• Quốc Việt - công ty tôm đầu tiên của châu Á đạt chứng nhận ASC
    Quốc Việt trở thành công ty tôm đầu tiên tại châu Á và thứ 2 trên thế giới được Hội đồng Quản lý Nuôi trồng thủy sản (ASC) chứng nhận.

    Thành lập từ năm 1996, năm 2013, Quốc Việt sản xuất 15.000 tấn tôm. Công ty đặt mục tiêu sản xuất 20.000 tấn trong năm 2014 và năm 2015 đạt 25.000 tấn. Việc mở rộng quy mô sản xuất đi cùng với mở rộng quy mô nhà máy.

    Sản phẩm tôm của Quốc Việt được XK sang Mỹ, Nhật Bản, EU, Úc, Canada, Hàn Quốc và các thị trường khác. Công ty đang hợp tác với WWF Việt Nam để hỗ trợ các trại nuôi tôm quy mô nhỏ nhằm đạt được chứng nhận ASC.

    “Chúng tôi hiểu tầm quan trọng của hệ thống nuôi có trách nhiệm với tác động tối thiểu đến môi trường và xã hội. Với chứng nhận ASC, chúng tôi sẽ có thể chứng minh cho khách hàng của mình thấy trại nuôi của chúng tôi được quản lý một cách có trách nhiệm. Chứng nhận ASC mang lại những cơ hội mới.”- theo ông Ngô Quốc Tuấn, phó chủ tịch Quốc Việt.

    Chúc mừng thành công của Quốc Việt, Chris Ninnes, giám đốc điều hành ASC cho biết: ”Việc có được công ty đầu tiên của châu Á đạt chứng nhận ASC là một bước tiến. Việt Nam là nước XK tôm lớn thứ 3 trên thế giới, với khoảng 90% lượng tôm sản xuất để xuất khẩu."

    Bộ tiêu chuẩn ASC dựa trên 4 nền tảng chính là môi trường, xã hội, an sinh động vật và an toàn thực phẩm. Chứng nhận theo tiêu chuẩn ASC là sự xác nhận cấp quốc tế đối với tôm Quốc Việt được nuôi có trách nhiệm, giảm thiểu tối đa tác động xấu lên môi trường, hệ sinh thái, cộng đồng dân cư và đảm bảo tốt các quy định về lao động.

    Sản phẩm tôm của vùng nuôi theo tiêu chuẩn ASC ngoài làm tăng giá bán còn giúp sản phẩm tôm Quốc Việt vượt qua các hàng rào kỹ thuật và dễ dàng thâm nhập vào các thị trường lớn như châu Âu, Mỹ, Nhật Bản.... Công ty hiện đã bắt đầu bán sản phẩm tôm đạt chứng nhận ASC trong đó có nhiều sản phẩm giá trị gia tăng như tôm tẩm bột, Nobashi.... sang các thị trường như Châu Âu, Mỹ, Nhật Bản, Úc.... và tiến tới sẽ mở rộng sang nhiều thị trường khác.

    Quốc Việt hiện có 2 nhà máy chế biến tôm. Một nhà máy mới xây và đi vào hoạt động trong năm nay chuyên sản xuất sản phẩm tôm giá trị gia tăng. Một nhà máy vừa được nâng cấp với tổng vốn đầu tư trên 7 triệu USD. Tổng công suất chế biến tôm của 2 nhà máy lên tới 30.000 tấn tôm thành phẩm/năm với công nghệ hiện đại, hệ thống quản lý chất lượng đáp ứng các tiêu chuẩn nghiêm ngặt và khắt khe nhất của thị trường quốc tế.

    Trong 9 tháng đầu năm nay, kim ngạch XK tôm của Quốc Việt đạt 150 triệu USD, ước tính cả năm 2014 kim ngạch đạt 200 triệu USD.

    Source: Ngọc Thủy, VASEP
  • Giá bột cá Peru tiếp tục tăng cao: Trung Quốc tìm kiếm giải pháp thay thế
    Người mua bột cá tại Trung Quốc ​​sẽ tích cực tìm kiếm nguồn thay thế khi giá bột cá ở Peru và Thượng Hải đang tăng nhanh do lo ngại về nguồn cung giảm. Viện nghiên cứu hàng hải Pêru (Imarpe) thông báo rằng có thể sẽ không đánh bắt cá cơm (anchovy) trong vụ 2/2014, ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu từ Trung Quốc.

    Mặc dù khảo sát trữ lượng cá sẽ được thực hiện nhưng sản lượng khai thác sẽ không khả quan.

    Một trong 7 nhà XK công nghiệp của Peru cho biết, họ đã bán bột cá loại phẩm cấp cao nhất với giá 2.100 USD/ tấn (giao tại tàu). Từ ngày 07/10, giá tăng nhanh từ 1.900 USD/tấn lên 2.050 USD/ tấn vào ngày 13/10.

    Tại Thượng Hải, giá bột cá loại phẩm cấp cao nhất giao tại tàu tăng vọt lên mức 2.280 USD/tấn vào ngày 13/10, từ mức 1.889 – 1.954 USD ngày 26/9.

    Một số nhà sản xuất cho biết, họ có thể xem xét mức giá 2.000 USD/tấn loại phẩm cấp cao nhất, giao tại tàu nhưng điều này chưa được thực hiện.

    Trong khi nhu cầu tăng, người bán lại chờ giá cao hơn nữa hay ít nhất cũng phải xem nguồn cung như thế nào.

    Theo báo giá của một công ty khác, giá tăng rất nhanh, vào ngày 13/10, giá là 1.950 USD/tấn giao tại tàu Peru. Dự kiến giácòn tăng hơn nữa. Năm 2012, hạn ngạch còn 800.000 tấn, giá đã lên đến hơn 2.200 USD/ tấn. Nhà XK này không xác nhận có giao dịch nào được thực hiện với giá 2.100 USD/tấn hay chưa.

