bảo vệ nào. Để xác định sự tấn công và thời gian bảo vệ của vacxin, thí nghiệm cảm nhiễm được thực hiện sau khi sử dụng vacxin 3, 7 và 21 ngày.

    Tỉ lệ sống cao hơn có ý nghĩa được quan sát sau khi tôm sử dụng vacxin 3, 7 ngày (64% và 77%), nhưng sự bảo vệ đã giảm sau 21 ngày (tỉ lệ sống 29%). Trái với những hiểu biết hiện tại, động vật không xương sống không có hệ thống đáp ứng miễn dịch nhưng kết quả này cho thấy đáp ứng miễn dịch đặc hiệu và khả năng bảo vệ có thể tạo ra ở P. monodon. Các thí nghiệm trên mở ra con đường mới phòng WSSV mang lợi ích cho công nghiệp nuôi tôm.

    Người dịch: Ths. Bùi Thị Bích Hằng (btbhang@ctu.edu.vn), BM Sinh học và Bệnh thủy sản, Khoa Thủysản, Đại học Cần Thơ.
    Nguồn tin: Jeroen Witteveldt, Carolina C. Cifuentes, Just M. Vlak, and Marie¨lle C. W. van Hulten. Protection of Penaeus monodon against White Spot Syndrome Virus by Oral Vaccination. JOURNAL OF VIROLOGY, Feb. 2004, p. 2057–2061 Vol. 78, No. 4
    • By Admin
    • 0 comments
    • 2 likes
    • 15 hours ago
    • Trieu Thanh Tuan and
    • Ba Tôm
  • Sự kháng thuốc trong nuôi thuỷ sản
    Với nổ lực tăng nhanh sản lượng thuỷ sản và kim ngạch xuất khẩu, các nước đang phát triển rất chú trọng tới nuôi trồng thuỷ sản. Ðể đạt được sản lượng và lợi nhuận cao nhất, nhiều ngư dân hiện đang áp dụng các phương thức nuôi thâm canh. Nhưng các vật nuôi lại bị ảnh hưởng nhiều hơn bởi những áp lực và bệnh tật dẫn đến những vụ dịch bệnh gây chết hàng loạt. Ở đây tác giả sẽ trình bày về cơ chế kháng thuốc kháng sinh hình thành trong vi sinh vật và một số quan điểm về phương pháp kiểm soát nhằm giảm thiểu mối nguy này.

    Trong số các bệnh của thuỷ sản thì nguyên nhân chủ yếu là do vi khuẩn gây ra với những vụ dịch bệnh có qui mô lớn. Thông thường, người ta sử dụng thuốc kháng sinh để kiểm soát các vi khuẩn gây bệnh. Do việc sử dụng không đúng cách và quá nhiều các loại thuốc kháng sinh nên đã gây ra hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc (antibiotic resistence) và tích tụ dư lượng thuốc kháng sinh trong thịt thuỷ sản. Một nguyên nhân khác gây ra hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc là việc sử dụng các loại kháng sinh với hàm lượng nhỏ trong thức ăn của thuỷ sản như một chất kích thích sinh trưởng.

    Mặc dù thuốc kháng sinh đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc chống lại nhiều bệnh tật cho con người và các loài động vật thuỷ sinh, nhưng việc sử dụng bừa bãi trong nuôi trồng thuỷ sản có thể gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng như gây độc, biến đổi hệ vi khuẩn của người tiêu dùng hoặc làm cho người tiêu dùng cũng bị kháng thuốc.

    Hiện tượng kháng thuốc kháng sinh là khả năng mà một sinh vật có thể chịu được tác động của các loại kháng sinh. Các gen kháng thuốc thường có sẵn trong các loài vi sinh vật tạo ra kháng sinh (antibiotic - producing -bacteria) nhằm bảo vệ chúng khỏi tác động của thuốc kháng sinh này. Những gen này có thể được hình thành trong các loài vi khuẩn khác thông qua sự trao đổi gen với một vi khuẩn tạo ra kháng sinh, do vậy chúng có khả năng tạo ra cơ chế làm trung hoà hoặc phá huỷ các loại thuốc kháng sinh.

    Các loại thuốc kháng sinh sử dụng trong nuôi trồng thuỷ sản

    Các loại kháng sinh được sử dụng thông dụng nhất trong nuôi trồng thuỷ sản là:

    - Nhóm Sulfonamid: bao gồm các tác nhân kháng khuẩn có tác dụng kìm hãm hoạt động của axit folic và có thể hình thành tác dụng hiệp đồng (synergism). Các kháng sinh nhóm sulfonamid kết hợp trimethoprim được sử dụng rộng rãi trong nuôi trồng thuỷ sản.

    - Nhóm Tetracycline : là một nhóm gồm nhiều kháng sinh chủ yếu có tác dụng kìm hãm vi khuẩn có trong tự nhiên. Chúng làm ảnh hưởng đến quá trình tổng hợp protein trong cả các vi khuẩn Gram âm (-) và vi khuẩn Gram dương (+). Những kháng sinh này được sử dụng rộng rãi trong nuôi trồng thuỷ sản.

    - Nhóm Quinolone : Chúng có tác dụng mạnh đối với các vi khuẩn Gram (+) và được sử dụng nhiều tại Nhật Bản. Tác dụng kháng khuẩn bao gồm cả tác dụng kìm hãm và tiêu diệt vi khuẩn do chúng có thể gây ảnh hưởng đến cấu trúc xoắn của ADN trong vi khuẩn.

    - Erythromycin : được sử dụng rộng rãi trong nuôi cá hồi, nó là loại thuốc rất hiệu quả để chữa những bệnh do vi khuẩn gây ra.

    - Chloramphenicol : được sử dụng rộng rãi tại Hoa Kỳ và Pháp. Việc sử dụng chúng trong nuôi trồng thuỷ sản là rất hạn chế tại nhiều nước bởi vì nó là một loại thuốc dùng để chữa bệnh cho người.

    Rất khó có thể có được những số liệu đáng tin cậy về tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong nuôi trồng thuỷ sản. ở Nauy, trong năm 1990, có khoảng 50 loại kháng sinh được sử dụng trong nuôi trồng thuỷ sản và gần gấp đôi số lượng thuốc được sử dụng cho con người trong năm đó. Tình hình cũng diễn ra tương tự đối với các nước đang phát triển.

    Cơ chế của sự kháng thuốc

    - Một số loài vi sinh vật có sẵn khả năng chịu được một số loại kháng sinh nhất định. Sự kháng thuốc kháng sinh có thể coi như là đặc tính vốn có hoặc có thể được hình thành của các vi sinh vật này. Có nhiều cách khác nhau gây ra sự kháng thuốc của vi sinh vật.

    + Một số loại kháng sinh nhất định, chẳng hạn như penicillin chỉ tác dụng lên lớp vỏ tế bào nên có thể không có hiệu quả đối với những vi sinh vật không có vỏ tế bào (ví dụ như Mycoplasm không có một lớp vỏ tế bào đặc trưng).
    + Những sinh vật không cho phép một số loại kháng sinh nhất định ngấm vào bên trong, do vậy làm mất tác dụng của kháng sinh đó (ví dụ như một số vi khuẩn Gram âm không cho phép penicillin ngấm vào nên chúng có khả năng kháng penicillin).
    + Một số vi sinh vật có khả năng làm biến đổi thuốc kháng sinh làm cho nó mất hoạt tính (Ví dụ : vi khuẩn Staphylococcus sinh b -lactum làm gãy vòng b -lactum của hầu hết các penicillin và làm chúng mất hoạt tính).
    + Các vi sinh vật có thể thay đổi cách thức trao đổi chất bị một loại kháng sinh kiềm chế, do vậy chúng có thể kháng lại loại kháng sinh đó.
    + Các vi sinh vật cũng có thể đào thải một loại kháng sinh ra khỏi tế bào, do vậy nó trở nên có khả năng kháng loại kháng sinh đó.

    - Sự kháng thuốc kháng sinh gián tiếp trong vi sinh vật có thể hình thành thông qua các gen nhiễm sắc thể hoặc thông qua các plasmit (cấu trúc tự sao chép mang gen trong tế bào chất).

    Sự kháng thuốc hình thành gián tiếp thông qua các gen nhiễm sắc thể (Chromosomal genes).

    Có thể dễ dàng phân lập trong phòng thí nghiệm các vi khuẩn kháng thuốc trong môi trường mẫn cảm kháng sinh. Thông thường, hình thức kháng thuốc là do sự đột biến trong các gen nhiễm sắc thể. Tần số xuất hiện của loại đột biến này là rất thấp (từ 10-5 đến 10-7) và thường xuất hiện khi vi khuẩn chịu một hàm lượng kháng sinh nhỏ hơn mức có thể tiêu diệt được chúng. Hình thức kháng thuốc tương tự có thể xẩy ra trong môi trường thuỷ sinh khi vi khuẩn chịu một lượng kháng sinh nhỏ hơn mức có thể tiêu diệt chúng do việc sử dụng kháng sinh không đúng cách và những kháng sinh bị tan ra từ những thức ăn có trộn thuốc. Dưới những điều kiện trên, sự kháng thuốc được hình thành là do sự thay đổi hoạt tính ban đầu của thuốc hoặc làm giảm sự hình thành các enzyme chủ chốt, do vậy làm giảm tác dụng của thuốc. Sự kháng thuốc kháng sinh được hình thành gián tiếp qua các gen nhiễm sắc thể của vi sinh vật không dễ dàng được di truyền lại.

    Sự kháng thuốc hình thành gián tiếp thông qua thể R-plasmit (R-plasmid-mediated-resistance)

    Plasmit là các vòng ADN ngoài nhiễm sắc thể của vi khuẩn. Các R.plasmit có các gen được mã hoá theo các enzym mới làm mất hoạt tính của thuốc. Các R-Plasmit có thể làm trung gian cho sự kháng một hay nhiều loại thuốc kháng sinh thông qua các gen mã hoá theo cơ chế bất hoạt hoá một hay nhiều loại kháng sinh. Hình thức kháng thuốc gián tiếp thông qua R-plasmit có khả năng di truyền.

    Kiểm soát sự kháng thuốc

    Vi sinh vật có thể hình thành khả năng kháng đối với bất cứ loại thuốc kháng sinh nào nếu có những điều kiện thích hợp như hàm lượng thuốc, thời gian tiếp xúc với thuốc .v.v... Biện pháp kiểm soát vấn đề này có thể theo 2 cách:

    - Tìm ra những loại thuốc mới

    Có hai xu hướng nghiên cứu các loại thuốc kháng khuẩn mới. Thứ nhất là tạo ra loại tương tự với những thuốc kháng khuẩn hiện có nhưng dễ làm hơn và hiệu quả hơn. Lý do là những hợp chất mới được làm nhại lại theo những hợp chất cũ và có thể đoán trước được tác dụng của nó. Trong nhiều trường hợp những thông số như tính tan và ái lực có thể được thay đổi bằng cách biến đổi cấu trúc hoá học của nó mà không làm thay đổi vị trí kháng thuốc. Những hợp chất mới có thể có tác dụng mạnh hơn những hợp chất ban đầu.

    Xu hướng thứ hai là hình thành các loại thuốc kháng khuẩn mới. Rất khó đồng nhất hoá được do chúng ta phải phân lập chúng từ các nguồn trong tự nhiên hoặc là phải tự tổng hợp được với số lượng lớn. Những thuốc mới được sản xuất như vậy phải có tác dụng với những cấu trúc vi khuẩn cụ thể và đối với những vi sinh vật cụ thể, phải ít độc với những sinh vật cao cấp hơn, đồng thời về mặt cấu trúc không được giống với những hợp chất hiện tại. Bằng cách này có thể loại trừ được hiện tượng kháng thuốc hiện tại.

    - Biện pháp quản lý

    Ðây là cách tiếp cận mang tính quản lý nhằm giúp tránh sự hình thành khả năng kháng đối với các loại kháng sinh hiện đang sử dụng. Việc sử dụng cẩn trọng và có hệ thống các loại kháng sinh sẽ giải quyết được một nửa các vấn đề gây ra hiện tượng kháng thuốc kháng sinh. Nên sử dụng các kháng sinh với liều lượng cao hơn một chút để cho toàn bộ hệ vi sinh vật bị giảm xuống trước khi những đột biến có cơ hội xảy ra. Ðiều này rất khó thực hiện trong các hình thức nuôi thuỷ sản thâm canh, bởi vì việc thay đổi nước sẽ diễn ra thường xuyên làm loãng nồng độ thuốc kháng sinh. Vấn đề cũng có thể được giải quyết bằng cách kết hợp hai loại kháng sinh khác nhau có hình thức tác dụng khác nhau lên vi sinh vật. Lý do là các vi sinh vật rất ít có khả năng kháng được cả hai loại kháng sinh khác nhau.

    Kết luận

    Khi kiểm soát việc lây nhiễm khuẩn thì cần phải duy trì được những điều kiện sống thích hợp trong các đầm nuôi tôm và cá, đồng thời cũng phải áp dụng những biện pháp phòng bệnh như sử dụng vắc xin và các chất kích thích miễn dịch. Khi tiến hành nuôi trồng thuỷ sản, chỉ nên sử dụng các loại kháng sinh khi không còn phương cách nào khác để kiểm soát những vụ dịch bệnh, bởi vì việc sử dụng bừa bãi các kháng sinh sẽ dẫn đến việc hình thành hệ vi sinh vật kháng thuốc kháng sinh, đồng thời làm huỷ diệt hệ vi sinh vật tự nhiên vốn là nguồn gốc ban đầu của chu trình dinh dưỡng và sự khoáng hoá của vật chất hữu cơ. Việc sử dụng kháng sinh sẽ làm xáo trộn sự cân bằng vốn rất mong manh của môi trường thuỷ sinh, làm cho các sinh vật nuôi phải chịu nhiều điều kiện khắc nghiệt hơn.

    Nếu buộc phải dùng kháng sinh thì chúng phải có nồng độ cao hơn một chút và trong một thời gian đủ dài. Nếu có thể, nên kết hợp các loại kháng sinh khác nhau. Thức ăn có trộn kháng sinh cần phải được làm thành dạng viên. Những biện pháp trên không chỉ giúp cho việc loại trừ các vi sinh vật gây bệnh mà còn giảm nguy cơ hình thành các vi sinh vật kháng thuốc trong các hệ thống nuôi trồng thuỷ sản.

    Nguồn: Trần Ðăng Ninh (dịch), International Infofish.
    • By Admin
    • 0 comments
    • 2 likes
    • 15 hours ago
    • Trieu Thanh Tuan and
    • Ba Tôm
  • Khảo sát hoạt tính enzyme amilase và khả năng tiêu hóa in vitro tinh bột của cá ...
    Kết quả nghiên cứu về đặc điểm enzyme tiêu hóa tinh bột của các cơ quan tiêu hóa cá tra ở 3 kích cỡ 50g, 300g và 600g/con. Bằng phương pháp phân tích sinh hóa và điện di PAGE đã xác định alpha amilase được tìm thấy ở cả bốn cơ quan (gan, tụy, ruột, dạ dày), trong đó hoạt độ alpha amylase tại dạ dày < ruột < tụy < gan và có hoạt độ cao nhất tại gan ở giai đoạn 600g (37,77 U/mg protein). Ngoài ra, hoạt độ amylase tối ưu được xác định tại vùng có pH trung tính.

    Nghiên cứu tiêu hóa in vitro tinh bột đối với bột khoai mì, cám gạo và một số loại thức ăn thương mại cho thấy mức độ thủy phân tinh bột tăng dần theo trọng lượng cá và đạt giá trị cao nhất sau 6 giờ thủy phân. Mức tiêu hóa in vitro tinh bột của cá ở các giai đoạn phát triển đối với nguyên liệu dao động từ 0,92 – 1,02 cm và các loại thức ăn từ 0,87 – 0,94 cm.