    Ở Trung Quốc, lượng đánh bắt thấp nên sản xuất bột cá địa phương cũng sẽ thấp hơn dự kiến. Tại các cảng của Trung Quốc, hiện có khoảng 120.000 tấn- đây là mức thấp so với mức trung bình 180.000- 190.000 tấn.

    Nguồn ở Peru hạn chế, nguồn trong nước không đủ nên chắc chắn khách hàng Trung Quốc phải tìm kiếm các nguồn thay thế. Họ đang chuyển sang Đan Mạch. Iceland thiếu giấy phép XK sang Trung Quốc, trong khi Na Uy đã không thể bán nhiều cho Trung Quốc từ năm 2010, trong khi đó, nơi sản xuất bột cá duy nhất trên quần đảo Faroesản xuất chủ yếu cho Bakkafrost.

    Năm ngoái, Trung Quốc NK 18.000 tấn bột cá từ Đan Mạch, quá nhỏ so với mức 853.000 tấn từ Peru.

    Giá dầu thực vật hiện đang ở mức thấp. Tùy thuộc vào mức giá sản phẩm thay thế, người ta sẽ quyết định sử dụng cá làm bột cá hay sản xuất thức ăn cho người. Tuy nhiên, các loại bột cá có phẩm cấp của Peru rất khó có sản phẩm thay thế.

    Không phải thị trường nào cũng có thể trả mức giá cao, nhưng nhu cầu thức ăn trong nuôi trồng đủ cao để các nhà cung cấp bột cá Peru không bị lỗ.

    Vì giá tăng cao, Imarpe buộc phải lập bản đồ cách để đánh giá lại trữ lượng.

    Theo đánh giá ban đầu, Imarpe cảnh báo rằng ước tính trữ lượng chỉ có 1,45 triệu tấn, giảm mạnh so với mức bình thường là 10- 12 triệu tấn.

    Theo kế hoạch, Imarpe sẽ tiếp tục khảo sát vào tháng 10 hoặc đầu tháng 11/2014.

    Tuy nhiên, có những lo ngại cho rằng sóng Kelvin có thể ảnh hưởng đến kết quả của cuộc khảo sát.

    Hiệp hội Thủy sản Quốc gia (SNP) đang đề xuất để thực hiện một thử nghiệm với 30-40 thuyền, để đánh giá trữ lượng. Mục tiêu quan trọng là phải biết được nguồn cá cơm (anchovy) và trữ lượng phát triển thế nào. Chương trình thử nghiệm sẽ diễn ra giữa tháng 11, khi sóng Kelvin không ảnh hưởng nữa.

    Imarpe cũng đang xem xét cho phép đánh bắt cá ở phía nam. Tuy nhiên, nếu kết quả của Imarpe hay SNP có khả quan thì TAC vẫn sẽ thấp.

    Mùa thứ 2/2014 sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu cho tháng 1-2/2015. Vấn đề là ai sẽ cung cấp bột cá cho Trung Quốc đầu năm 2015.

    Source: Thu Trang, VASEP
    (Theo Undercurrent News)
  • Tàu thủy dân sự lớn nhất thế giới
    Con tàu mang tên Pieter Schelte được xem là con tàu dân sự lớn nhất thế giới. Nó có thể nhấc một giàn khoan dầu ra khỏi mặt nước rồi di chuyển đến địa điểm mới.

    Tàu Pieter Schelte rộng 127 m, dài 382 m, chiều dài xấp xỉ chiều cao của tòa tháp nổi tiếng Empire State.

    Con tàu khổng lồ này do hai hãng tàu Hàn Quốc là Daewoo Shipbuilding và Marine Engineering shipyard thiết kế, đóng mới. Trị giá con tàu đến 1,7 tỉ USD.

    Theo tạp chí Gizmodo, Pieter Schelte được trang bị động cơ 11,2 MW kết nối với 13 động cơ nâng  5,5 megawatt của Rolls Royce. Vận tốc của tàu Pieter Schelte đạt 26km/giờ. Thủy thủ đoàn tối đa là 571 người.

    Pieter Schelte dư sức nhấc phần trên của giàn khoan dầu nặng 48.000 tấn cùng phần chân đế 25.000 tấn rồi chuyển đi nơi khác hoặc đưa về cảng bảo hành.

    Daily Mail cho biết tàu Pieter Schelte sẽ do công ty Allseas của Thụy Sĩ điều hành và dự kiến bắt đầu hoạt động từ năm 2015.

    Tuy nhiên, cũng theo Daily Mail, kỷ lục mà tàu Pieter Schelte đang nắm giữ sẽ không tồn tại lâu, vì người ta đã lên kế hoạch đóng một con tàu khác to, mạnh hơn, vào năm 2020.

    Source: Tạ Xuân Quan, Báo Thanh Niên Online
  • Bể cá cảnh tự làm sạch
    Ngôi nhà sẽ đẹp hơn khi được trang trí bằng một bể cá cảnh. Tuy nhiên, điều phiền phức và mất thời gian là định kỳ phải làm vệ sinh cho bể cá, nếu không nước sẽ đục vì chất thải của cá.

    Để giải quyết vấn đề này, sinh viên Suzy Shelley (Đại học Loughborough, Anh) đã nghiên cứu chế tạo ra chiếc bể cá được trang bị hệ thống tự làm sạch nước, vì vậy không cần phải thay nước và cũng có thể bỏ qua việc làm vệ sinh. Bể cá hình cầu này - được Suzy Shelley đặt tên là Avo - có dung tích 15 lít, trong đó nuôi cá, thực vật thủy sinh và vi khuẩn để hình thành một hệ sinh thái cân bằng.

    avo-and-suzy-shelley.jpg
    Suzy Shelley và bể cá Avo - Ảnh: Noux

    Báo Daily Mail dẫn lời hãng Noux cho biết một trong số các bí quyết của bể cá Avo là vi khuẩn khi về già sẽ bị thực vật thủy sinh thu thập làm thức ăn, mở đường cho việc phát triển của lớp vi khuẩn mới. Bên cạnh đó máy hút sẽ rút sạch các chất độc hại mà cá thải ra như ammonia, nitrite và nitrate nên bể cá luôn sạch, không cần phải thay nước.