    Nguồn: Nguyễn Văn Nguyện, Nguyễn Văn Hảo, Phạm Duy Hải. 2010. Khảo sát hoạt tính enzyme amilase và khả năng tiêu hóa in vitro tinh bột của cá tra (Pangasianodon hyphothamus) đối với một số nguyên liệu và thức ăn. Hội nghị CNSH Thủy sản Toàn quốc, TP. HCM, năm 2010.

    Chú thích: in vitro là các nghiên cứu được thực hiện trong ống nghiệm; ngược lại, in vivo là các nghiên cứu được thực hiện ngay trên cơ thể sinh vật sống. In vitro và in vivo là tiếng Latin.
    • By Admin
    • 0 comments
    • 2 likes
    • 15 hours ago
    • Trieu Thanh Tuan and
    • Ba Tôm
  • Nghiên cứu tác động của tinh chất nghệ chiết xuất bằng ethanol lên hoạt động khá...
    Kháng sinh đang mang lại nguy cơ lớn về an toàn sinh học và an toàn thực phẩm vì vậy mà càng ngày các loại kháng sinh càng bị hạn chế nồng độ và cấm sử dụng. Vì vậy mà thảo dược tự nhiên là câu trả lời đáng tin cậy và dài hạn cho việc ức chế vi sinh vật có hại và nâng cao đề kháng. Giống nghệ Turmeric (Curcuma longa Linn thuộc họ Zingiberaceae) được trồng chủ yếu ở Thái Lan từ lâu đã được dùng như một loại thảo dược quí trị được nhiều bệnh. Đã có rất nhiều nghiên cứu về tác dụng dược liệu của củ nghệ như: hoạt tính chống oxi hóa , ức chế ký sinh trùng , ức chế vi sinh vật , chống nhiễm độc , chống ức chế HIV , ngăn ngừa khối u , chống viêm , … và rất nhiều những khám phá mới về tính chất dược lý của nghệ và vẫn chưa có nghiên cứu nào liên quan đến tác động xấu từ việc sử nghệ như một chất phụ gia thực phẩm. Mục đích của nghiên cứu này là điều tra tác động của bột nghệ chiết xuất bằng cồn ethanol lên hoạt động của vi khuẩn Vibrio spp. Và tác động lên sự tăng trưởng, kích thích miễn dịch lên tôm thẻ chân trắng.

    Kết quả nghiên cứu

    1. Tác động và nồng độ ức chế tối thiểu của bột nghệ

    Trong thí nghiệm này bột nghệ đã cho thấy hiệu quả kháng khuẩn Vibrio Harvey, V. Cholera, V. parahymolyticus V. alginolytisus, V. vulnificus và V. fluialis. Khả năng ức chế vi khuẩn gây hại của bột nghệ cũng đã được nghiên cứu trước đây trên một số loài vi khuẩn như Bacillus cereus, B. coagulans, B. subtilis, Staphylococus aureus, Echerichia Coli and Pseudomonax aeruginosa . Kết quả này cũng tương tự như báo cáo của Supamattaya và cộng sự năm 2005 về tác dụng ức chế Vibrio spp. của bột nghệ chiết bằng ethanol.

    Nồng độ ức chế tối thiểu hoạt động của bột nghệ lên Vibrio Harvey, V. Cholera, V. parahymolyticus V. alginolytisus, V. vulnificus và V. fluialis lần lượt là 0.47 g/đĩa, 0.47 g/đĩa, 0.94 g/đĩa, 0.47 g/đĩa, 3.75 g/đĩa và 0.47 g/đĩa. Kết quả này đã bổ sung thông tin về hiệu quả ức chế nhiều loại vi sinh vật của bột nghệ.

    2. Hiệu xuất tăng trưởng của tôm sau khi sử dụng bột nghệ

    Bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ 4 khẩu phần thí nghiệm: 0, 3.5, 7.5, 15 g/kg thức ăn.

    • Hiệu suất tăng trưởng giữa các nhóm cho ăn có bột nghệ không có khác biệt đáng kể (p>0.05)
    • Nhưng có một sự khác biệt rõ rệt giữa nhóm sử dụng 15g/kg bột nghệ (74±4) so với nhóm đối chứ (48±6)

    Kết quả thử nghiệm đã cho thấy rằng bột nghệ trong chế độ ăn không làm tăng tỉ lệ chuyển đổi thức ăn nhưng đạt được trong trọng lượng cơ thể với liều lương 15g/kg thức ăn. Kết quả này cũng tương đồng với nghiên cứu thực hiện trên tôm càng xanh của Wanprapa năm 2004.

    Quản lý nước là yếu tố cơ bản quyết định thành sức khỏe tôm, vì vậy mà môi trường nước luôn được giữ ổn định trong suốt quá trình thử nghiệm. Với thông số kỹ thuật cụ thể như sau: nhiệt độ 26.93±0.27ºC; độ mặn: 10.68±0.33 ppt; pH: 7.07±0.07; DO: 7.03±0.05 ppm NH3: 0.18±0.07 ppm; NO2: 0.05±0.02 ppm. Chất lượng nước được giữ ổn định trong suốt quá trình nuôi.

    3. Ảnh hưởng của bột nghệ như một phân tử cảm ứng miễn dịch

    Sau 9 tuần, các nhóm tôm thử nghiệm được đo các chỉ tiêu về huyết tương tổng số, hoạt động của enzyme phenoloxidase và khả năng kháng khuẩn. Ghi nhận tỉ lệ sống của tôm sau 9 tuần ăn với bột nghệ nồng độ 15g/kg thức ăn bằng cách ngâm trong 1 giờ với Vibrio harveyi nồng độ 106cfu/ml. Kết quả cho thấy rằng:

    • Không có khác biệt đáng kể về nồng độ hemocyte giũa nhóm cho ăn với nghệ và nhóm đối chứng
    • Tuy nhiên có sự khác biệt rõ rệt (p<0.05) về hoạt động của enzyme phenoloxidase đối với nhóm cho ăn 15 g/kg so với 7.5g/kg và đối chứng. Hoạt động của enzyme phonoloxidase vô cùng quan trọng đối với khả năng miễn dịch của giáp xác , Vì vậy mà nhóm có hoạt động enzyme phenoloxidase cao nhất là nhóm có chế độ ăn 15g bột nghệ/kg thức ăn sẽ có hệ miễn dịch tốt nhất.
    • Huyết tương của tôm được điều trị có khả năng ức chế Vibrio Harvey, V. Cholera, V. parahymolyticus V. alginolytisus, V. vulnificus và V. fluialis. Kết quả cho thấy rằng nhóm cho ăn với chế độ 15g/kg có hoạt tính kháng khuẩn cao nhất.
    • Tỉ lệ sống của nhóm có chế độ ăn 15g/kg khi ngâm trong môi trường với Vibrio harveyi nồng độ 106cfu/ml cũng khác biệt đáng kể.

    Điều đó có nghĩa rằng, bột nghệ đóng một vai trò quan trọng với khả năng miễn dịch của tôm thẻ chân trắng và cũng có tác dụng tương tự trên tôm sú.

    Tinh chất nghệ có thể ức chế được hoạt động của vi khuẩn Vibrio Harvey, V. Cholera, V. parahymolyticus V. alginolytisus, V. vulnificus và V. fluialis với nồng độ ức chế tối thiểu là 0.47, 0.47, 0.94, 0.47, 3.75, 0.47g/ đĩa. Tỉ lệ tăng trưởng trung bình và trọng lượng tôm cũng tăng khi tôm thẻ được cho ăn với tỉ lệ 7g/kg và 15g/kg thức ăn. Ngoài ra, bột nghệ còn có tác tác dụng ức chế hoạt động của các dòng ki khuẩn Vibrio spp. và tăng cường hoạt động miễn dịch cho tôm.

    Thuy Loan Tran (Công ty Sitto Việt Nam).
    Nguồn: Ong-ard Lawhavinit, Pronchai Sincharoenpokai và Patcharee Sunthornandh. Phòng Vi sinh và Miễn dịch, khoa Dược phẩm Thú y, trường Đại học Kasetsart.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 1 comment
    • 6 likes
    • 1 day ago
    • Truong Huynh Nhu
    • Admin
    • Ba Tôm and
    • 3 others
    • Ba Tôm Thanks L. Hi vọng Loan sẽ đóng góp thêm nhiều bài viết hay!
      • 1 like
      • Like
      • Reply
      • 1 day ago
  • Cách chọn tôm bố mẹ
    Trong quy trình nuôi tôm, tôm bố mẹ quyết định đến chất lượng tôm giống. Vì vậy, việc chọn lựa tôm bố mẹ có ảnh hưởng lớn đến năng suất, hiệu quả.

    1. Tuyển chọn tôm bố mẹ

    Đối với tôm bố mẹ đánh bắt từ tự nhiên (tôm sú), việc chọn lựa được những cặp tôm bố mẹ hậu bị cho sinh sản sẽ quyết định đến sự thành công của trại giống cũng như chất lượng tôm giống. Bởi nguồn tôm bố mẹ khai thác ngoài tự nhiên rất khó kiểm soát mầm bệnh cũng như chất lượng và sự thành thục, thậm chí sức khỏe tôm vì trong quá trình đánh bắt khai thác, tôm bố mẹ bị ảnh hưởng rất lớn. Một số tiêu chuẩn để chọn lựa tôm bố mẹ cơ bản như sau: Trọng lượng: Chọn tôm cái >= 100 gr, với tôm đực >= 60 gr, màu sắc tươi sáng, bóng mượt, hình dáng ngoài không bị tổn thương, bộ phận sinh dục ngoài hoàn chỉnh.

    2. Chăm sóc

    a) Điều kiện môi trường nuôi tôm bố mẹ

    - Độ mặn : 28 - 34‰
    - Nhiệt độ : 28 – 30oC
    - Ôxy hòa tan 4 - 7mg/lít
    - pH : 7,6 - 8,2; giữ môi trường ổn định
    - Mật độ và tỷ lệ đực/cái: Bố trí mật độ hợp lý để tránh ô nhiễm, bệnh tật cũng như tiết kiệm được chi phí chăm sóc và tỷ lệ giao vỹ đạt cao. Bể nuôi vỗ bố trí mật độ 3 - 5 con cái/m2. Bể giao vỹ 2 - 4 con/m2 (tỷ lệ đực/cái là 1/1). Thường xuyên kiểm tra chọn những cá thể cái đang ở giai đoạn tiền lột xác chuyển sang bể giao vỹ.

    b) Thức ăn và chế độ cho ăn

    - Phối hợp nhiều loại thức ăn trong khẩu phần để đảm bảo dinh dưỡng cũng như phù hợp tập tính ăn của từng cá thể.
    - Loại thức ăn: Thức ăn tổng hợp, mực ống, hàu, nghêu, trai, giun biển, ốc càng và thịt bò.
    - Ngày cho ăn 3 lần: 8 giờ sáng, 17 giờ chiều và 23 giờ đêm.
    - Lượng cho ăn hàng ngày bằng 10 - 15% tổng trọng lượng cơ thể đàn tôm mẹ trong thời kỳ phát dục. Bằng 3 - 5% tổng trọng lượng cơ thể tôm mẹ trong giai đoạn lột xác.
    - Thay nước: Hàng ngày thay nước 2 lần, mỗi lần 100%, bảo đảm giữ nguồn nước nuôi sạch. Cân bằng độ mặn và nhiệt độ giữa nước cấp và nước trong bể nuôi.

    Nguồn: Lâm Du, thuysanvietnam.com.vn
    • By Trieu Phu
    • 0 comments
    • 4 likes
    • 1 day ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Truong Huynh Nhu
    • Ba Tôm and
    • 1 other
  • Hạn chế rủi ro trong nuôi tôm nước lợ
    Để hạn chế hiện tượng tôm chết mà một trong những nguyên nhân chủ yếu là do nắng nóng kéo dài, chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm cao, mực nước kém…, người nuôi tôm cần phải chú ý thực hiện tốt một số biện pháp kỹ thuật.

    Chuẩn bị ao

    Trước hết, bà con nuôi tôm phải có ao lắng chiếm 15-20% diện tích trại nuôi để xử lý nước cấp và diệt tạp trước khi đưa vào hồ nuôi, đồng thời đây cũng là nguồn nước dự trữ để bù đắp vào ao tôm khi mực nước trong ao bị cạn do nước bị bốc hơi khi nắng nóng. Kinh nghiệm cho thấy, một số bà con không sử dụng hóa chất để xử lý nước mà thả nuôi cá rô phi trong ao lắng ít nhất 15-20 ngày trước khi bơm nước vào ao nuôi.

    Trong khâu cải tạo ao nuôi, bờ ao cần phải được dầm nén kỹ hoặc lót bạt để chống xói lở và hạn chế rò rỉ nước. Bà con cũng cần chú ý chuẩn bị sẵn máy bơm nước để sử dụng khi cần thiết. Trang bị đầy đủ dụng cụ đo môi trường: pH, ôxy, NH3, NO3, độ mặn…

    Khi cấp nước từ ao lắng qua ao nuôi tôm thâm canh, bán thâm canh cũng cần phải cho qua nhiều lớp túi lọc bằng vải dày đến khi mực nước đạt từ 1,3-1,5m; mực nước trong ao tôm quảng canh cải tiến cần đạt ít nhất 0,6m - 0,8m.

    Trong quá trình nuôi luôn giữ mực nước trên ao nuôi tôm quảng canh từ 0,6m trở lên; trong ao tôm thâm canh và bán thâm canh từ 1m trở lên để môi trường ao tôm ít biến động theo sự thay đổi của thời tiết, nhằm tránh trường hợp tôm bị sốc, giảm rủi ro dịch bệnh.

    Vào những ngày nắng nóng cần chú ý tăng cường thời gian chạy quạt hoặc bố trí thêm hệ thống quạt cho ao nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh. Khi nhiệt độ nước ao tôm tăng lên trên 340C cần giảm thức ăn, bổ sung Vitamin C vào thức ăn, tăng thời gian chạy quạt nước hay sục khí.

    Quản lý ao nuôi

    Khi bước vào mùa nắng, các yếu tố môi trường nước ao tôm thường biến động nên bà con nuôi tôm cần thường xuyên kiểm tra các thông số môi trường ao tôm và theo dõi hoạt động của tôm để có biện pháp xử lý kịp thời. Bởi khi nhiệt độ nước quá cao (trên 32oC), tôm sẽ ít hoạt động, ngừng ăn, vùi mình xuống bùn, do đó tôm rất dễ bị bệnh đóng rong, đen mang.

    Trong những thời điểm nắng nóng, có sự chênh lệch rất lớn giữa nhiệt độ không khí với nhiệt độ môi trường nước nên lúc này người nuôi tôm tránh thực hiện những động tác gây sốc hoặc làm động tôm như: chài, mò bắt…, bởi khi đó tôm sẽ búng, nhảy lên mặt nước làm cong thân, gây ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của tôm.

    Cần cấp nước từ ao lắng vào ao tôm để bù vào lượng nước đã bốc hơi vào mùa nắng, bởi khi mực nước trong ao tôm thấp thì độ mặn thường tăng cao, độ trong thấp, rong tảo phát triển nhiều, pH dao động trong ngày lớn, ôxy giảm thấp vào ban đêm… dẫn đến tôm khó lột xác, chậm lớn, bị đỏ thân do thiếu ôxy…

    Khi cấp nước vào ao nuôi cần cấp từ từ, chỉ cấp thêm khoảng 10-15% lượng nước trong ao vào lúc trời mát (khoảng sau 19 giờ tối) để hạn chế sự thay đổi môi trường; nước cấp chỉ sử dụng từ nguồn ao lắng đã qua xử lý. Đồng thời, người nuôi tôm cũng nên sử dụng chế phẩm sinh học định kỳ để ổn định môi trường, hạn chế khí độc trong ao nuôi.

    Mặc dù mùa nắng nhưng đôi khi cũng xuất hiện những trận mưa trái mùa làm môi trường nước biến động mạnh. Do đó, bà con nuôi tôm cần theo dõi, quản lý ao nuôi để có những biện pháp xử lý thích hợp đề phòng tôm bị sốc, ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng và phát triển của tôm nuôi. Bà con nuôi tôm nên thả giống với mật độ vừa phải (15-30 con/m2 đối với tôm sú; 80-100 con/m2 đối với TTCT).

    Vào thời điểm trời nắng nóng kéo dài, độ mặn nước trong ao thường ở mức cao từ 35-40‰, trong khi phần lớn nước trong các bao tôm giống chỉ có độ mặn 25-28‰. Nếu thả ngay tôm giống vào ao nuôi thì tôm nuôi có thể bị sốc độ mặn dẫn đến bị hao hụt rất cao, thậm chí đến 100%. Do đó, khi thả tôm giống trong thời điểm này cần phải thuần hóa độ mặn tôm giống từ từ để tương đồng với độ mặn của ao nuôi.

    Nguồn: Kỹ sư Nguyễn Quang Trí, thuysanvietnam.com.vn
    • By Truong Huynh Nhu
    • 1 comment
    • 4 likes
    • 1 day ago
    • Truong Huynh Nhu
    • Trieu Phu
    • Ba Tôm and
    • 1 other
    • liemtran308 Viết bài chỉ rập khuôn, không có CÁ BIỆT SÁNG TẠO.


      - Nhà trường dạy bao nhiêu, thực hành bấy nhiêu
      - Người đi trước làm sao thì người đi sau làm theo như vậy (cái gì cũng hưởng ứng theo phong trào).

      Chết chổ này nè:

      Vào những ngày nắng nóng cần chú ý tăng cường thời gian chạy quạt hoặc bố trí thêm hệ thống quạt cho ao nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh. Khi nhiệt độ nước ao tôm tăng lên trên 340C cần giảm thức ăn, bổ sung Vitamin C vào thức ăn, tăng thời gian chạy quạt nước hay sục khí.


      Dùng cái đầu suy nghĩ đi....trước khi sủy nghĩ phải hít vào cho đầy buồng phổi.....đang suy nghĩ nữa chừng thiếu oxy là bị tẩu hỏa nhập ma rồi bị đột quỵ đó nghen.
      • 0 likes
      • Like
      • Reply
      • 23 hours ago
  • Mazzetta khẳng định tính an toàn của tôm nhập khẩu sau khi SSA cố nêu lên mối lo...
    Tom Mazzetta, Tổng giám đốc công ty Mazzetta, gần đây đã gửi tới Bộ Thương mại (DOC), Bộ Nông nghiệp (USDA) và Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA), Mỹ một bức thư đề cập đến nghiên cứu mới đây của Tiến sĩ Lightner về dịch bệnh EMS ở tôm nhằm phản đối cáo buộc từ Liên minh tôm miền Nam (SSA) cho rằng việc nhập khẩu tôm nuôi sẽ gây nên rủi ro lớn.

    Dưới đây là đoạn trích trong bức thư của Mazzetta:

    “An toàn thực phẩm luôn là mối quan tâm hàng đầu của công ty chúng tôi, bằng chứng là những việc chúng tôi đứng đầu ngành về kiểm soát nội bộ và có quá trình lâu dài là công ty để đảm bảo chất lượng sản phẩm. Như trong thư của mình, Tiến sĩ Lightner cũng đã khẳng định rằng tôm chín thu mua từ các khu vực bị nhiễm bệnh không tiềm ẩn bất kỳ mối đe dọa nào đến sức khỏe con người.

    Thứ hai, chúng tôi cũng phải đặt dấu hỏi về động cơ cùa lá thư SSA đưa ra ngày 24-4. Trước đây, SSA đã tận dụng mọi cơ hội để dấy lên lo ngại đối với tôm nhập khẩu bằng cách gây áp lực nhằm thay đổi chính sách hoặc tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng. Việc đưa ý kiến của Đoàn đại biểu Hạ viện vùng Vịnh vào nội dung bức thư và gửi tới một số công ty truyền thông cho thấy dường như họ đang lặp lại những mánh khóe cũ.

    Tuy nhiên, đây là vấn đề liên quan đến khoa học.

    Tiến sĩ Lightner cho biết nguyên nhân dịch bệnh EMS đã được xác định. Hơn nữa, tôm đông lạnh nhập khẩu hoàn toàn không có nguy cơ truyền bệnh cho nguồn lợi tôm tự nhiên. Như đã đề cập ở trên, tôm được chín cũng không gây nguy hiểm cho sức khỏe con người,

    Lệnh cấm được ban hành tại một số nước khác là do các nước này nhập khẩu tôm giống về để nuôi. Tuy nhiên, Mỹ hoàn toàn không nằm trong trường hợp này.

    Ngày 6-5, tiến sĩ Lightner đã công bố phát hiện mới liên quan đến một chủng vi khuẩn là tác nhân gây ra dịch bệnh EMS. Đó là vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus, thường tìm thấy ở các vùng nước lợ ven bờ trên toàn thế giới.

    Việc xác định được vi khuẩn gây nên dịch bệnh EMS đã đưa ra những bằng chứng khoa học về việc tôm nhập khẩu đông lạnh không gây nguy hiểm tới sức khỏe con người. Chỉ 1-2% trong số các chủng vi khuẩn V. parahaemolytics tự nhiên trên thế giới có khả năng gây bệnh cho con người, trong số đó không có chủng mà tiến sĩ Lightner đã xác định là nguyên nhân gây dịch bệnh EMS.

    Nghiên cứu gần đây nhất của tiến sĩ Lightner đã phản bác lại tuyên bố tôm đông lạnh nhập khẩu ẩn chứa nguy cơ gây hại cho tôm nuôi hoặc tôm khai thác nội địa. Bệnh dịch lan tràn là do xuất phát từ các trại tôm đã bị nhiễm bệnh hoặc việc di chuyển tôm sống nhiễm bệnh, nhất là tôm giống. Nhóm nghiên cứu của tiến sĩ Lightner cũng đã thử nghiệm và không thành công trong việc gây nhiễm EMS thông qua sử dụng các mẫu tôm đông lạnh hoặc rã đông, tức là việc cấp đông sẽ tiêu diệt các vi khuẩn gây bệnh. Tôm nhập khẩu vào Mỹ đều dưới dạng tôm đông lạnh. Do đó, hoàn toàn không có nguy cơ lây lan dịch bệnh từ các sản phẩm này.

    Tom Mazzetta, Người sáng lập và Tổng giám đốc

    Nguồn: Seafoodnews, vietfish.org
    • By Truong Huynh Nhu
    • 0 comments
    • 4 likes
    • 1 day ago
    • Truong Huynh Nhu
    • Thuy Loan Tran
    • Ba Tôm and
    • 1 other
  • Cá phổi - Lungfish
    Cá phổi là một trong các loài cá thuộc phân lớp có danh pháp khoa học là Dipnoi. Cá phổi là loài cá cổ, chúng được biết đến nhờ các đặc trưng nguyên thủy còn giữ lại được trong lớp Cá xương (Osteichthyes), bao gồm khả năng hít thở không khí và các cấu trúc nguyên thủy trong lớp Cá vây thùy (Sarcopterygii).

    Cá phổi có mặt trên trái đất hơn 100 triệu năm trước, chúng có đặc điểm hình dạng nguyên thủy rất giống rắn. Tất cả các loài cá phổi đều có thể phát triển với kích thước rất lớn, cá phổi Châu Phi có thể dài hơn 2 m. Ngày nay, các loài cá phổi chỉ còn sống tại một số khu vực ở châu Phi, Nam Mỹ và Australia. Có ít loài trong nhóm cá phổi và hiện chỉ có 6 loài được biết, chia thành hai họ khác nhau. Họ Lepidosirenidae có 5 loài được phát hiện ở Châu Phi và Nam Mỹ. Họ còn lại là Ceratodidae chỉ có một loài duy nhất, đó là cá phổi Úc.

    Phổi giúp chúng sống ở các vùng nước có hàm lượng ô xy rất thấp mà các loài cá khác không thể sống được. Phổi chúng nằm ở vị trí rất giống phổi các loài thằn lằn cổ xưa. Các loài cá phổi châu Phi và Nam Mỹ có khả năng sống sót qua thời kỳ khô hạn theo mùa của môi trường sinh sống bằng cách giấu mình trong bùn và tồn tại trong cả mùa khô hạn. Nhiều nghiên cứu cho thấy, cá phổi Châu Phi có thể chịu đựng trong hai năm không có nước. Chúng không chọn cách làm tổ hay trốn dưới bùn mà bao phủ thân thể chúng bằng một chất bài tiết. Chất này là một loại da tự nhiên giống như cái kén con tằm giúp chúng giữ ẩm cho tới khi có nước. Các thay đổi trong các chức năng sinh lý cho phép cá phổi làm chậm lại quá trình trao đổi chất của nó tới mức chỉ còn không tới 1/60 của mức trao đổi chất thông thường và các chất thải gốc protein được chuyển hóa từ amonia thành dạng ít độc hại hơn là u rê (thông thường, cá phổi bài tiết chất thải gốc nitơ dưới dạng amonia trực tiếp vào trong nước).

    Cá phổi là loài cá ăn tạp và là một sát thủ săn mồi lợi hại. Chúng có thể ăn tất cả mọi thứ miễn vừa với cái miệng rất rộng của nó. Chúng ăn cả các dụng cụ trang trí trong bể cá cảnh, tuy nhiên thức ăn tự nhiên ưa thích của chúng là các loại cá tôm và những thứ khác mà chúng tìm ra.

    Các loài cá phổi ngày nay còn giữ một số các đặc trưng của dạng phôi thai như ở động vật bậc cao. Chúng cũng có bộ gen lớn nhất trong số các động vật có xương sống. Tất cả các loài cá phổi ngày nay đều có thân thuôn dài với các cặp vây ức và "vây khung chậu" tạo thành 4 "chân" giúp chúng di chuyển dưới nền đáy hay "đi bộ" trên cạn, cùng với một vây đuôi thay thế cho các vây lưng, đuôi và vây hậu môn như ở các loài cá khác.

    © Triệu Thanh Tuấn, www.aquanetviet.org
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 3 likes
    • 1 day ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Trieu Phu and
    • Ba Tôm
  • Bio-floc: công nghệ mới ứng dụng trong nuôi trồng thủy sản
    Bio-flocculation hay viết tắt là bio-floc (bông cặn sinh học) được nghiên cứu và ứng dụng trong nuôi trồng thủy sản trong thời gian gần đây (Conquest and Tacon, 2006), bio-floc là phức hệ bao gồm: phiêu sinh vật, vi khuẩn dị dưỡng, nguyên sinh động vật, giun tròn, vi tảo, mùn bã hữu cơ; chúng thường chứa khoảng 35-50% hàm lượng đạm, 0,6-12% chất béo và 21-32% trọng lượng tro; theo Avnimelech (2006) bio-floc còn bao gồm các loại amino-acids thiết yếu, vitamins và khoáng vi lượng.

    Ích lợi chính của việc ứng dụng công nghệ bio-floc là tiết giảm được hàm lượng NH3 và NO3- sản sinh trong môi trường nuôi tôm cá, nên có thể giảm thiểu việc sử dụng hệ thống lọc sinh học để xử lý môi trường nước (Avnimelech, 2006). Để duy trì bio-floc trong hệ thống nuôi thường người ta sử dụng các nguồn cacbon rẻ tiền (mật đường, các loại bột, cám gạo…) để duy trì tỉ lệ C/N trong khoảng 20/1 (Animelech, 2009).

    Với hiệu quả thiết thực, công nghệ bio-floc đã được ứng dụng trong quy trình nuôi các đối tượng nước lợ mặn như tôm thẻ chân trắng, cá rô phi (Avnimelech, 2005, 2006; Crab et al., 2009), tôm sú (Wasielesky et al., 2006), đều cho thấy lợi ích kiểm soát các yếu tố môi trường, các nghiên cứu chỉ ra khả năng làm giảm thấp hàm lượng TAN xuống 0,01 mg/L, thấp hơn gấp nhiều lần so với các hệ thống nuôi thông thường (0,5-3,0 mg/L); bổ sung nguồn thức ăn có giá trị từ bio-floc và kết quả thí nghiệm chỉ ra rằng sau khi bổ sung nguồn bột/đường vào môi trường nuôi đã thúc đẩy việc sản xuất nguồn đạm vi khuẩn làm thức ăn cho tôm nuôi, nhờ đó làm giảm nguồn đạm trong thức ăn từ 40% xuống 25% mà không ảnh hưởng đến năng suất tôm nuôi. Thực tế khả năng sử dụng bio-floc làm thức ăn tùy thuộc tập tính dinh dưỡng của từng loài, giai đoạn phát triển của đối tượng nuôi, kích cỡ hạt bio-floc cùng mật độ hạt bio-floc trong môi trường nuôi.

    Ưu điểm chính của công nghệ bio-floc là giảm thay nước và không cần hệ thống xử lý nước phụ trợ (bên ngoài) cho hệ thống nuôi, công nghệ này có thể áp dụng cho các quy trình nuôi thâm canh hoặc quảng canh, giúp tăng năng suất lên 5-10%, tăng trọng của tôm nuôi cao hơn hệ thống thông thường, hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) thấp, dao động từ 1-1,3 và chi phí sản xuất giảm 15-20%, mặt khác vi khuẩn dị dưỡng trong hệ thống còn được quy cho có khả năng kiểm soát mầm bệnh trong ao nuôi và các kết quả nghiên cứu ban đầu trong phòng thí nghiệm cho thấy có sự hiện diện của chất poly-β-hydroxybutyrate (PHB) trong bio-floc và với sự hiện diện của PHB cho thấy khả năng làm giảm tác hại của vi khuẩn gây bệnh trong nuôi trồng thủy sản (Defoirdt et al., 2007; Halet et al., 2007 trích dẫn theo Crab et al., 2007). Tuy vậy việc ứng dụng công nghệ bio-floc đòi hỏi hệ thống nuôi phải trang bị sục khí với công suất 28 HP/ha, hệ thống ao nuôi cần trải bạt (HDPE), người nuôi cần được tập huấn đầy đủ các kỹ thuật để vận hành hệ thống có hiệu quả.

    Nguồn: PGs. Ts. Nguyễn Văn Hòa, Khoa Thủy Sản, Đại học Cần Thơ. Công ty UV-Vietnam.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 4 comments
    • 5 likes
    • 2 days ago
    • Truong Huynh Nhu
    • Thuy Loan Tran
    • Nguyễn Hồ and
    • 2 others
    • liemtran308 Pó tay với Ts Nguyễn Duy Hòa, giờ tới Ts Nguyễn Văn Hòa toàn đọc rồi nhại theo sách, chứ chả hiểu biết gì về Biofloc.