    Bể cá Avo được trang bị đèn LED thông minh giúp thực vật thủy sinh tối ưu hóa quá trình quang hợp. Ánh sáng cho Avo là màu đỏ nhạt vào buổi sáng, màu trắng trong ngày và màu xanh vào buổi tối. Bên cạnh đó Avo còn được duy trì ở mức 27 độ C phù hợp với các loài cá cảnh nhiệt đới.

    Daily Mail cho biết Shelley đã lên trang mạng Kickstarter vận động tài trợ để sản xuất Avo, chỉ qua 52 ngày đã thu được 72.669 USD. Dự kiến Avo sẽ ra thị trường với giá 242 USD.

    Source: Tạ Xuân Quan, Báo Thanh Niên Online
  • Cá ngừ đại dương chờ... nước sạch
    Cá ngừ đại dương Việt Nam bị trả lại sau khi xuất khẩu do bị nhiễm vi sinh. Thế nhưng, đến thời điểm này, chuyện đảm bảo vệ sinh an toàn cho loại hải sản này vẫn còn bị xem nhẹ! Điều này còn đáng lo ngại hơn khi chúng ta đang đẩy mạnh xuất khẩu loại hải sản này vào những thị trường khó tính.

    Rã đông cá bằng nước bẩn

    Tại cảng cá Hòn Rớ, xã Phước Đồng (TP Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa) vào lúc cao điểm có hàng chục tàu đánh bắt cá ngừ đại dương cập cảng để bán cá. Tuy nhiên, ở đây lại chưa có một hệ thống nước sạch đúng nghĩa để rã đông cá trước khi được đưa ra khỏi hầm lạnh. Theo cách truyền thống bấy lâu nay, cá ngừ được đánh bắt, sau đó sẽ cấp đông bằng đá lạnh, khi về cảng, cá được rã đông để đưa lên bờ. Muốn rã đông cá, không có cách nào hiệu quả hơn là dùng nước để làm tan băng đá. Thế nhưng, với hàng tấn cá mỗi tàu khi cập cảng, lượng nước phải sử dụng để rã đông rất lớn. Trong khi đó, nước dùng rã đông cá ngừ đại dương phải là nước mặn, nước lợ đã qua thanh lọc, gọi là nước sạch. Nhưng nghịch lý, tại cảng cá Hòn Rớ - nơi có chợ cá lớn nhất Nam Trung bộ, cũng là nơi có nhiều tàu cá khai thác cá ngừ đại dương đổ về đây bán cá lớn nhất miền Trung, lại không có hệ thống chuyên dụng phục vụ rã đông cá ngừ đại dương.

    Trước bức thiết của nhu cầu nước rã đông, ban quản lý cảng cá Hòn Rớ đã kiến nghị đầu tư hệ thống nước sạch trong thời gian tới. Hiện cảng Hòn Rớ đã được đầu tư 41 tỷ đồng để nâng cấp, trong đó có xây dựng hệ thống nước chuyên dùng cho rã đông cá ngừ đại dương. Tuy nhiên, việc đáp ứng bao nhiêu phần trăm nhu cầu nước rã đông còn chưa được tính toán, đánh giá kỹ.

    Chợ hải sản Nam Trung bộ nằm trong khuôn viên cảng cá Hòn Rớ hiện có khoảng 15 chủ vựa đăng ký thu mua cá ngừ đại dương xuất khẩu, trong đó có khá nhiều vựa chuyên thu mua để xuất sang Mỹ, Canada và một số nước châu Âu. Vào những ngày cao điểm, hàng loạt tàu cá cập cảng, nên việc chế biến hải sản ngay tại chợ cá gây ô nhiễm khá nghiêm trọng. Theo quan sát của chúng tôi, trong quá trình sơ chế các loại hải sản ở đây, đặc biệt là sơ chế các loại cá mập, cá nhám… thì một lượng lớn nước thải từ chợ cá chảy trực tiếp xuống chân cầu cảng, khiến nước biển ở đây đen ngòm, bốc mùi thối nồng nặc. Khi các tàu câu cá ngừ đại dương cập cảng, ngư dân múc nước tại chân cầu cảng này để rã đông cá. Như vậy, việc cá bị nhiễm các loại vi sinh là điều rất dễ xảy ra. Bà Nguyễn Thị Thu Thanh, Giám đốc Công ty Hải sản Bền Vững (Nha Trang) cho biết: “Chuyện xuất khẩu cá ngừ bị trả lại hàng là điều mà nhiều doanh nghiệp từng gặp phải. Như doanh nghiệp tôi, cách đây 2 năm, lô hàng 20 tấn cá ngừ bị Cơ quan Quản lý chất lượng thực phẩm Mỹ (FDA) phát hiện nhiễm vi sinh Salmonella. Không những bị trả hàng về, gây thiệt hại nặng nề, công ty còn bị FDA liệt vào sách đỏ, yêu cầu kiểm tra gắt gao, lại không được ứng trước 50% giá trị lô hàng cho các lần xuất khẩu sau, dù cá không nhiễm khuẩn”.

    Chưa được quan tâm đúng mức

    Đánh bắt và xuất khẩu cá ngừ đại dương là một mắt xích quan trọng trong chiến lược của ngành thủy sản cũng như chủ trương tiến ra biển, làm giàu từ biển. Thế nhưng, việc quan tâm đến chất lượng mặt hàng này còn yếu, làm ảnh hưởng đến thương hiệu chung.

    Theo thống kê, quý 2-2014, xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam đạt 129,7 triệu USD, giảm hơn 7% so với quý 2-2013. Nguyên nhân sụt giảm này, một phần là vì thị trường xuất khẩu bị thu hẹp so với cùng kỳ năm trước, chỉ còn 91 nước trong khi năm ngoái là 95. Phần lớn số lượng cá sau thu hoạch không đủ tiêu chuẩn xuất khẩu dưới dạng sản phẩm tươi có giá trị cao.

    Xuất khẩu cá ngừ đã có từ hàng chục năm qua, nhưng đến nay chúng ta vẫn loay hoay tìm phương án bảo đảm chất lượng cá sau thu hoạch. Khi chất lượng cá chưa tìm được đáp số hoàn hảo, thì cá ngừ đại dương lại đứng trước nguy cơ nhiễm vi sinh chỉ vì lý do thiếu nước sạch. Vì thế, hơn bao giờ hết, việc có những hệ thống nước chuyên dùng để rã đông cá là cấp thiết.

    Source: Văn Ngọc, Báo Sài Gòn Giải Phóng
  • Có tiêu chuẩn chung cho tôm thế giới sẽ giảm chi phí 10%
    Chủ tịch Minh Phu Seafood Corp đã có bài trình bày thu hút sự quan tâm đặc biệt của nhiều khán giả tại GOAL 2014 diễn ra tại thành phố Hồ Chí Minh đầu tháng 10/2014.

    Theo ông Quang, người điều hành công ty thủy sản và XK tôm lớn nhất của Việt Nam, nếu có một tiêu chuẩn chung cho tất cả các nhà sản xuất tôm chi phí sẽ giảm từ 5-10%.

    "Nếu chúng ta không có tất cả các tiêu chuẩn này, các nhà sản xuất có thể cắt giảm chi phí và chúng tôi có thể có tôm rẻ hơn cho người tiêu dùng", ông nói.

    Tất cả các tiêu chuẩn tập trung vào các lĩnh vực khác nhau, từ an toàn thực phẩm tới đạo đức trong sản xuất, trong khi đó nó sẽ có ý nghĩa hơn khi có chung một tiêu chuẩn bao gồm toàn bộ tiêu chí này.

    Công ty sử dụng "50% thời gian của mình" trong việc đáp ứng các tiêu chuẩn như vậy. Ông mong muốn có một tiêu chuẩn bao gồm các trại giống, trại nuôi, chất lượng tôm; điều kiện sản xuất; và phúc lợi của con người.

    "Chúng tôi có các nhà bán lẻ Nhật Bản đã có tiêu chuẩn riêng của họ, chúng tôi có Costco, Whole Foods và nhiều khách hàng khác cũng có những tiêu chuẩn riêng của họ. Sau đó, chúng tôi có ASC [Hội đồng Quản lý Nuôi trồng thủy sản], Global Gap, và BAP [Thực hành nuôi trồng thủy sản tốt nhất]. Chi phí cho các tiêu chuẩn này là quá lớn”, ông Quang nói.

    Ông cho biết chi phí không chỉ là tài chính, mà còn về quản lý thời gian trong việc đối phó với kiểm toán viên từ các cơ quan khác nhau. Khi được hỏi liệu các tiêu chuẩn VietGap có thể giải quyết được điều này, ông cho biết đã hoài nghi. "Đây mới chỉ là tiêu chuẩn cho người nuôi Việt Nam, chưa có giá trị với khác hàng nước ngoài".

    Source: Nguyễn Bích, VASEP
    (Theo undercurrentnews)
  • AQ1: Hệ thống cho tôm ăn bằng "âm thanh" đối với ao thâm canh và bán t...
    Hội thảo Nuôi trồng thủy sản lần thứ X tại Trung Mỹ diễn ra từ ngày 27 – 29 tháng 8 năm 2014 ở Tegucigalpa, Honduras, Shrimp News có cuộc phỏng vấn Régis Bador - người sáng lập đồng quản lý Innov'Aquaculture, một công ty ở New Caledonia chuyên tìm kiếm, chứng nhận và cải tiến sản phẩm phù hợp cho người nuôi tôm.

    Trước khi bắt đầu Innov'Aquaculture, Bador  - người làm việc gần ba mươi năm với vai trò như nhà tư vấn quản lý sản xuất giống nông nghiệp, quản lý trang trại và tư vấn nuôi tôm. Trong khoảng thời gian công tác, ông có nhiều cơ hội để thử nghiệm và sử dụng nhiều sản phẩm và công nghệ. Hiện tại ông đại diện cho các công ty chuyên phát minh và sản xuất những sản phẩm dành cho người nuôi tôm. Đích than ông hiểu tường tận từng nhà cung cấp và cũng được thử nghiệm hoặc sử dụng các sản phẩm mà ông đang tiếp thị. Ông chủ động liên hệ với tất cả các nhà cung cấp và có thể giới thiệu sản phẩm phù hợp nhất theo nhu cầu khách hàng của mình. Không phải lúc nào người nuôi tôm cũng có thời gian để tìm hiểu ra những sản phẩm tốt và họ không biết làm thế nào để đánh giá khi mà họ chưa nhìn thấy chúng. Bador nói, "Tôi làm điều đó cho họ!".

    15606535372_f54ac36be7_o.jpg

    Shrimp News: Trong quá khứ, chúng tôi đã nói rất nhiều về "top" sản phẩm của công ty, AQ1 -  thiết bị cho tôm ăn dựa trên việc giám sát bằng âm thanh và sử dụng âm thanh để kiểm soát, tối ưu hóa qua việc cho ăn tự động. Ông đã thực hiện bất kỳ thay đổi trong hệ thống đó?