      - Thấy chữ viết theo

      - Nhìn hình vẽ theo

      Bà con ơi, đọc và học đi, xem có LỞ MÒM LONG MÓNG không cho biết.
      • 0 likes
      • Like
      • Reply
      • 21 hours ago
    • 1 more comment
  • Biện pháp kiểm soát bệnh vi-rút trong ao nuôi tôm
    Bệnh vi-rút trên tôm là một trong những bệnh có khả năng gây chết tôm hàng loạt và hiện nay chưa có biện pháp chữa trị hữu hiệu. Do vậy, các biện pháp được áp dụng để kiểm soát bệnh vi-rút trong ao tôm là rất cần thiết, bao gồm:

    1. Chuẩn bị tốt ao nuôi: Sau mỗi vụ nuôi, lớp bùn đáy ao có chứa các hợp chất gây độc, hàm hượng vật chất hữu cơ rất cao, chứa rất nhiều lượng vi khuẩn, ký sinh trùng và thể vi-rút gây hại cho sức khỏe tôm. Do vậy, nếu các chất gây hại này không được loại bỏ triệt để thì khả năng ảnh hưởng sức khỏe tôm nuôi vụ sau là rất cao. Qui trình cải tạo ao cần được lưu ý thực hiện tốt ở các công đoạn sau:

    (i) Bón vôi CaO 100 ppm ngay sau khi thu hoạch tôm, đặc biệt trong trường hợp ao tôm vừa nhiễm bệnh vi rút.
    (ii) Loại bỏ lớp bùn đáy ao đặc biệt là ở các ao nuôi tôm mật độ cao cần lưu ý ở khu vực cho tôm ăn. Lớp bùn đáy cần được di chuyển đến khu vực xa ao nuôi để tránh theo dòng nước chảy ngược về ao nuôi khi bơm nước vào.
    (iii) Áp dụng biện pháp cày xới khi đất nền ướt đặc biệt khuyến cáo cho các ao nuôi mật độ cao và phơi khô trong vòng 5 – 7 ngày cho đến khi không còn lớp bùn đen. Nếu sử dụng máy kéo thì cần thực hiện cày lớp đất khô, cho nước vào làm ướt đất và phơi khô đáy ao. Bón vôi là công đoạn kế tiếp cần được thực hiện (100-150 kg/1000m2).
    (iv) Quá trình diệt tạp cần lưu ý thực hiện tốt đặc biệt là các loài cá, cua có thể mang mầm bệnh vi-rút vào ao tôm.

    2. Lọc và xử lý nước:Tránh bơm trực tiếp nguồn nước không qua xử lý vào ao nuôi do mầm bệnh vi-rút có thể tồn tại lơ lửng trong môi trường nước trong khoảng thời gian nhất định. Qui trình lọc nước do tổ chức Thú y thế giới khuyến cáo thực hiện như sau: Nước cấp vào ao cần lọc loại bỏ các thủy sinh vật, vật chất lơ lửng có khả năng mang mầm bệnh; tiếp tục lọc nước qua các làn vải mịn và sau cùng là lọc qua lưới lọc có mắt lưới khoảng 150-250 µm (OIE, 2011). Sau đó xử lý chlorine với liều lượng 30ppm và lắng khoảng 3-4 ngày trước khi sử dụng.

    3. Chọn lọc và thả tôm giống khỏe: Qui trình chọn lọc tôm giống nên cần thực hiện với các bước: (i) Chọn tôm đạt các yếu tố cảm quan và áp dụng phương pháp gây sốc độ mặn để chọn tiếp tôm khỏe (Chanratchakool và ctv., 1998); (ii) Sau đó xác định tôm không có nhiễm mầm bệnh vi-rút nguy hại cho tôm bằng phương pháp PCR; (iii) Trước khi thả tôm nên sử dụng phương pháp sốc formalin 100ppm trong bể kèm sục khí trong thời gian 30 phút để loại bỏ tôm yếu trước khi thả tôm xuống ao (Limsuwan, 1997).

    4. Mật độ thả nuôi: Tôm nuôi với mật độ thấp sẽ giúp giảm sốc cho tôm do vậy tăng khả năng đề kháng bệnh cho tôm. Mật độ tôm nuôi không nên vượt quá 25-30 con/m2 đối với tôm sú.

    5. Quan sát và điều chỉnh môi trường nước ao nuôi: Các chỉ tiêu môi trường nước như hàm lượng oxy hòa tan, độ pH, độ mặn, độ kiềm, hàm lượng khí NH3, độ đục cần phải luôn luôn kiểm tra điều chỉnh nằm trong mức tối ưu cho quá trình phát triển của tôm.

    6. Quản lý tốt thức ăn và chế độ cho ăn: Không sử dụng thức ăn tươi sống và phụ phẩm đông lạnh cho tôm ăn, tuy nhiên cá tạp có thể nấu chín trước khi sử dụng làm thức ăn cho tôm ở giai đoạn mới thả giống.

    7. Định kỳ kiểm tra sự hiện diện mầm bệnh vi-rút: Trong quá trình nuôi, cần kiểm tra sự hiện diện của mầm bệnh vi-rút nguy hiểm cho tôm bằng phương pháp PCR mỗi hai tuần. Phương pháp PCR cho phép phát hiện sớm bệnh do vậy người nuôi có hướng xử lý kịp thời nhằm tránh thất thoát cho ao tôm.

    8. Loại trừ các sinh vật mang mầm bệnh vi-rút vào ao nuôi: Còng, tép, ruốc, các giáp xác nhỏ, một số loài cá, sò… có khả năng là những vật mang mầm bệnh vi rút vào ao nuôi. Do vậy, cần sử dụng lưới lọc có khoảng 60-80 mắt lưới/cm2 đặt ở ngay cống cấp để loại bỏ các sinh vật này. Cua, ếch, rắn... cũng cần ngăn chặn vào ao tôm bằng cách sử dụng lưới chặn xung quanh ao. Ngoài lưới, dụng cụ dùng trong các ao tôm, công nhân cũng cần chú ý khâu vệ sinh chân, tay để tránh mang mầm bệnh và lây nhiễm chéo giữa các ao trong hệ thống nuôi. Máy đập nước hoặc gió mạnh có thể tạt các tia nước làm tăng khả năng lây nhiễm giữa các ao lân cận nếu như đã có sẵn mầm bệnh trong ao.

    9. Loại trừ và xử lý chất thải của ao tôm: Để giảm thiểu khả năng lây lan của mầm bệnh vi-rút, nước thải từ ao tôm cần được xử lý trước khi thải ra ngoài môi trường. Do vậy, ao xử lý nước thải là một trong những thiết kế cần có cho qui trình nuôi tôm hiện đại. Trong ao xử lý, nước thải lần lượt được xử lý qua các công đoạn như tiệt trùng, lắng bùn, oxy hóa, lọc cơ học và lọc sinh học (nuôi tảo, sò và các loài cá ăn lọc). Mặc dù tiêu tốn ở công đoạn xử lý nước thải không nhỏ nhưng công đoạn này giúp ích rất nhiều cho việc giảm thiểu quá trình lây lan mầm bệnh, xử lý tốt nguồn nước.

    10. Xử lý bệnh đúng phương pháp: Trong trường hợp ao tôm có bệnh vi-rút xảy ra, tôm và chất thải không nên thải thẳng ra môi trường không qua xử lý. Ví dụ như bệnh đốm trắng, ao tôm cần được xử lý với các chất khử trùng (chlorine, iodine, BKC…) và giữ kín tôm chết trong hệ thống này trong vòng 7 ngày mới xả ra môi trường. Tiếp tục bón vôi CaO 100ppm ngay sau khi xả nước ra ngoài môi trường.

    11. Nuôi kết hợp tôm với cá: Nuôi kết hợp tôm với cá là một trong những mô hình có khả năng giúp giảm thiểu tác hại của bệnh do vi-rút gây ra trên tôm. Một số loài cá có thể bắt những giáp xác nhỏ có khả năng mang mầm bệnh do vậy sẽ giúp giảm thiểu khả năng lây nhiễm vi-rút cho tôm. Một số loài cá có thể được dùng trong nuôi kết hợp với tôm như cá rô phi, cá măng và cá đối ….

    Nguồn: Ts. Trần Thị Tuyết Hoa, Khoa Thủy sản – Trường Đại học Cần Thơ. Công ty UV-Vietnam.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 1 comment
    • 4 likes
    • 2 days ago
    • Truong Huynh Nhu
    • Ba Tôm
    • Nguyễn Hồ and
    • 1 other
    • Trieu Thanh Tuan Bài viết của cô mình rất chuẩn theo chuẩn của một TS khoa học! Mọi người chọn lọc thông tin để sử dụng nhé. Mình thích nhất là mục 3 (chọn lọc và thả tôm giống khỏe), hai phương pháp sốc độ mặn và formol đơn giản nhưng rất hiệu quả mà hiện nay hầu như không người nuôi tôm nào thực hiện.
      • 1 like
      • Like
      • Reply
      • 2 days ago
  • Đánh giá các thông số di truyền tính trạng chất lượng thịt cá hồi vân (Oncorhync...
    Tính trạng màu sắc và tỷ lệ mỡ trong philê là hai tính trạng quan trọng trên cá hồi vân. Nghiên cứu được thiết kế trên 51 gia đình từ phép lai thứ bậc cá bố mẹ từ 02 quần đàn thuộc hai công ty ở Na Uy. 25 và 200 cá thể mỗi gia đình được đánh dấu PIT và thả nuôi cộng đồng tương ứng trong bè tại Averøy, Akvaforsk và tại Nordkapp, Na Uy. Sau 726, 944 và 1026 ngày nuôi, 511 cá thể nuôi ở Averøy và 668 và 328 cá thể nuôi ở Nordkapp được cân đo. Tính trạng khảo sát là khối lượng cơ thể, màu sắc philê bằng so màu SalmoFanTM, màu sắc philê đo bằng trực giác và lượng sắc tố, tỷ lệ mỡ trong philê. Phương sai và hiệp phương sai, hệ số di truyền và tương quan di truyền được ước tính bằng mô hình toán tuyến tính cá thể hỗn hợp.

    Hệ số di truyền tính trạng khối lượng cơ thể (0,48-0,64) ở cả hai môi trường nuôi và tính trạng chất lượng thịt (màu sắc philê và tỷ lệ mỡ trong philê, 0,27-0,66) ở môi trường nuôi Nordkapp cao, cho phép dự đoán hiệu quả chọn lọc sẽ cao khi áp dụng chọn lọc cho tính trạng này. Hiệu quả chọn lọc ở mức trung bình được kỳ vọng tương ứng cho các tính trạng chất lượng thịt ở môi trường nuôi ở Averøy, dựa vào hệ số di truyền ở mức trung bình được tìm thấy (0,17-0,22). Tính trạng màu sắc philê đo ở hai thời điểm nhiệt độ nước khác nhau trong năm được xem là một tính trạng nhờ có mối tương quan di truyền cao giữa chúng được tìm thấy (r=1). Tương tác giữa kiểu gien và môi trường không quan trọng đối với tính trạng màu sắc thịt (r=0,61-0,91), nhưng cần chú ý đến tính trạng tỷ lệ mỡ trong philê khi tiến hành chọn lọc, do có hệ số tương quan di truyền giữa 02 môi trường nuôi Averøy – Nordkapp tương đối thấp (0,36). Cần chú ý tương quan cao giữa tỷ lệ mỡ trong philê với khối lượng cơ thể (0,90) khi áp dụng chọn lọc cho tính trạng khối lượng cơ thể. Từ kết quả này, có thể khẳng định chọn lọc cá hồi vân theo tính trạng màu sắc thịt và tỷ lệ mỡ trong philê ở Na Uy là khả thi.

    Nguồn: Nguyễn Văn Sáng, Bjarne Gjerde. 2012. Đánh giá các thông số di truyền tính trạng chất lượng thịt cá hồi vân (Oncorhynchus mykiss) phục vụ chương trình chọn giống ở Na Uy. Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 3 likes
    • 2 days ago
    • Truong Huynh Nhu
    • Ba Tôm and
    • Nguyễn Hồ
  • Bước đầu nghiên cứu quy trình xử lý vảy cá bằng enzyme protease để tạo sản phẩm ...
    Đề tài được thực hiện nhằm xác định quy trình xử lý vảy cá bằng enzyme protease để tạo sản phẩm thủ công, nhằm nâng cao giá trị của phụ phẩm này. Hai thí nghiệm được bố trí để tìm hiểu ảnh hưởng của thời gian lên giá trị cảm quan của sản phẩm: thời gian theo dõi là 5, 10 và 15 phút, và tìm hiểu sự phân hủy protein bám trên vảy cá với sự thay đổi nồng độ enzyme protease là 3%, 2%, 1%, chỉ tiêu theo dõi là màu sắc và mùi bằng phương pháp đánh giá cảm quan.

    Kết quả cho thấy trong khoảng thời gian 10 phút thì protein trên vảy cá được tách ra hoàn toàn, vảy cá thu được hoàn toàn trắng sạch. Nồng độ enzyme ảnh hưởng lớn đến chỉ tiêu màu sắc và chỉ tiêu mùi của sản phẩm. Nồng độ enzyme protease nếu quá thấp thì protein không tách hoàn toàn ra khỏi vảy, mùi đặc trưng của vảy cá vẫn còn; nồng độ enzyme quá cao thì màu và mùi nồng của enzyme sẽ ảnh hưởng đến màu sắc và mùi của sản phẩm. Để đảm bảo sản phẩm đạt chỉ tiêu màu sắc và mùi, đồng thời tiết kiệm enzyme protease sử dụng, nồng độ enzyme 2% được khuyến cáo sử dụng.

    Nguồn: Lâm Thị Vương, Nguyễn Phú Hòa. 2010. Bước đầu nghiên cứu quy trình xử lý vảy cá bằng enzyme protease để tạo sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Hội nghị CNSH Toàn quốc, TP. HCM, năm 2010.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 2 likes
    • 2 days ago
    • Trieu Phu and
    • Ba Tôm
  • Cách sử dụng thủy sản đông lạnh cho đúng
    Thực phẩm đông lạnh đang tràn ngập tại các siêu thị và ngày càng được nhiều người sử dụng. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết cách sử dụng loại thực phẩm này cho đúng.

    Theo PGS. TS. Nguyễn Xuân Phương, Viện Công nghệ thực phẩm, Đại học Bách Khoa Hà Nội, muốn biết thuỷ hải sản đông lạnh có đảm bảo chất lượng hay không thì phải để sản phẩm sau thời gian tan giá, khi tôm cá trở về trạng thái bình thường.

    Không giống với thủy sản được bày bán ở chợ, tôm, cá tại các cửa hàng, siêu thị được đánh bắt trước đó vài ngày rồi vận chuyển bằng xe lạnh chuyên dụng đến nơi bán. Do đó, độ tươi của tôm, cá sẽ phụ thuộc vào mức độ đông lạnh trong quá trình vận chuyển và bày bán. Nếu được vận chuyển đúng cách, chất lượng của chúng hầu như không thay đổi so với hàng tươi ngoài chợ.

    Khi mua cá đông lạnh, bạn phải kiểm tra kỹ bao bì để đảm bảo rằng chúng chưa bị mở hoặc bị xé rách, kiểm tra hạn sử dụng, tốt nhất chúng ta nên tìm mua những mặt hàng có hạn sử dụng tốt nhất trước 1 tháng. Và nếu bao bì trong suốt, có thể nhìn thấy bên trong thì cần quan sát lớp tuyết hoặc đá đông bên trong cũng như là trạng thái của sản phẩm, không nên chọn những phần cá có lớp tuyết dày hoặc lớp đá quá cứng vì điều này chứng tỏ cá được để quá lâu ngày hoặc đã bị rã đông rồi để đông lại.

    Một điều cần biết là tránh mua những loại cá có dầu. Không phải mọi loại cá đông lạnh đều tốt. Những loại cá có nhiều dầu như cá ngừ hoặc cá kiếm thường không thích hợp với việc để đông lạnh.

    Khi rã đông, nên để thủy hải sản trong ngăn mát qua đêm. Nếu cần dùng nhanh, với tôm hoặc cua bạn có thể đặt chúng dưới vòi nước lạnh, không nên rã đông tôm bằng lò vi sóng. Còn với cá đông lạnh, để cá được ngon hơn, khi muốn rã đông bạn hãy lấy cá ra khỏi ngăn làm đông trước, sau đó để vào ngăn dưới của tủ lạnh trong vòng 24 giờ trước khi cần chế biến món ăn.

    Khi rã đông, tránh nhúng cá vào nước nóng hoặc để cá trực tiếp dưới ánh nắng mặt trời vì có thể làm vi khuẩn sinh sôi nảy nở. Hải sản đông lạnh cần thời gian dài để rã đông, như vậy mới đảm bảo được hương vị và dinh dưỡng.