    Régis Bador: Vâng, trong hai năm qua, chúng tôi đã điều chỉnh hệ thống để có thể làm việc nhiều hơn, bán thâm canh, ao tôm, đó là một cải tiến thú vị bởi vì trong quá khứ, hầu hết công việc mà AQ1 đã được thực hiện ở châu Á và Australia trên những ao nhỏ và thâm canh. Chúng tôi đã phát hiện ra rằng nếu chúng ta thêm cảm biến (hydrophone)  và cho ăn tự động chỉ tiêu tốn bằng 5% của một ao lớn như bán thâm canh, chúng tôi có được kết quả thuận lợi vì có hệ thống trong các ao sâu nhỏ. Sau khi sử dụng công nghệ AQ1 tại một trang trại bán thâm canh ở New Caledonia trong vòng hai năm, báo cáo từ người nuôi đầu tiên vào AQ1 cho biết, thiết bị có những màn trình diễn tốt nhất kể từ đầu năm trang trại của ông. Những con tôm học được cách ăn nhanh chóng  đến khu vực ăn khi chúng đói. Trong lần thử nghiệm đầu tiên của mình, ông đưa 8 hệ thống đến một ao với diện tích 7 ha, gồm có 2.5 triệu tôm xanh (Penaeus stylirostris). Tốc độ tăng trưởng tốt hơn 30% so với việc cho ăn bằng tay từ 2 – 4 lần/ngày, nhưng tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (FCR) đã không cải thiện. Trong thử nghiệm lần thứ hai của mình, cùng với tự động thăm dò hàm lượng DO từ AQ1, ông quan sát và thấy rằng nếu nồng độ ôxy ở ngưỡng tối ưu, tôm có khả năng ăn hầu như mọi thời điểm - ngày hay đêm, mặc dù điều đó không diễn ra mỗi ngày. Tất cả thử nghiệm của chúng tôi đã được thực hiện trong những ao thương mại.

    Giờ đây, AQ1 đi kèm với một đầu dò oxy và ghi lại nhiệt độ nước và mưa rơi. Nếu nồng độ oxy giảm, bạn có thể thiết lập AQ1 ngừng cho tôm ăn đến khi nồng độ oxy trở lại với một mức độ mà người nuôi thiết lập ở phần mềm.

    Tuy nhiên, đây sẽ là tín hiệu không tốt khi nuôi tôm theo lịch trình được thiết lập sẵn vì không phải lúc nào tôm cũng sẵn sàng ăn. Đôi khi, tôm cần ăn vào buổi sáng; thỉnh thoảng lại vào lúc vào 11 giờ trưa. Chỉ sau một ngày mô hình này có thể thay đổi. Có rất nhiều yếu tố như nhiệt độ, oxy, lượng mưa và độ pH, cùng với các yếu tố biến động khác chưa biết đến ảnh hưởng việc nuôi tôm, nhưng những biến động không quan trọng khi bạn sử dụng hệ thống AQ1, bởi vì AQ1 cắt giảm thức ăn khoảng 30 phút, chỉ đợi tôm cần ăn. Hệ thống sẽ phun 100 gram thức ăn nhằm đánh giá mức độ thèm ăn của tôm, sau đó thêm 100 gram để đảm bảo chúng được cho ăn. Nếu tôm sẵn sàng để ăn, hệ thống sẽ bắt đầu với chế độ ăn thường xuyên là 500 gram trong thời gian hai phút mười lăm giây cho đến khi cảm biến cảm thấy tôm không còn ăn. Sau khi một hoặc hai giờ, hệ thống sẽ tắt để kết thúc quá trình ăn của tôm. Sau đó, hệ thống sẽ bắt đầu lại với mẫu 100gram để xác định tôm vẫn muốn ăn. Nếu không có tiếng ồn nhiều, hệ thống sẽ tạm ngưng 30 phút  trước khi chạy thử nghiệm khác.

    Shrimp News: Thức ăn có rơi vào khay thức ăn?

    Régis Bador: Không, nó phân bố theo dạng hình tròn với đường kính khoảng bốn mươi tám feet, diện tích gần 300 mét vuông. Khi bắt đầu thử nghiệm đầu tiên, người dân ở New Caledonia sử dụng thiết bị SCUBA để kiểm tra đáy dưới chế độ ăn tự động, và tất cả cho thấy không có sự tích tụ các chất hữu cơ! Sau khi thu hoạch, ông khẳng định đáy ao hoàn toàn sạch.

    Shrimp News: Nơi nào để đặt máng ăn tự động?

    Régis Bador: Vị trí của máng ăn tự động là rất quan trọng. Chúng tôi không đặt chúng trong ½ ao nông vì nhiệt độ và các thông số khác và đôi khi ảnh hưởng đến ao như vùng nước ấm hoặc màu nước ở những ao sâu hơn, nhưng để tránh nơi oxy hòa tan có thể bị cạn kiệt, chúng tôi không đặt chúng trong các khu vực sâu nhất của một trong hai vị trí của hồ. Gió và sóng cũng ảnh hưởng đến vị trí ăn và những nơi bùn tích tụ và các khu vực xung quanh, kiểm tra kết cấu nước đều có thể tránh được. Chúng tôi thấy rằng nơi bằng phẳng, khu vực tương đối sạch và sâu để tôm hoạt động tốt nhất bởi vì mục tiêu của chúng tôi là nuôi tôm trong khu vực thoải mái nhất trong 24 giờ để tối đa hóa tăng trưởng và giảm tiêu tốn thức ăn. Phạm vi hoạt động của cảm biến Hydrophone ít nhất là mười lăm mét, tính từ thiết bị sục khí, nhưng nó phụ thuộc vào loại thiết bị sục khí.

    header.jpg

    Shrimp News: Làm thế nào để ông thu thập các dữ liệu từ hydrophone?

    Régis Bador: Vấn đề ở đây là xây dựng hệ thống phát wi-fi miễn phí. Với khoảng cách hơn 1.7 km và khi cần thiết có thể hơn, công đoạn lặp lại có thể dễ dàng được tích hợp vào hệ thống. Tất cả các dữ liệu từ hydrophone được đưa vào một máy tính và có thể được kiểm tra từ 3 – 5 phút cho mỗi lần nạp trung chuyển. Ví dụ, nếu tôm ngừng ăn tại một trung chuyển, trung chuyển có thể được tắt. Các dữ liệu có thể được xuất ra dạng một tập tin Excel và được phân tích bởi người sử dụng. Người nuôi đã kiểm tra hệ thống AQ1 trong ao tôm với diện tích 7ha ở New Caledonia cắt giảm một tháng trong tổng 7 tháng ở giai đoạn nuôi vỗ từ hệ thống AQ1. Vì vậy năm sau, ông gắn thêm 8 hệ thống với diện tích 8ha, tất cả được hỗ trợ bởi năng lượng mặt trời!

    Nhiều trang trại nuôi tôm ở châu Mỹ Latinh không có điện đến tận ao nuôi, máy phát điện bằng năng lượng mặt trời được ứng dụng rất thực tế. Để khởi động thiết bị cho ăn tự động bằng việc phun thức ăn trên một diện tích 300 mét vuông, bạn cần phải chọn loại thức ăn thích hợp. Điều tối ưu là những thử nghiệm và lựa chọn AQ1 chỉ cần hiệu điện thế 220V và công suất 50W là có thể dễ dàng cung cấp điện thông qua thiết bị chuyển đổi từ 12 hoặc 24V; và đó sẽ là không vấn đề từ một hệ thống bảng điều khiển năng lượng mặt trời. Chi phí đầu tư ban đầu là một trong các yếu tố hạn chế cho các hệ thống năng lượng mặt trời.

    Shrimp News: Đâu là nơi đặt hydrophone?

    Régis Bador: Bên dưới nhưng không trực tiếp dưới việc ăn tự động và khoảng 5-7 mét tính từ trung tâm. Bám vào đáy, thức ăn sẽ nổi lên một điểm giữa trong cột nước. Ao phải sâu ít nhất một nơi hydrophone được đặt.

    Shrimp News: Ở New Caledonia hiện có bao nhiêu trang trại nuôi tôm và bao nhiêu người trong số họ đã mua các hệ thống AQ1?

    Régis Bador: Có 17 trang trại nuôi tôm ở New Caledonia, trước đây có đến 21 ao. Một trang trại quy mô trung bình từ 8 đến 9ha. Trong năm 2012, một trang trại thiết lập một hệ thống trong một ao và vào năm 2013 trang trại đã mua một hệ thống cho ao khác. Trung tâm Kỹ thuật Aquacole (CTA), một trung tâm nghiên cứu ở New Caledonia sẽ lắp đặt hệ thống trong 4 ao vào năm 3013. Trong năm 2014, có hơn 5 trang trại thiết lập hệ thống, trong đó có một trang trại yêu cầu hệ thống trong năm trên diện tích 11 ha. Tất cả sẽ tiến hành song song, New Caledonia sẽ có 21 ao với các hệ thống AQ1 trước khi kết thúc năm 2014. Trong năm 2015, nông dân ở năm trang trại lên kế hoạch đặt hệ thống cho 10 ao, điều này có nghĩa là 65% các trang trại ở New Caledonia sẽ được sử dụng hệ thống AQ1.

    Shrimp News: Hệ thống AQ1 có thể tiếp nhận các âm thanh khi cho hậu ấu trùng mới thả ăn?

    Régis Bador: Không, tôm phải đạt trọng lượng từ 2 đến 3 gram thì âm thanh khi sử dụng thức ăn mới được ghi nhận lại.

    Shrimp News: Chuyện gì sẽ xảy ra nếu thức ăn viên ngấm nước hoặc dầu? Hệ thống AQ1 sẽ vẫn làm việc?

    Régis Bador: Chất lượng vật lý của viên thức ăn không phải là một vấn đề. Hệ thống vẫn hoạt động bởi vì đó là âm thanh từ cơ hàm dưới của tôm dẫn truyền với nhau để kích hoạt các hydrophone, nhưng nếu các viên thức ăn có nhiều nước hoặc dầu ngấm vào, thức ăn vẫn có thể gắn kết với nhau và làm tắc nghẽn các tuyến trung chuyển tự động và sau đó hệ thống không thể tiếp tục hoạt động. AQ1 khuyến cáo rằng: các chất phụ gia được áp dụng tại nhà máy thức ăn chăn nuôi thay vì được tự áp dụng tại các trang trại.

    Shrimp News: Còn nơi nào khác trên thế giới đã có lắp đặt hệ thống AQ1?

    Régis Bador: Tại Belize, tôi đã cài đặt hệ thống trong hai ao tại AQUA-MAR, người nông dân đã đặt hàng cho hơn 20 ao. Tại Peru, một trang trại phổ biến ở vùng nước ngọt với mô hình nuôi tôm thẻ (Penaeus vannamei), trang trại đã bị sa mạc hóa, nay đã trang bị bốn ao với hệ thống AQ1 và thu hoạch lần đầu tiên. Một trang trại khác ở Peru cũng vừa kết thúc việc lắp đặt, và vừa có một lắp đặt mới ở Guayaquil, Ecuador.  AQ1 đã xác nhận đơn đặt hàng từ các trang trại nuôi tôm ở Venezuela và Nicaragua và từ một trung tâm nghiên cứu ở Colombia. Chúng tôi đã học được rằng một trong những trung chuyển có thể ăn lên đến 7.500 kg sinh khối cuối cùng; do đó, nếu bạn muốn thu hoạch nhiều hơn, bạn sẽ cần ăn bổ sung. Thời gian hoàn vốn từ sau khi lắp đặt hệ thống kéo dài gần một năm bởi vì các hệ thống giảm độ dài của chu kỳ nuôi thương phẩm và giảm tỷ lệ chuyển đổi thức ăn. Điều này làm cho người nuôi có thể bỏ thêm chi phí thấp nhất là 30%. Tại CTA, nơi lưu trữ 25 hậu ấu trùng trên mỗi mét vuông, các nhà nghiên cứu sản xuất tôm đạt 22gram trong 98 ngày với FCR thấp ở mức 1,2!