    Không nên tái đông thủy hải sản. Vì thủy hải sản có thể bị hỏng kể cả khi vẫn chưa có mùi vị bất thường. Những loại thủy hải sản đông lạnh nên đun, nấu ở nhiệt độ cao. Bởi dù được bảo quản ở nhiệt độ -18 độ C, nhưng đó là phương pháp làm chậm quá trình phát triển của vi sinh vật. Cho nên, nếu trong môi trường, nhiệt độ không thích hợp thì sẽ rất dễ tạo điều kiện sống cho vi sinh vật. Vì thế, chúng ta không chỉ lưu ý trong quá trình bảo quản, rã đông, mà còn trong cả quá trình chế biến nữa.

    Khi bảo quản thủy hải sản đông lạnh ta không nên để chung với thực phẩm đã nấu chín. Bởi như thế mùi tanh của thủy hải sản sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng và mùi vị của món ăn đã chế biến đó. Tôm đông lạnh chỉ nên chiên nấu ở nhiệt độ cao, không nên hấp, luộc. Cá đông lạnh thì không nên rán.

    Nguồn: Thuỳ Minh, vnmedia.vn.
    • By Trieu Phu
    • 3 comments
    • 4 likes
    • 2 days ago
    • Truong Huynh Nhu
    • Trieu Phu
    • Ba Tôm and
    • 1 other
    • Thuy Loan Tran may là nó không ngon, chứ vừa đẹp vừa ngon sợ nó tuyệt chủng rồi, hì hì! ;)
      • 0 likes
      • Like
      • Reply
      • 1 day ago
    • Trieu Thanh Tuan Theo kinh nghiệm cho thấy mấy con cá đẹp ăn dở lắm! Anh có mua thử mấy con màu sắc rất đẹp bên này ăn thử, thịt nó bở lắm ăn không ngon chút nào :)
      • 1 like
      • Like
      • Reply
      • 2 days ago
    • Ba Tôm Cá nhìn đẹp quá.......không biết ăn có NGON không!!!! :)
      • 0 likes
      • Like
      • Reply
      • 2 days ago
  • Cá lau kính - Suckermouthed
    Cá lau kính, cá dọn bể, cá tỳ bà hay cá miệng hút (suckermouthed) có tên khoa học là Hypostomus plecostomus, thuộc họ Loricariidae, giống Hypostomus, là loài cá nước ngọt có nguồn gốc từ Nam Mỹ, chúng phân bố tự nhiên ở các khu vực thuộc Brazil, Guyana, Trinidad và Tobago và Suriname. Cá lau kính sống chủ yếu sống ở đáy các thủy vực nước ngọt, nước lợ. Thức ăn chính là các loài rong, tảo bám trên bề mặt thực vật hoặc nền đáy, đây là loài ăn tạp, cạnh tranh thức ăn với các loài khác, sinh sản nhanh khi phát tán ra ngoài thủy vực tự nhiên.

    Cá có chiều dài từ 30–70 cm. Cá có khả năng sinh sản quanh năm, tỷ lệ cá con sống khoảng 70% và có thể sống mà không cần đến thức ăn suốt 1 tháng. Nhiệt độ nước thích hợp cho loài này khoảng là 22-28°C, pH 5-8.

    Cá lau kính được nuôi trong ao rất nhiều ở Hong Kong và Singapore để cung cấp cho thị trường cá cảnh. Cá lau kính được nhập về Việt Nam chủ yếu từ Hong Kong và Singapore cung cấp cho thị trường cá cảnh đang phát triển mạnh trong nước. Gọi là cá dọn bể hay lau kính vì loài này ăn tạp (chất thải của cá khác, rong rêu bám trên thành bể...) nhiều chuyên gia lo ngại rằng việc nhập loại cá này vào Việt Nam sẽ gây ra hiện tượng mất cân bằng sinh thái hay khi chết sẽ phân hủy gây ô nhiễm môi trường và đề ra nhiều biện pháp ngăn chặn. Tuy nhiên, việc quản lý các hộ kinh doanh cá cảnh và cả người nuôi loài cá này không hề dễ dàng. Mối lo ngại đó đã trở thành hiện thực khi mà hiện nay cá lau kính đã xâm nhập và có mặt ở hầu hết các thủy vực nước ngọt và lợ ở nhiều tỉnh khu vực Đồng bằng sông Cửu Long từ thủy vực tự nhiên cho đến các ao nuôi tôm cá.

    Cá lau kính thuộc loại cá cảnh nhưng sau khi phát tán ra môi trường, chúng dễ thích nghi với môi trường sông nước, cá lau kính có thể tiếp cận các loài cá khác để hút nhớt và làm giảm khả năng phát triển của cá. Nếu các loài cá khác có khả năng thích nghi kém sẽ rất dễ chết khi bị cá lau kính tấn công. Nguy hiểm hơn, do có khả năng thích nghi mạnh nên chúng lấn át sinh vật bản địa, tạo ra sự mất cân bằng sinh thái. Sau thời gian phát tán ra tự nhiên, hiện nay cá lau kính đang trở thành loài có nguy cơ xâm hại các loài cá khác ở cùng một môi trường sống. Đây là loài cá không mang lại giá trị kinh tế cao, đang có chiều hướng tăng nhanh trên các sông rạch ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

    © Triệu Thanh Tuấn, www.aquanetviet.org
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 4 likes
    • 2 days ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Truong Huynh Nhu
    • Ba Tôm and
    • 1 other
  • Những vấn đề cần lưu ý trong xét nghiệm và chẩn đoán bệnh đầu vàng (YHD) ở tôm
    Bệnh đầu vàng (Yellow Head Disease – YHD) là một trong những bệnh nguy hiểm thường gặp trên tôm nuôi. Hiện nay chưa có phương pháp chữa trị hiệu quả nên việc phòng bệnh và ngăn ngừa sự lây lan của dịch bệnh bằng cách xét nghiệm bệnh trên tôm giống trước khi thả nuôi và trong quá trình nuôi là một trong những biện pháp thiết thực.

    Hiện nay có rất nhiều kỹ thuật dùng để xét nghiệm bệnh đầu vàng ở tôm như kỹ thuật mô bệnh học, kỹ thuật PCR phiên mã ngược, kỹ thuật miễn dịch phát hiện kháng nguyên dựa trên kháng thể đặc hiệu hay kỹ thuật lai in situ. Mỗi phương pháp đều có ưu nhược điểm riêng. Việc xét nghiệm bệnh đầu vàng dễ bị nhầm lẫn do những đặc điểm phức hợp của tác nhân gây bệnh và đặc điểm bệnh lý ở mức tổ chức học.

    Bệnh đầu vàng do phức hợp vi rút gây nên, còn gọi là phức hợp vi rút gây bệnh đầu vàng (Yellow Head Complex Virus – YHCV). Phức hợp này bao gồm vi rút gây bệnh đầu vàng (Yellow Head Virus – YHV) và vi rút gây hội chứng liên quan đến mang (Gill Associated Virus – GAV). Cho đến nay, YHCV được ghi nhận có 6 kiểu gen khác nhau (Wijegoonawardane et al., 2008) và mỗi kiểu gen có độc lực riêng nên mức độ gây chết cho tôm cũng khác nhau.

    YHV được xem là kiểu gen thứ nhất trong YHCV, kiểu gen này có độc lực cao, khả năng gây chết tôm hoàn toàn trong vòng vài ngày xuất hiện bệnh. Vật chất di truyền của YHV là ARN sợi đơn, hình que và có màng bao. Kích thước hệ gen của YHV là 26.662 bp bao gồm 4 đoạn gen mã hóa (ORF - open reading frames) là ORF1a, ORF1b, ORF2, ORF3. Mỗi đoạn gen mã hóa cho những protein có chức năng riêng. Kiểu gen thứ 2 trong YHCV là GAV. Tương tự YHV, vật chất di truyền của GAV là ARN sợi đơn, hình que có vỏ bao với kích thước hệ gen là 26.235 bp. Đây là kiểu gen có liên hệ mật thiết với YHV với trình tự gen đồng nhất lên đến 79% (Cowley và Walker, 2002; Sittidilokratna et al., 2008). Trình tự của các đoạn gen mã hóa cho các protein chức năng đều tương tự YHV, nhưng GAV còn chứa thêm đoạn gen mã hóa ORF4 ở đầu 3’ mà có thể do sự khác biệt này làm kiểu gen GAV có độc lực thấp, không gây dấu hiệu bệnh lý đầu vàng cũng như gây chết tôm mà chỉ làm tổn thương mang. GAV thường hiện diện mãn tính trên tôm khỏe (Cowley et al., 2000; Cowley et al., 2004; Cowley và Walker, 2008).

    YHV được ghi nhận lần đầu tiên vào năm 1991 tại Thái Lan và nhanh chóng lây lan sang các nước Châu Á khác như Ấn Độ, Đài Loan, Indonesia, Malaysia, … Năm 1996, GAV được ghi nhận lần đầu tại Úc (Spann et al., 1997) và vi rút này cũng thường hiện diện trên tôm khỏe ở Việt Nam và Thái Lan (Wijegoonawardane et al., 2008). Bốn kiểu gen còn lại thường xuất hiện trên tôm khỏe và phân bố khắp Đông Nam Á, Đông Á và Nam Á …. Kết quả so sánh trình tự các kiểu gen cho thấy 4 kiểu gen này có trình tự giống với GAV nhiều hơn YHV. Tuy nhiên, chưa có kiểu gen nào trong 4 kiểu được ghi nhận gây chết trên tôm. (Wijegoonawardane et al., 2008). Hiện nay, kiểu gen 2 (GAV) và kiểu gen 3 trong YHCV được ghi nhận hiện diện trên tôm nuôi ở Việt Nam. Các kiểu gen khác chưa được ghi nhận.

    Ngoài việc lưu ý về kiểu gen khi xét nghiệm bệnh đầu vàng ở tôm, cũng cần lưu ý khi chẩn đoán bệnh đầu vàng bằng phương pháp mô học. Pantoja và Lighner (2003) đã chứng minh sự giống nhau của những dấu hiệu tổn thương trên mô do vi rút gây bệnh đốm trắng (WSSV) và vi rút gây bệnh đầu vàng (YHV), đặc biệt là dấu hiệu hoại tử trên cơ quan lympho và mô liên kết. Điều này dẫn đến khả năng chẩn đoán nhầm giữa bệnh đầu vàng và bệnh đốm trắng bằng kỹ thuật mô học truyền thống. Kết quả phân tích mô học trên những mẫu tôm cảm nhiễm với WSSV cho thấy dấu hiệu hoại tử trên cơ quan lympho và mô liên kết rất giống với dấu hiệu do bệnh đầu vàng gây ra. Tuy nhiên, khi chẩn đoán các mẫu này bằng kỹ thuật lai in situ với đoạn dò đặc hiệu nhận diện từng loại vi rút thì kết quả âm tính với YHV nhưng dương tính đối WSSV. Do đó, chẩn đoán bệnh đầu vàng không nên chỉ dựa vào dấu hiệu hoại tử trên cơ quan lympho và mô liên kết. Nếu nghi ngờ tôm nhiễm YHV nên cần chẩn đoán bổ sung bằng các phương pháp khác như lai in situ với đoạn dò đặc hiệu cho YHV hoặc phương pháp PCR phiên mã ngược.

    Nguồn: ThS. Trần Thị Mỹ Duyên, PGS. TS. Đặng Thị Hoàng Oanh. Công ty UV-Vietnam.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 3 likes
    • 2 days ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Truong Huynh Nhu and
    • Ba Tôm
  • Cây rong biển, vạn bí mật dưới lòng đại dương
    Rong biển là một loại thực phẩm rất giàu dưỡng chất, tinh chất chiết từ rong biển không chỉ có lợi cho sức khỏe mà còn có thể cải thiện được chất lượng và sự an toàn của thực phẩm.

    “Rau” từ đại dương: Ngon, giòn, bổ dưỡng

    Trong rong biển chứa một lượng chất khoáng rất phong phú. Lượng chất khoáng dồi dào như kali, muối natri, iốt, canxi và sắt trong rong biển có thể phòng ngừa các bệnh sưng phù tuyến giáp trạng, đau xương cốt, loãng xương, thiếu sắt, thiếu máu.

    Các nhà khoa học đã chỉ ra rằng, chất magiê trong rong biển có tác dụng giảm thiểu bệnh cao huyết áp, ngăn ngừa bệnh đau đầu; đau nửa đầu và giảm chứng hen suyễn. Chất magiê còn giúp phụ nữ đang trong thời kì mãn kinh có giấc ngủ ngon hơn.

    Bên cạnh đó, rong biển còn chứa lượng lớn lignans, hợp chất thực vật ngăn ngừa tế bào ung thư,. Lignans cũng có tác dụng làm estrogen yếu đi (lượng hóc môn estrogen tăng nhanh trong thời kì mãn kinh của phụ nữ), rong biển làm giảm bớt sự khó chịu đối với những phụ nữ có trịêu chứng nóng đột ngột trong người.

    Rong biển chứa khá nhiều vitamin B1, B2, PP và một lượng nhất định vitamin B6, B12, E, C, các acid béo không no, caroten... Trong đó vitamin B12 là vitamin không hề có trong các loại rau trồng, Vitamin B2 là chất tham gia truyền dẫn trong quá trình ôxy hóa của cơ thể, hỗ trợ quá trình trao đổi chất của tế bào.

    Theo tổng kết của các chuyên gia y học Nhật Bản, rong biển có tác dụng phòng chống bệnh ung thư, hạ huyết áp, phòng xơ cứng động mạch vành, ngăn ngừa máu đông tụ, kích thích sự bài tiết, duy trì sự cân bằng giữa acid và kiềm trong máu, giảm béo, tăng cường gân cốt và bổ máu.

    Ứng dụng sản phẩm "xanh"

    Các nhà khoa học cũng chứng minh rằng, tinh chất chiết từ rong biển rất giàu hợp chất polyphenol - có đặc tính chống ôxy hóa cao và có khả năng chống lại các vi khuẩn làm ươn hỏng thực phẩm và vi khuẩn gây bệnh trong thực phẩm. Việc sử dụng rong biển và tinh chất chiết từ rong biển trong thực phẩm sẽ hạn chế được chất bảo quản trong thực phẩm, đồng thời đáp ứng được nhu cầu của ngành thực phẩm và người tiêu dùng về các sản phẩm “xanh”.

    Carrageenan - chiết xuất từ cây rong biển chứa tới hơn 20 yếu tố vi lượng, 13 - 20 loại axit amin tự do, trong đó có nhiều loại cần thiết cho cơ thể con người, cùng nhiều loại Vitamin được ứng dụng ở nhiều dạng khác nhau trong nhiều sản phẩm mà con người sử dụng hàng ngày.

    Carrageenan đã được ứng dụng các ngành thực phẩm như nước gel ngọt, sữa, kem sữa, sữa đậu nành, pho mát, đóng hộp và chế biến thịt, nước chấm, bia hoặc rượu…; Công ty TNHH Long Hải cũng đã sử dụng Carrageenan chiết xuất từ rong biển để phối trộn với bột Konjac chiết xuất từ cây khoai nưa sản xuất các sản phẩm Thạch, Nước rau câu và Thạch sữa chua bổ dưỡng, mát lành, cung cấp nhiều dưỡng chất cần thiết cho cơ thể.

    Ngoài ra, Carrageenan cũng được ứng dụng rộng rãi trong mỹ phẩm và thuốc đánh răng. Trong y, dược học, trong nông nghiệp và một số ngành kỹ thuật.