    Shrimp News: Tại sao Thái Lan không thông qua công nghệ mới này phát triển nhanh chóng hệ thống AQ1?

    Régis Bador: Hệ thống AQ1 đã được thử nghiệm ở Thái Lan và một bài báo đã được xuất bản ở đó mà so với cho ăn bằng tay, cho ăn tự động bằng AQ1. Kết quả cho thấy: cho ăn bằng tay có tỷ lệ chuyển đổi thức ăn là 1.4; nạp tự động (quản lý trong một giờ) là 1.3; và AQ1 là 1.2. Tăng trưởng cũng tăng nhiều hơn từ AQ1 so với cho ăn bằng tay hoặc cho ăn theo thời gian. Ngay bây giờ, Thái Lan có dấu vết đầy đủ với hội chứng chết sớm (EMS) và họ đang đầu tư ít hơn trong thiết bị mới. AQ1 nghĩ rằng khi Thái Lan giải quyết vấn đề EMS, họ sẽ mua thiết bị AQ1 nhiều hơn nữa.

    Shrimp News: Ông có nhà phân phối độc quyền hệ thống AQ1 trên toàn thế giới?

    Régis Bador: Không. Tại Peru, Ecuador và Colombia, công ty Innov'Aquaculture của tôi, được lựa chọn để đại diện cho APRACOM AQ1. Ở Panama, Costa Rica, Honduras, El Salvador và Guatemala, tôi kiểm soát việc bán hàng. Mexico và Brazil được quản lý trực tiếp bởi AQ1 (thông tin liên lạc bên dưới).

    Régis Bador, Innov'Aquaculture, BP 15.349, 98.804 Noumea, New Caledonia
    Điện thoại di động + 687-73-48-97.
    Skype: regisbador
    Email: regis.bador@innovaquaculture.com
    Website: http://www.innovaquaculture.com. Có tất cả 18 sản phẩm của Bador được trưng bày và thảo luận trên website bằng tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha.
    Ross Dodd, Giám đốc điều hành, hệ thống AQ1, 1/110 phố Murray, Hobart, Tasmania 7000, Úc.
    Điện thoại + 61-0-3-6234-6677, Di động + 61-0-419-386-526, fax + 61-3-6234-6622.
    Email ross@aq1systems.com.
    Website: http://www.aq1systems.com.

    Source: Kiến Duy, TepBac.Com
    Theo Régis Bador. Phỏng vấn bởi Bob Rosenberry, Shrimp News, Tegucigalpa, Honduras ngày 26 tháng tám 2014.
  • Ảnh thế giới hoang dã đẹp nhất năm 2014
    Trong tuần cuối cùng của tháng 10, Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên London, Anh, trưng bày bộ sưu tập ảnh đẹp nhất về thế giới hoang dã.

    wild-lionuse_3080903k.jpg
    Bức ảnh đàn sư tử nằm nghỉ đã vượt qua hơn 42.000 tác phẩm đến từ 96 quốc gia để mang lại cho Micheal ‘Nick’ Nichols, Mỹ, danh hiệu Nhiếp ảnh gia Động vật hoang dã của năm. Trong ảnh, những con sư tử bố mẹ cùng các sư tử con đang nghỉ ngơi trong Vườn Quốc gia Serengeti ở Tanzania. Nichols sử dụng máy ảnh hồng ngoại nhằm “biến đổi ánh sáng, đưa khoảnh khắc trở về thời nguyên thủy và thần thánh”.

    wild-scorpion_3080881k.jpg
    Carlos Perez Naval, 8 tuổi, giành giải Nhiếp ảnh gia Động vật hoang dã trẻ nhất của năm với bức ảnh chú bọ cạp phơi nắng tại một thị trấn ở Tây Ban Nha. Bức ảnh có tên “Tắm nắng lúc hoàng hôn”.

    wild-iguana_3080879k.jpg
    Will Jenkins chụp lại bức ảnh “Rồng xanh” trong một chuyến nghỉ mát cùng gia đình ở Costa Rica. Jenkins lựa chọn góc kính rộng để làm nổi bật hình ảnh con ỳ nhông và tạo điểm nhấn ở mắt nó.

    wild-frogs_3080560k.jpg
    Anton Lilja ghi lại cảnh tượng những chú ếch đang giao phối trong một hồ nước ở tỉnh Västerbotten, Thụy Điển, trong bức ảnh “Vòng tay rộng lớn’. Lilja đặt ống kính ngang mực nước. Nhờ đó, cậu chuyển tại được sự kỳ diệu của ánh sáng và hình ảnh những trứng ếch dưới làn nước vào tác phẩm của mình.

    wild-snowbird_3080911k.jpg
    Edwin Sahlin chụp ảnh con chim giẻ cùi Siberia đang tìm kiếm những miếng pho mát và xúc xích sau bữa trưa trong chuyến trượt tuyết ở miền bắc Thụy Điển. Sahlin đào một cái hộ rồi leo xuống đó. Cậu rải các mẩu thức ăn quanh miệng hố và chờ đợi. Nhờ đó, nhiếp ảnh gia trẻ tuổi đã nắm bắt được màu gỉ sắt của thân dưới con chim một cách trọn vẹn.