    Nguồn: Ngọc Minh (tổng hợp), vnexpress.net
    • By Trieu Phu
    • 0 comments
    • 5 likes
    • 3 days ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Truong Huynh Nhu
    • Hung and
    • 2 others
  • 9 loại trứng cá dùng trong sushi
    Có rất nhiều loại trứng cá khác nhau được sử dụng trong các kiểu nấu ăn tùy theo những món này được nấu theo kiểu Châu Âu như Bottarga Ý hay Hy Lạp hoặc theo kiểu Nhật Bản như Tarako Spaghetti. Tôi chắc nhiều người trong số các bạn hay những người đọc bài báo này đã ăn sushi trước đây và nhiều người cũng từng ăn nhiều món trứng cá khác nhau. Ở đây tôi chỉ nói đến một số loại trứng cá được dùng trong món sushi và các món ăn Nhật Bản. Đa số chúng được dùng tươi nhưng cũng có một số được nấu. Vì thế hãy xem xét một số loại trứng cá.

    Loại đầu tiên chúng ta nói đến được gọi là Ikura. Đó là những chùm trứng lớn màu da cam hay hơi đỏ mà bạn sẽ thấy trong nhiều món ăn Nhật Bản như Chiriashi. Chúng là trứng cá hồi và chúng được dùng để ăn cũng như được dùng để làm mồi câu cá. Từ Ikura đến từ ngôn ngữ Nga và từ “Ikra” có nghĩa là trứng cá muối. Tôi dùng Ikura trong các món như Chiriashi và Tarako Spaghetti, mặc dù Ikura không phải là loại tiêu biểu được dùng làm món Tarako.

    Loại tiếp theo là Sujiko, cũng là trứng cá hồi. Sự khác nhau giữa Iruka và Sujiko là Iruka được sử dụng và được phục vụ bên ngoài của túi chứa trứng (buồng trứng), và Sujiko là trứng cá hồi nằm trong túi chứa trứng khi nó được chế biến và phục vụ cho người ăn. Màu sắc của chúng cũng khác. Sujiko có màu đỏ tới đỏ đậm trong khi Iruka có màu hơi đỏ tới màu cam. Một số người thích Sujiko hơn Iruka vì Sijiko có vị ngọt hơn. Cá nhân tôi thích cả hai loại và dùng cả hai trong các món nấu nướng.

    Một loại trứng cá được sử dụng ở Nhật và Châu Âu nữa được gọi là Kazunoko. Đây là trứng của cá trích (Herring). Loại trứng này có màu vàng hay hồng và cơ cấu của nó hơi dai. Loại trứng này được ướp muối và dưới con mắt của những người không chuyên chúng không giống như trứng cá bình thường mà giống như một miếng thịt cá. Nói chung Kazunoko hoặc là phơi khô hoặc được ướp muối. Trứng cá được chế biến theo kiểu này sẽ dính lại với nhau và tạo thành một khối cứng.

    Một loại trứng cá khác gọi là Masago và nó là loại trứng của cá Capelin (cá ốt vảy nhỏ) được chế biến. Masago nhỏ và có màu vàng cam. Cá Capelin có nhiều ở bắc Đại Tây Dương và Thái Bình Dương. Cách sử dụng rộng rãi nhất của nó là được trang trí trên sushi nigiri nhưng tôi dùng nó trong món Tarako Spaghetti Nhật Bản nổi tiếng của tôi. Loại trứng cá đặc biệt này thường bị lẫn lộn với một loại trứng cá khác gọi là Tobiko, loại này chính là trứng cá chuồn. Hai loại này giống nhau nhưng Tobiko có màu trong hơn và lớn hơn.

    Loại tiếp theo là Mentaiko. Mentaiko là trứng của cá Pollock (cá minh thái) và thường được ướp với bột ớt đỏ. Nó có màu đỏ đậm hay hồng. Tôi thích dùng Mentaiko cay trong món Tarako Spaghetti của tôi. Sử dụng Mentaiko thông thường nhất là trong món Onigiri sushi Nhật Bản nhưng nó thật sự ngon trong món Tarako Spaghetti. Mentaiko rất đa dạng về mùi vị và màu sắc ở Nhật và được ăn trong khi uống rượu sake. Có thời điểm Mentaiko được xem là món ăn phụ ngon nhất ở Nhật Bản.

    Trứng cá Tarako đến từ cá minh thái Alaska. Nó được ướp muối đã được sử dụng trong một vài cách. Cách đầu tiên là được dùng như một món ăn sáng. Nó được xếp lên phía trên cơm cùng với trứng tomago, sashimi và miếng cá hồi cũng như rong biển nori. Đó là bữa sáng vô địch ở Nhật Bản theo ý kiến của tôi. Tôi thích nó. Tarako cũng được dùng như một thành phần bên trong Onigiri Sushi và tất nhiên cũng được dùng trong một trong những món ưa thích nhất của tôi … Tarako Spaghetti. Tarako truyền thống được dùng với những miếng ớt giã nhỏ hay bột ớt. Bạn có thể tìm mua túi trứng cá minh thái ở những chợ cá Á Châu.

    Tiếp theo như đã nói ở trên là Tobiko. Loại trứng cá nhỏ này có màu có màu cam hay đỏ và là trứng của cá chuồn (Flying Fish). Chúng cũng giòn như những loại trứng cá khác. Tobiko được dùng trong các món ăn Nhật và Hawaii. Có một loại trứng cá Tobiko được gọi là Tobiko Wasabi và loại này rất cay nồng! Đó là vì nó được trộn cây rau Wasabi làm nó có màu xanh dễ thương. Nếu bạn làm nhiều Spaghetti Nhật (Tarako) như tôi và bạn thích ăn cay thì bạn nên nấu món Tarako với trứng cá Tobiko Wasabi. Bạn sẽ thích nó!

    Bạn từng thấy cầu gai chưa? Bạn từng ăn trứng cầu gai chưa? Loại trứng này gọi là Uni. Nhiều người nghĩ Uni là trứng cầu gai nhưng thật sự Uni là bộ phận sinh sản của cầu gai. Uni không giòn như những loại trứng khác vì nó không phải là trứng. Nó mềm như kem. Trong hầu hết các bar, Uni là món có nhu cầu cao và không phải lúc nào cũng có. Đặc điểm Uni ưa thích nhất của tôi là người ta nói nó kích thích tình dục. Uni ở chợ được phân loại tùy theo màu sắc, độ tươi và cơ cấu. Loại A có màu vàng. Loại B có màu vàng kém hơn. Loại C bị vỡ ra do thu hoạch và được gọi là “vana”. Cơ quan sinh sản cầu gai có sẵn ở dạng tươi hay đông lạnh. Nó cũng có thể được nướng trước khi đông lạnh, hấp và đông lạnh, và cũng có sẵn ở các dạng bột nhão để sử dụng trong các món ăn khác nhau.

    Loại trứng cá cuối cùng là Karasumi. Nó cũng được gọi là Bottarga. Nó là trứng cá đối ướp muối. Karasumi rất mặn và sẽ là một khối trứng cá lớn nếu bạn mua nguyên trong túi trứng. Ở Nhật Bản Karasumi được cắt mỏng và ăn cùng củ cải, và ở các nơi khác như Ý hay Hy Lạp, Karasumi được xay để làm mì và được gọi là mì Bottarga. Nó rất ngon. Mì Bottarga rất giống Tarako Spaghetti Nhật theo ý tôi. Nó là một loại mì cá. Ở Mỹ tôi chỉ thấy Karasuma một lần và nó khó được xem như một món đặc sản như ở bên Nhật Bản.

    Nguồn: Viết bỡi Richard Blaine, bản tiếng Việt: Blog Biển và Người.
    • By Trieu Phu
    • 0 comments
    • 4 likes
    • 3 days ago
    • Trieu Phu
    • Ba Tôm
    • Hung and
    • 1 other
  • Kết quả bước đầu một số phép lai các kiểu hình và thử nghiệm bất hoạt tinh trùng...
    Thực tiễn sản xuất đặt ra là làm sao tạo ra được đàn cá Koi có tỉ lệ kiểu hình mong muốn là trắng đỏ và trắng đỏ đen cao hơn. Nghiên cứu này bước đầu thực hiện một số phép lai các kiểu hình và thử nghiệm bất hoạt tinh trùng trong tạo mẫu sinh. 09 phép lai cá có kiểu hình trắng với trắng đỏ, trắng đỏ đen; trắng đỏ với trắng đỏ và trắng đỏ đen; và trắng đỏ đen với trắng đỏ đen với tỷ lệ đốm đỏ khác nhau được thực hiện. 01 cá cái trắng đỏ được sử dụng thí nghiệm mẫu sinh được thực hiện với tinh trùng cá chép thường đã được bất hoạt ở cường độ UV 750 µW/cm2, thời gian chiếu 12 và 10 phút, tương ứng ở các tỉ lệ pha loãng tinh 1:10 và 1:20, thời gian ấp trứng trước khi sốc nhiệt là 1,5 và 2,0 phút và thời gian sốc nhiệt 1,5; 2,0 và 2,5 phút, bằng phương pháp sốc nóng ở 40°C (39,7-40,2°C).

    Thống kê mô tả kết quả thí nghiệm lai các kiểu hình bằng phần mềm Microsoft Excel và so sánh kết quả một số chỉ tiêu bất hoạt tinh trùng cho thí nghiệm mẫu sinh bằng phân tích phương sai nhiều yếu tố, phần mềm SAS. Kết quả ban đầu cho thấy kiểu hình chiếm tỉ lệ cao trong đàn con tương ứng với kiểu hình của cá bố mẹ. Có thể tạo ra đàn con có kiểu hình trắng đỏ cao bằng cách lai cá mẹ và cá bố trắng đỏ có tỉ lệ diện tích đốm đỏ trên lưng > 50% diện tích mặt lưng; tạo ra đàn con có kiểu hình trắng đỏ đen cao bằng cách lai cả cá mẹ và bố đều trắng đỏ đen; đốm đen do 01 gien trội qui định; và gần như tỉ lệ đốm đỏ cá mẹ lấn át tỉ lệ đốm đỏ cá bố cho ra đàn con có tỉ lệ cá đỏ nhiều hơn nếu cá đực có tỉ lệ đỏ thấp hơn. Ở cường độ UV 750 µW/cm2 có thể bất hoạt được bộ gien tinh trùng ở nồng độ tinh pha loãng là 1:10 và 1:20, trong thời gian chiếu 12 và 10 phút cho thí nghiệm mẫu sinh.

    Nguồn: Nguyễn Văn Sáng, Nguyễn Điền, Trịnh Quốc Trọng, Bùi Thị Liên Hà, Thi Thanh Vinh, Trịnh Quang Sơn, Ngô Hồng Ngân, Nguyễn Quyết Tâm. 2012. Kết quả bước đầu một số phép lai các kiểu hình và thử nghiệm bất hoạt tinh trùng trong tạo mẫu sinh cá chép Koi (Cyprinus carpio L.). Viện Nghiên Cứu NT Thủy sản II.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 2 likes
    • 3 days ago
    • Ba Tôm and
    • Hung
  • Bệnh ký sinh trùng trên cá tra (Pangasianodon hypophthalmus Sauvage, 1878) nuôi ...
    Cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) nuôi ở Đồng Bằng Sông Cửu Long tăng nhanh có ý nghĩa từ năm 1999. Diện tích, quy mô nuôi và sản lượng ngày càng được mở rộng và gia tăng; trong năm 2008, sản lượng đạt đến 1,3 triệu tấn. Tuy nhiên, một số vấn đề lớn vẫn còn tồn tại và đã làm ảnh hưởng đến năng suất nuôi, bệnh là một trong số chúng. Báo cáo đã đi sâu nghiên cứu bệnh do tác nhân ký sinh trùng trên cá tra nuôi ao thâm canh tại bốn tỉnh Vĩnh Long, Bến Tre, Đồng Tháp và Cần Thơ với hai kiểu nuôi trang trại và nông hộ.

    Đối với nhóm ngoại ký sinh, hai loài sán lá đơn chủ Thaparocledus siamensis và T. caecus được tìm thấy. Nhóm này làm ảnh hưởng đến sự hấp thu oxygen của cá, tỷ lệ nhiễm cao nhất lên đến 57,0% và cường độ nhiễm cao nhất 148 ký sinh trùng/cá thể cá. Nhóm nội ký sinh gồm loài sán ruột Prosorhynchoides ozakii được phân lập từ ruột cá. Quan hệ giữa chiều dài cá (cm) và cường độ nhiễm sán ruột được ghi nhận; cường độ nhiễm cao (trung bình 16,1 ký sinh trùng/một cá thể cá) trên cá có kích cỡ từ 31 đến 40 cm so với cá nuôi có cỡ nhỏ hơn 30 cm (trung bình: 6,6 - 7,4 ký sinh trùng/một cá thể cá). Sán ruột P. ozakii ký sinh ở ruột cá làm cản trở việc hấp thu dinh dưỡng và gây tổn thương đến thành ruột. Ngoài ra, nhóm ấu trùng sán song chủ (metacercariae) Haplorchis, Centrocestus và Procerovum được phân lập từ cơ, đầu và các gốc vây cá. Tỷ lệ nhiễm cao nhất ghi nhận trong mùa mưa (kiểu nuôi nông hộ: 13,16 - 17,02%; trang trại: 6,36 - 8,02%) của những năm 2006, 2007 so với giai đoạn mùa khô (kiểu nuôi nông hộ: 3,76%; trang trại: 7,34%); tuổi cá từ 61 đến 90 ngày có tỷ lệ nhiễm cao (26,98%) có ý nghĩa thống kê so với cá ở các độ tuổi khác (tỷ lệ nhiễm:1,66 - 12,96%). Sự phát triển và nâng cao các phương pháp chẩn đoán bệnh do tác nhân ký sinh trùng cũng được đề cập trong nghiên cứu này.

    Nguồn: Đinh Thị Thủy, Nguyễn Thanh Tân, Nguyễn Thị Hương. 2012. Bệnh ký sinh trùng trên cá tra (Pangasianodon hypophthalmus Sauvage, 1878) nuôi ờ Đồng Bằng Sông Cửu Long. Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 1 like
    • 3 days ago
    • Ba Tôm
  • Thể thực khuẩn (bacteriaphage) và hội chứng tôm chết sớm (EMS)
    Sơ lược về phage

    Phage là từ viết tắt của Bacteriophage hay còn gọi với cái tên quen thuộc là thể thực khuẩn, là một loại virus đặc biệt chuyên tấn công vi khuẩn, nó chỉ sống được khi ký sinh vào cơ thể vi khuẩn. Hiểu một cách nôm na là vi khuẩn cũng bị bệnh và tác nhân gây bệnh cho chúng chính là phage. Điều đáng mừng là loại virus độc đáo này không thể gây bệnh cho người hay động vật mà chỉ gây bệnh cho vi khuẩn. Mỗi vi khuẩn có thể là vật chủ của một hoặc nhiều phage. Phage phân bố rộng rãi trong tự nhiên, chúng được phát hiện đầu tiên bởi nhà khoa học người Anh Frederick Twort (1877-1950) ở tụ cầu khuẩn năm 1915, sau đó được nhà khoa học người Canada Felix d'Hérelle (1873-1949) nghiên cứu sâu hơn và xác định được chúng là virus ký sinh trên vi khuẩn được gọi là Bacteriophage.

    Cấu trúc của phage

    Phage có 3 dạng cấu trúc là dạng hình khối không có đuôi, hình khối có đuôi và dạng sợi hay dạng que. Phage có cấu tạo rất đơn giản, thành phần hóa học của phage gồm có (i) Nhân DNA/RNA: DNA có ở hầu hết các phage, một số là chuổi DNA đôi (dsDNA) hoặc chuổi DNA đơn (ssDNA); một số khác có thông tin di truyền là RNA và thường là chỉ có một chuỗi RNA (ssRNA). (ii) Protein: vỏ capsid được cấu tạo bằng những đơn phân tử được gọi là capsome hay là những hạt protein. (iii) Enzyme: phage thường có chứa một số loại enzyme ở phần đuôi giúp chúng có thể xâm nhập vào tế bào vi khuẩn.

    Sự nhân lên của phage

    Có 2 dạng phage: phage có độc lực cao và phage không có độc lực. Loại phage có độc lực sẽ nhân lên trong tế bào vi khuẩn và giết chết vi khuẩn ngay sau đó; quá trình này gọi là chu trình tan (lytic cycle). Loại phage "ôn hòa" hơn sau khi xâm nhập vào vi khuẩn sẽ xảy ra một trong hai trường hợp: sẽ nhân lên theo cách của phage độc lực và giết chết tế bào vi khuẩn; hoặc các DNA/RNA của phage sẽ kết hợp với DNA của vi khuẩn và phage sẽ nhân lên khi vi khuẩn nhân lên, quá trình nhân lên theo cách này gọi là chu trình tiềm tan (lysogenic cycle).

    Thực khuẩn thể chỉ có thể nhân lên khi ký sinh vào các tế bào vi khuẩn. Đầu tiên phage phải tìm thấy thụ thể tiếp nhận đặc hiệu (specific recepter) trên bề mặt tế bào vi khuẩn sau đó enzyme ở đuôi của phage sẽ phân hủy màng tế bào vi khuẩn, và đuôi co bóp đẩy nhân chứa DNA/RNA của phage vào tế bào vi khuẩn. Vỏ capsid sẽ ở lại ngoài vi khuẩn. Sau 2 - 3 phút, enzyme deoxyribonuclease của phage sẽ phá hủy DNA của tế bào vi khuẩn, mRNA và kèm theo hàng loạt enzym cần thiết cho phage được tổng hợp. DNA của phage được hình thành cùng với protein (tạo vỏ capsid) của phage được tổng hợp ở ribosome của tế bào chủ. Các thành phần của DNA lắp ghép với protein tạo thành phage. Các phage mới được hình thành sau thời gian khoảng 12 phút và sự giải phóng phage mới thường xảy ra ở phút thứ 25. Trung bình mỗi vi khuẩn có thể giải phóng từ 100 đến vài trăm phage. Các thực khuẩn thể vừa được giải phóng lại tìm đến ký sinh vào tế bào vi khuẩn khác và quá trình tổng hợp phage diễn ra như nói trên, vi khuẩn mới lại bị tiêu diệt.

    Hội chứng tôm chết sớm

    Các trường hợp đầu tiên của EMS xảy ra ở đông nam Trung Quốc trong năm 2009. Trong năm 2010, nó đã được phát hiện trong khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long của Việt Nam, và trong năm 2011, nó đã được phát hiện ở bán đảo Malaysia và sau đó ở miền đông Malaysia trên đảo Borneo. Ở Miền đông Thái Lan bệnh bùng phát vào năm 2012. Ở các nước có báo cáo về hội chứng này đều cho thấy gan tụy sẫm màu, kích thước to lên, sau đó chuyển sang tái xanh và co lại. Một số khác thì gan tụy trong nhìn thấy cả mô, tương tự như màu gelatin có dịch. Tỉ lệ chết xảy ra liên tục ở giai đoạn này, gan tụy bị hủy hoại mất hình dạng, đổi màu và ít giọt lipid. Khi soi mẫu thì lấy quần thể lớn vi khuẩn Vibrio spp. như là V.vulnificus và V.parahaemolyticus. Một số tôm chết mang bị đen. Các báo cáo ghi nhận tỉ lệ chết xảy ra ở giai đoạn 15 – 25 ngày và kích cỡ 1,5 – 2 g.

    • EMS ảnh hưởng đến tôm sú và tôm thẻ chân trắng.
    • Bệnh có hai giai đoạn: cấp tính và giai đoạn cuối. Giai đoạn cấp tính bắt đầu với sự suy thoái của gan tụy. Tế bào Vital chết và hoại tử, và gan tụy sẽ co lại tới một nửa kích thước bình thường của nó. Khi bệnh tiến triển đến giai đoạn cuối, gan tụy chuyển sang màu vàng nhạt hoặc trắng với những đốm màu đen và sọc. Khi tách ra, nó không rắn chắc và thường kết thành một khối như gan tụy khỏe mạnh. Đặc trưng bệnh ở giai đoạn cuối là sự hiện diện với số lượng lớn của vi khuẩn Vibrio harveyi và V. lginolyticus.
    • Không có xét nghiệm phân tử cho bệnh EMS, chẩn đoán mô bệnh học cũng rất hạn chế.

    Hiện nay, nguyên nhân gây hội chứng EMS được xác định là do vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus bị nhiễm phage làm cho độc tố của vi khuẩn tăng lên gây rối loạn chức năng của gan tụy, cơ quan tiêu hóa của tôm.

    Giải pháp đối phó với vi khuẩn nhiễm phage?

    Như đã nói ở trên, nhóm phage không độc thay vì giết chết vi khuẩn ngay khi xâm nhập vào chúng kết hợp với vật liệu di truyền DNA/RNA của vi khuẩn và sẽ nhân lên cùng với sự nhân lên của vi khuẩn. Nhóm này rất nguy hiểm, thay vì giết chết vi khuẩn chúng có thể kết hợp với vi khuẩn sau đó nhân lên tạo thành một chủng vi khuẩn có độc tố mạnh hay kháng thuốc kháng sinh hay có khả năng lây nhiễm cao. Đây là trường hợp của vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus gây nên hội chứng tôm chết sớm EMS mới được phát hiện gần đây bởi GS. Donald Lightner và cộng sự. Nhóm nghiên cứu của GS. Lightner đã phát hiện thấy rằng vi khuẩn này đã bị nhiễm bởi một loại thể thực khuẩn (phage) làm cho chúng sinh ra một loại độc tố cực mạnh. Vi khuẩn được lây truyền qua đường miệng (orally), sau đó chúng xâm nhập vào đường tiêu hóa tôm, tạo ra độc tố gây phá hủy mô và làm rối loạn chức năng của gan tụy, cơ quan tiêu hóa của tôm.

    Vấn đề đặt ra là chúng ta có thể tiêu diệt vi khuẩn bị nhiễm phage làm chúng trở nên mạnh hơn, độc hơn này hay không? Đây cũng là thắc mắc của rất nhiều người khi GS. Lightner công bố nguyên nhân gây hội chứng tôm chết sớm EMS trên tôm là do vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus bị nhiễm phage. Theo tôi chúng ta hoàn toàn có thể tiêu diệt vi khuẩn này bằng các hóa chất diệt khuẩn và thuốc kháng sinh.Tuy nhiên, để khẳng định, loại hóa chất diệt khuẩn nào có tác dụng tốt nhất hay loại kháng sinh nào thì cần phải có những nghiên cứu sâu hơn. Ví dụ như làm kháng sinh đồ hay thử nghiệm sự mẫn cảm của vi khuẩn này với các loại hóa chất diệt khuẩn,... Hiện tại, một phương pháp phát hiện nhanh và sớm vi khuẩn này ở giai đoạn tôm bố mẹ và tôm giống là cần thiết hơn để phòng ngừa bệnh.

    Trong khi chờ đợi kết quả nghiên cứu tiếp theo để có giải pháp thích hợp và triệt để, người nuôi tôm cần phải cải tạo ao nuôi thật kỹ trước khi thả giống và có chế độ chăm sóc tôm thích hợp trong suốt quá trình nuôi như: sên vét bùn đáy ao, sát trùng đáy ao, phơi đáy ao khoảng 1 đến vài tháng trước khi thả vụ mới (nhưng điều này không dễ thực hiện, vì tôm có giá trị cao nên nông dân thường nhanh chóng thả giống bổ sung sớm, thậm chí ngay sau khi tôm chết); diệt khuẩn kỹ lưỡng bằng các hóa chất diệt khuẩn mạnh trước khi thả giống; sử dụng chế phẩm sinh học định kỳ trong suốt quá trình nuôi; chọn giống chất lượng tốt, xét nghiệm loại bỏ các mầm bệnh virus phổ biến, có thể dùng phương pháp sốc formol để loại bỏ con giống yếu; cho tôm ăn thêm các chất dinh dưỡng bổ sung như vitamin, khoáng chất; bổ sung chất kích thích tăng cường hệ miễn dịch như beta-glucan,... Hy vọng chúng ta sẽ sớm có giải pháp toàn diện để phòng ngừa và điều trị bệnh này trong thời gian sớm nhất.

    © Triệu Thanh Tuấn, www.aquanetviet.org
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 7 comments
    • 8 likes
    • 3 days ago
    • Admin
    • Thuy Loan Tran
    • Vu Nguyen Hoang and
    • 5 others
    • Vu Nguyen Hoang [26004,Thuy Loan Tran] : anh thấy công thức công bố của VIVAX chỉ là các thành phần bổ sung hỗ trợ hoạt động gan tụy và tăng cường sức khỏe tôm:

      VIVAX

      THÀNH PHẦN:

      · Vitamin B1, B2, B6, B12

      · Glycine

      · Lysine

      · Tryptophan

      · Sobitol

      · Choline-chloride

      => Việc em cho là VIVAX có tác dụng diệt hay ức chế ký sinh trùng Enterocytozoon hepatopenaei (nếu có trong EMS ?) thì có thật sự thuyết phục hay không ?
      • 1 like
      • Like
      • Reply
      • 1 day ago
    • Thuy Loan Tran Vivax để ức chế ký sinh trùng Microsporidian (Enterocytozoon hepatopenaei) Con này xuất hiện trong 85-95% tôm nhiễm EMS, cảm ơn bạn đã quan tâm và cảm ơn anh Trieu Thanh Tuan :)
      • 0 likes
      • Like
      • Reply
      • 2 days ago
    • Tigôn_lanhlung a T.cho e hỏi xíu, hiện nay có thuốc ViVax dùng để diệt kí sinh trùng trong ao nuôi tôm có hiện tượng mắc hội chứng EMS. a có biết thuốc đó dùng để diệt loại kí sinh trùng nào ko?
      • 2 likes
      • Like
      • Reply
      • 2 days ago
    • 4 more comments
  • Cải thiện sản lượng tôm nuôi ở NICARAGUA
    Sáu hộ nuôi tôm thuộc tổ hợp tác xã ở Estero Real, Chinandega có cách quản lý và chăm sóc tôm nuôi tốt nhất, tăng sản lượng lên đến 175%. Đây là dự án nằm trong chương trình phát triển tôm nuôi của Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID).

    Theo Wendell García, chương trình Empresas y Empleo sẽ được điều phối viên hỗ trợ kỹ thuật, sản lượng tôm của các công ty trong hợp tác xã sẽ tăng lên từ 400 kg tôm/ha lên với mức trung bình 1.100 kg tôm/ha. Ngược lại, xuất khẩu tôm sẽ chỉ tập trung chủ yếu ở châu Âu và Hoa Kỳ.

    "Trong một khoảng thời gian gần ba năm, các doanh nghiệp trong hợp tác xã đã tăng gấp đôi sản lượng nhờ kết hợp nhiều yếu tố, trong đó có việc cải thiện cơ sở hạ tầng, tăng mật độ thả giống và chú trọng hỗ trợ kỹ thuật, tất cả đều được hỗ trợ bởi một phòng thí nghiệm chuyên ngành" García nói.

    Danilo Cruz DePaula - người quản lý của chương trình Empresas y Empleo cho biết phòng thí nghiệm được đầu tư khoảng 30.000USD, sẽ thực hiện các nghiên cứu phân tích về bệnh tôm, báo cáo của El Nuevo Diario.

    USAID trình bày kết quả của chương trình này trong khuôn khổ diễn đàn "Quan hệ đối tác vì sự phát triển của nghề nuôi tôm ở Nicaragua" được tổ chức tại Managua, với sự tham gia của hơn 60 đại diện của các ngành công nghiệp tôm.

    Sáng kiến này bắt đầu phát triển vào tháng 6 năm 2011 với một chương trình hỗ trợ kỹ thuật trị giá 200.000USD, đã giúp nông dân cải thiện phương pháp sản xuất của họ.

    Các nhà sản xuất thu được 4 triệu USD từ công ty y Servicios Contrataciones SA (Serviconsa) để cải thiện cơ sở hạ tầng và điều hành chi phí, và 60 hộ nuôi được hưởng lợi cho việc nuôi tôm trên diện tích 450 ha.

    Theo số liệu được cung cấp bởi Centro de Trámites de las Exportaciones (Cetrex), vào năm 2012 Nicaragua xuất khẩu tôm nuôi ước đạt 106.3 triệu USD.

    Từ 1 tháng 1 đến ngày 09 tháng 5 năm 2013 có đến 3.9 triệu kg tôm nuôi đã xuất khẩu, đạt 20.9 triệu USD so với 3 triệu kg xuất khẩu, ước đạt 17.9 triệu USD trong cùng kỳ năm 2012, kết quả báo cáo của La Prensa.

    Những con số này đã phản ánh xu hướng tiêu thụ giảm một số mặt hàng thực phẩm được ghi nhận trong các thị trường quốc tế.

    Cuối cùng, Luis Lafuente - tổng giám đốc Serviconsa, nhấn mạnh rằng thị trường mục tiêu cho xuất khẩu tôm nuôi được đa dạng hóa. Một số các quốc gia này là Ai Cập, Trung Quốc, Nga và Puerto Rico.

    Nguồn: tepbac.com
    • By Trieu Phu
    • 0 comments
    • 3 likes
    • 3 days ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Truong Huynh Nhu and
    • Ba Tôm
  • Bí quyết thay răng hàng chục lần ở cá sấu
    Cá sâu châu Mỹ có thể thay răng tới 50 lần trong suốt cuộc đời và mỗi lần trong miệng chúng có tới 80 chiếc răng. Giới nghiên cứu hy vọng có thể tìm ra cách tái tạo quá trình mọc răng như vậy ở con người.

    Hầu hết động vật có xương sống đều có thể thay mới răng trong suốt cuộc đời. Tuy nhiên, quá trình thay răng tự nhiên ở loài người chỉ xảy ra 1 lần duy nhất bất chấp sự hiện diện kéo dài của một dải mô gọi là nang lá răng, rất quan trọng cho việc mọc răng.

    Để tìm hiểu về các cơ chế hóa học của quá trình thay mới răng, giáo sư Cheng-Ming Chuong và các cộng sự đến từ Đại học Southern California (Mỹ) đã nghiên cứu về sự hình thành răng lặp đi lặp lại ở cá sấu châu Mỹ.

    Cá sấu châu Mỹ có bộ răng được tổ chức tốt với những đặc điểm tương tự như của động vật có vú, chẳng hạn như vòm miệng thứ sinh và mọc răng từ chân răng. Ngoài ra, chúng còn có khả năng thay răng nhiều lần trong suốt cuộc đời.

    Thống kê cho thấy, một con cá sấu có thể thay răng tới 50 lần và mỗi lần mọc trung bình 80 răng trong miệng. Do đó, tính tổng cộng, loài bò sát khổng lồ này phải mọc tới 2.000 - 3.000 răng trong suốt cuộc đời.

    Thông qua phân tích phân tử và các kỹ thuật quét, nhóm nghiên cứu nhận thấy, mỗi chiếc răng của cá sấu là một đơn vị phức hợp gồm 3 thành phần trong các giai đoạn phát triển khác nhau. Những thành phần này được cấu trúc để hỗ trợ việc thay thế mỗi khi răng bị rụng.

    Theo nghiên cứu đăng tải trên tạp chí Proceedings of the National Academy of Sciences, ban đầu trên nang lá răng của cá sấu hình thành một chỗ phình ra ở đầu, chứa các tế bào gốc. Kết quả phân tích phân tử hé lộ, sự khởi đầu của chu kỳ răng tương ứng với biểu hiện chức năng của một loạt chất hóa học giữ vai trò báo hiệu.

    Giáo sư Chuong tin rằng: "Hiểu rõ cách tương tác của các phân tử báo hiệu này trong quá trình phát triển răng ở cá sấu có thể giúp chúng ta biết được cách kích thích mọc răng trưởng thành ở động vật có vú".

    Nhà nghiên cứu này nhận định, phát hiện của ông và các cộng sự có thể giúp ích cho quá trình chữa trị nha khoa ở những người trưởng thành bị rụng răng hoặc mọc quá nhiều răng.

    Nguồn: Tuấn Anh, vietnamnet.vn
    • By Truong Huynh Nhu
    • 0 comments
    • 4 likes
    • 3 days ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Trieu Phu
    • Ba Tôm and
    • 1 other
  • Gia hóa tôm bố mẹ: Vì sao và cách nào?
    Cũng như nhiều nước khác có nghề nuôi tôm, Việt Nam đang cần nguồn tôm bố mẹ số lượng lớn và đủ yêu cầu chất lượng để sản xuất con giống. Gia hóa tôm bố mẹ phải chăng là một xu hướng tất yếu?

    Vài nét về gia hóa tôm

    Gia hóa (domestication) vật nuôi được hiểu là một quá trình thuần hóa, làm thay đổi mức độ di truyền tính trạng vật nuôi, qua quá trình chọn lọc tạo ra những tính trạng tốt nhất phục vụ con người. Tôm là một trong những đối tượng thủy sản được gia hóa nhằm tăng sản lượng và kháng bệnh tốt hơn. Tôm bố mẹ sạch bệnh (SPF), kháng bệnh (SPR) là sản phẩm của một quá trình gia hóa. Thành công trong việc gia hóa tôm thẻ chân trắng (TTCT) Thái Bình Dương (Pacific white shrimp) tại Mỹ là bước ngoặt của nuôi trồng thủy sản đầu những năm 1990. Sự phát triển dòng TTCT sạch bệnh tại Mỹ dẫn đến việc áp dụng nhanh chóng loại tôm này từ Western Hemisphere đến châu Á. Tôm gia hóa giúp tăng sản lượng và kích hoạt xu hướng giá tôm thấp hơn.

    Ở Thái Lan, việc nhập khẩu TTCT gia hóa sạch bệnh được thực hiện từ năm 2002. Tôm này hầu hết có nguồn gốc Hawaii, tăng trưởng nhanh, kích cỡ lớn đồng đều; đặc biệt, có khả năng thả nuôi mật độ lớn, năng suất 12 - 20 tấn/ha (trong khi tôm sú 6 - 8 tấn/ha). Từ đó Thái Lan dần trở thành nước xuất khẩu tôm lớn nhất. Năm 2003 - 2007, Thái Lan chi 18 triệu USD cho chương trình phát triển gia hóa tôm sú bố mẹ. Hiện, Thái Lan là nhà cung cấp tôm bố mẹ lớn nhất châu Á.

    Dự án gia hóa tôm sú của Ấn Độ được khởi xướng năm 2005 tại quần đảo Andaman và Nicobar, nhằm hỗ trợ ngành nuôi tôm nước này đối phó dịch bệnh virus. Để tạo những đàn tôm bố mẹ tăng trưởng nhanh, kháng bệnh tốt, thích ứng môi trường, Dự án phải qua nhiều công đoạn (sàng lọc từ tự nhiên, kiểm dịch, nhân giống chọn lọc, xây dựng trung tâm giống hạt nhân…) rồi mới sản xuất hàng loạt. Từ thành công này, một số lượng lớn tôm giống chất lượng tốt được đưa đến các bang Andhra Pradesh, Orissa, Guiarat. Dự án cũng thành công trong việc đạt tiêu chuẩn an toàn sinh học cho sản xuất tôm sạch bệnh, thành công kỹ thuật thụ tinh nhân tạo, xây dựng được cơ sở dữ liệu kỹ thuật số, tạo thuận lợi cho phân tích sự đa dạng di truyền, cũng như để tránh giao phối cận huyết. Hiện, Ấn Độ đã phát triển thành công tôm sú sạch bệnh thế hệ 6 và tiếp tục sản xuất thử. Còn đối với TTCT, sau khi được phép nuôi loài tôm này, Ấn Độ đã nghiên cứu và sản xuất thành công TTCT bố mẹ sạch bệnh do Trung tâm Nuôi trồng Thủy sản Rajiv Gandhi (RGCA) ở Tamil Nadu thực hiện. Đến nay, Ấn Độ gần như đã chủ động được nguồn tôm giống chất lượng cao và đẩy mạnh nuôi và xuất khẩu loài tôm này.

    Gia hóa tôm tại Việt Nam

    Mỗi năm, nước ta phải nhập khẩu hàng vạn cặp tôm bố mẹ, giá mỗi cặp 20 - 60 USD, chất lượng gần như không kiểm tra được. Theo Tổng cục Thủy sản, chỉ từ tháng 12/2012 đến 13/3/2013, các doanh nghiệp đã nhập về 204.840 con TTCT bố mẹ. Nhập từ nhiều nguồn (Mỹ, Indonesia, Thái Lan, Ecuador…), với nhiều mục đích (sản xuất tôm giống, nuôi thử nghiệm, nuôi tôm giống...). Điều này cho thấy nhu cầu tôm bố mẹ của Việt Nam là rất lớn.

    Ông Nguyễn Phước Hà, Giám đốc Công ty TNHH Đầu tư Đông Bắc, một doanh nghiệp nuôi tôm thương phẩm nói: Nếu Việt Nam gia hóa được tôm bố mẹ thì quá tốt. Tuy nhiên, theo ông, việc này không đơn giản, vì ngoài kinh phí còn đòi hỏi nhân lực chuyên nghiệp, cơ sở vật chất đảm bảo; nhất là phải có những chương trình nghiên cứu nghiêm túc, để kiểm tra, kiểm soát chất lượng.

    Ông Trình Trung Phi, Giám đốc Trung tâm Quốc gia Giống hải sản Nam bộ (Viện Nghiên cứu NTTS 2) cho biết: Trong gia hóa tôm, tùy vào từng đối tượng mà mức độ khó khăn khác nhau. Sản xuất tôm bố mẹ nhân tạo một số loài tôm kinh tế trong điều kiện nuôi nhốt đã được tiến hành từ những năm giữa thập niên 70 của thế kỷ trước. Những nghiên cứu này đã mang lại thành công trong việc khép kín vòng đời hai loài tôm thẻ, gồm TTCT (Liptopenaeus vannamei) và tôm thẻ thân xanh (Liptopenaeus stylirostris) trong thập niên 80. Đến nay, tôm bố mẹ và tôm giống nhân tạo dòng TTCT sạch bệnh và kháng bệnh đã được thương mại hóa rộng rãi và xóa bỏ hoàn toàn việc sử dụng tôm bố mẹ tự nhiên. Khác với tôm thẻ, do những hạn chế về mặt sinh học nên quá trình nghiên cứu gia hoá, khép kín vòng đời tôm sú dù đã thành công từ lâu nhưng chất lượng tôm bố mẹ không ổn định, hiệu quả sinh sản thấp nên vẫn chưa thương mại hóa được nguồn tôm bố mẹ nhân tạo. Đến thời điểm hiện nay chỉ có một vài nơi trên thế giới được ghi nhận thành công đối với loài này như Công ty Moana (Bỉ), CSIRO (Úc) và Việt Nam. Tuy nhiên, để có thể thương mại hóa thì đòi hỏi chúng ta phải có một chương trình chọn giống nghiêm túc và liên tục qua nhiều thế hệ.

    Về vấn đề hợp tác gia hóa tôm bố mẹ giữa doanh nghiệp trong nước và đối tác nước ngoài, ông Nguyễn Công Cẩn, Phó Giám đốc Kỹ thuật Công ty TNHH Việt - Úc cho biết: SCIRO đã thành công trong việc gia hóa tôm sú, có đội ngũ khoa học chuyên môn cao, trang thiết bị hiện đại, Công ty Việt - Úc có kinh nghiệm sản xuất TTCT nên khi hợp tác công việc tiến triển rất tốt.

    Chất lượng là then chốt

    Hiện, hầu hết các công ty trên thế giới đều chọn lọc theo hướng tăng trưởng, chưa chú trọng hướng kháng bệnh, khiến chất lượng tôm giống chưa đảm bảo, tôm càng lớn càng dễ mắc bệnh. Theo ông Phi, cần phát triển hài hòa hai vấn đề này.

    Về chất lượng tôm gia hóa, TS Trương Trọng Nghĩa, Viện Nghiên cứu NTTS 1 (Viện 1) cho biết: Viện 1 đã hợp tác với Công ty Moana Ninh Thuận (MNT) gia hóa tôm sú bố mẹ sạch bệnh ở mức sản xuất thương mại tại Trung tâm (ở Ninh Thuận) thực nghiệm sản xuất tôm sú bố mẹ sạch bệnh. Tôm sú bố mẹ được bắt từ nhiều vùng biển trên thế giới, với số lượng đủ để tránh hiện tượng giao phối cận huyết và bảo đảm tính đa dạng di truyền. Đàn tôm này được mang về trại thí nghiệm ở Hawaii để nuôi cách ly và xét nghiệm bệnh. Nếu tôm không có mầm bệnh thì được tiến hành cho lai tạo ra các dòng (gia đình) sạch bệnh, tăng trưởng nhanh. Những dòng này sẽ được kiểm tra lại và bằng cách nuôi đến cỡ thành thục tại bể trong nhà kính ở Hawaii và ao ngoài trời tại một số nước có nuôi tôm sú. Kết quả tôm nuôi bể và ao sẽ được đối chiếu nhau, dòng nào có đặc điểm bền vững về sạch bệnh và tăng trưởng nhanh sẽ được giữ lại để sản xuất tôm bố mẹ. Mỗi dòng đều có mã số phả hệ để truy xuất nguồn gốc khi cần.

    Viện Nghiên cứu NTTS 2 đã nhập rất nhiều nguồn tôm bố mẹ tự nhiên từ các vùng sinh thái khác nhau trên hai vùng biển Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Sau quá trình sàng lọc sẽ bắt đầu chương trình lai tổ hợp để tạo ra tối thiểu 125 gia đình và tiến hành đánh giá các gia đình này để chọn ra các nguồn vật liệu ban đầu cho chọn giống (chủ yếu theo phương pháp chọn giống di truyền số lượng). Ngoài ra, Viện cũng sử dụng một số công cụ sinh học phân tử để đánh giá tính đa dạng của nguồn vật liệu cũng như khả năng cận huyết để làm cơ sở cho quá trình chọn giống. Với phương pháp hiện nay, sau khi nuôi riêng rẽ các gia đình đến kích cỡ 2 gram/con, đánh dấu theo từng gia đình sau đó thả nuôi trong các điều kiện khác nhau (trong nhà và ngoài ao nuôi) để đánh giá các gia đình và sau đó tiến hành chọn lọc các gia đình tốt đưa vào sản xuất thương mại. Tuy nhiên, các dòng thương mại này sẽ bị khóa di truyền để không thể thành quần đàn tôm bố mẹ trong các thế hệ tiếp theo nhằm hạn chế các tổn thất cho người nuôi khi đưa các đàn tôm giống cận huyết hay không có tốc độ tăng trưởng cao vào sử dụng, ông Phi cho biết thêm.

    Ngoài ra, một số phương pháp chọn giống hiện đại có thể sử dụng các công cụ phân tử để đánh giá các gia đình tôm có các đoạn gen tốt cho tính trạng mong muốn trong một gian rất ngắn mà không qua quá trình đánh giá thực nghiệm. Tuy nhiên, đây là hướng đi còn rất mới mẻ so với Việt Nam và một số nước trong khu vực và đòi hỏi chúng ta phải có nguồn nhân lực tốt cũng như trang thiết bị hiện đại.

    Cũng theo ông Nghĩa, việc chủ động sản xuất tôm sú giống (hậu ấu trùng) qui mô lớn từ tôm bố mẹ gia hóa, sạch bệnh và tăng trưởng nhanh là một nhân tố nhằm ổn định nghề nuôi tôm. Vấn đề này đã được Tổng cục Thủy sản chỉ đạo về chính sách, qui chế phối hợp nghiên cứu thực nghiệm và sản xuất giữa Viện Nghiên cứu NTTS 1, Công ty MNT và chính quyền địa phương. Trung tâm cũng hợp tác với một số công ty lớn có trại sản xuất tôm sú giống theo quy trình an toàn sinh học, bằng cách cung cấp tôm bố mẹ sạch bệnh, để sản xuất hậu ấu trùng cho ao nuôi thịt, kết quả bước đầu khả quan. Để ổn định chất lượng tôm bố mẹ và tôm giống sạch bệnh, cần sự tuân thủ quy trình an toàn sinh học của các cơ sở sản xuất và sự kiểm tra chặt chẽ của các cấp quản lý.

    Về lâu dài, cần phải xây dựng quy chuẩn đánh giá chất lượng tôm gia hóa (sức sinh sản, tỷ lệ thành thục…). Sau đó đem tôm giống từ tôm bố mẹ gia hóa đi nuôi và đánh giá, khi có quy chuẩn rồi, cần có những đơn vị khảo nghiệm, kiểm nghiệm, chứng nhận, ông Phi cho biết thêm.

    >> Ông Phạm Anh Tuấn, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản cho biết: “Tổng cục được Bộ NN&PTNT giao xây dựng chương trình phát triển tôm bố mẹ tôm chân trắng, khuyến khích các doanh nghiệp giống thủy sản hợp tác triển khai. Doanh nghiệp phát triển tôm bố mẹ, Tổng cục sẽ hỗ trợ pháp lý, giám sát, kiểm tra từ đầu, để khi có kết quả tốt thì được cơ quan có thẩm quyền công nhận ngay”.

    Quốc Minh
    • By Trieu Phu
    • 0 comments
    • 3 likes
    • 3 days ago
    • Trieu Thanh Tuan
    • Truong Huynh Nhu and
    • Ba Tôm
  • Khảo sát ảnh hưởng của hormone dopamine lên chuyển giới tính tôm càng xanh (Macr...
    Việc tạo tôm càng xanh cái giả có kiểu nhiễm sắc thể ZZ để sản xuất tôm giống toàn đực với các kỹ thuật đơn giản, chi phí thấp cung cấp cho các trại sản xuất là rất có ý nghĩa về mặt kinh tế. Sự biệt hóa giới tính trên tôm càng xanh là do hormone tuyến sinh dục đực điều khiển. Dopamine hydrochloride có tác dụng ức chế sự phát triển tuyến đực do tăng tiết GIH (Gonal-Inhibiting Hormone) và giảm tiết GSH (Gonal-Stimulating Hormone).

    Nghiên cứu “Khảo sát ảnh hưởng của hormone Dopamine hydrochloride lên chuyển giới tôm càng xanh Macrobrachium rosenbergii” với các nồng độ 22,5; 30 và 45ppm. Ấu trùng tôm càng xanh ăn artemia đã được bổ sung dopamine hydrochloride với các nồng độ trên và khi chuyển postlarvae sẽ ăn thức ăn có bổ sung dopamine hydrochloride theo các giai đoạn phát triển giới tính của tôm càng xanh.

    Kết quả đạt được ban đầu cho thấy, nồng độ 22,5 ppm của hormone Dopamine hydrochloride bổ sung trong thức ăn từ giai đoạn ấu trùng của tôm càng xanh có tỉ lệ tôm cái cao nhất.

    Nguồn: Nguyễn Đức Minh, Bùi Liên Hà, Lê Chính, Trần Thanh Võ. 2012. Khảo sát ảnh hưởng của hormone dopamine lên chuyển giới tính tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii). Phòng Sinh học Thực nghiệm - Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản II.
    • By Trieu Thanh Tuan
    • 0 comments
    • 2 likes
    • 4 days ago
    • Trieu Phu and
    • Ba Tôm
© Vietnam Aquaculture Network Privacy & Terms Facebook Twitter About Contact
  • Facebook
    Like us on Facebook!
  • Twitter
    Follow us on Twitter!
This text will display in the Announcement Box.
×