    wild-touche_3080877k.jpg
    Trong chuyến đi tới Ecuador, Jan van der Greef tập trung sự chú ý đến những con chim ruồi, loài chim có mỏ dài hơn cơ thể, trừ đuôi. Chiếc mỏ dài giúp chúng lấy mật từ những bông hoa hình ống dài. Greef bắt gặp một chú chim thường kiếm ăn ở những đóa hoa loa kèn màu đỏ gần nhà trọ của cậu. Nó đập cánh với tần suất 60 lần/s và sử dụng cái mỏ siêu dài để xua đuổi kẻ thù. Jan van der Greef sử dụng chế độ chụp liên tục để ghi lại khoảng khắc đầy màu sắc.

    wildlife-photographer-year-2014.jpg
    Thông thường, các nhiếp ảnh gia thường bắt các động vật phù du rồi chụp chúng. Tuy nhiên, Fabien Michenet lại hứng thú với vẻ đẹp từ hoạt động sống của những con vật bé nhỏ. Vào ban đêm, Michenet lặn xuống độ sâu 20 mét ngoài khơi bờ biển Tahiti và ghi lại hình ảnh con mực có chiều dài 3 cm. Các tế bào sắc tố chấm bi bao quanh cơ thể trong suốt của nó, dưới cặp mắt là cơ quan phát quang sinh học. Vì mực là loài nhạy cảm với ánh sáng, nhiếp ảnh gia phải lặng lẽ di chuyển cùng nó, tắt flash và sử dụng chế độ lấy nét tự động để ghi lại hình ảnh chú mực nhỏ trước khi nó biến mất vào biển sâu.

    wild-storm_3080920k.jpg
    Ngay sau khi núi lửa Puyehue-Cordón Caulle bắt đầu phun trào, Francisco Negroni đã lên đường Vườn Quốc gia Puyehue ở miền nam Chile nhằm ghi lại khoảnh khắc trình diễn ánh sáng ngoạn mục. Nhưng, những gì ông chứng kiến chẳng khác gì cảnh tượng ngày tận thế. Từ vị trí của mình, Caulle quan sát cảnh những tia chớp rạch ngang bầu trời, ánh sáng từ dòng dung nham nóng chảy và ống khói cuồn cuộn bốc lên. Sét núi lửa là một hiện tượng hiếm ngắn ngủi, hiếm gặp, gây ra bởi tình điện từ sự va chạm giữa các mảnh đá vỡ, tro bụi và hơi nước bốc lên từ miệng núi lửa. Bức ảnh “Ngày tận thế” giành giải bức ảnh đẹp nhất về môi trường.

    wild-fox_3080935k.jpg
    Luật pháp Tunisia nghiêm cấm việc săn bắt và giết hại các loài cáo hoang dã. Tuy nhiên, tình hình thực tế không khả quan. Nhiếp ảnh gia Bruno D'Amicis tham gia vào dự án dài hạn điều tra về những loài đang có nguy cơ tuyệt chủng ở sa mạc Sahara. Ông phát hiện nhiều vụ săn bắt động vật hoang dã phục vụ cho mục đích thương mại và y học. D'Amicis ghi lại hình ảnh Fennec, con cáo 3 tháng tuổi, trong bức ảnh “Cái giá họ phải trả”. Ông nói bức ảnh sẽ nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của người dân và khách du lịch.

    wild-shark_3080936k.jpg
    Con cá mập trắng đã chiến đấu kich liệt để thoát khỏi chiếc móc trước khi nghẹt thở. Rodrigo Friscione Wyssmann chụp lại cảnh tượng khủng khiếp ở ngoài khơi vịnh Magdalena, bang Baja California, Mexico. “Tôi rất sốc. Cá mập trắng là loài động vật tuyệt vời, duyên dáng và thông minh. Cảnh tượng ấy thật đáng buồn. Vì thế, tôi chuyển hình ảnh sang màu đen trắng”, nhiếp ảnh gia cho biết.

    Source: Nguyễn Sương, Zing.Vn. (Ảnh: Telegraph)
  • Loài cá nào tiềm năng cho tương lai
    Cách đây 10 năm, các chuyên gia về nuôi trồng thủy sản (NTTS) trên thế giới đã dự báo cá tra Việt Nam sẽ trở thành loài thủy sản nuôi đầy tiềm năng. Sản lượng cá tra tăng từ 100.000 tấn lên 1.000.000 tấn trong vòng 10 năm.

    Nhiều chuyên gia vẫn trăn trở, ngoài cá tra còn loài cá nào tiềm năng hơn có thể đạt năng suất 500.000 tấn/năm? Giờ đây không chỉ Việt Nam nuôi cá tra, Indonesia, Philippines cũng bắt đầu nuôi loài cá này. Indonesia vẫn tập trung nuôi cá rô phi, cá chép, tôm thẻ, tôm sú và gần đây để đa dạng hóa giống thủy sản, Indonesia mở rộng nuôi cá tra (đối tượng nuôi được coi là đầy tiềm năng). Tổ chức Hòa bình xanh đã công nhận vài cơ sở nuôi cá tra tại Việt Nam đạt chứng nhận ASC, tuy nhiên, phần lớn hộ nuôi cá tra tại châu Á đều không đảm bảo tính bền vững, nhất là nguồn thức ăn. Các loài cá nổi nhỏ vùng ven biển vẫn bị tận diệt để chế biến thức ăn thủy sản, trong đó có cá tra.

    Do đó, Việt Nam, Thái Lan hay Ấn Độ, khó có thể trở thành cường quốc về NTTS được. Tại Manipur, đông bắc Ấn Độ, nguồn thực vật thủy sinh rất dồi dào nhưng chưa được tận dụng làm thức ăn cho cá do tính kết nối giữa ban ngành còn kém. Cá trắm cỏ trở thành loài nuôi thích hợp nhất, chủ yếu nuôi ghép, tăng trưởng nhanh. Kể từ khi giá cá đi xuống, nhiều nông dân đã chuyển hướng nuôi cá tra, basa. Trước đó, họ cũng đã thử nuôi cá trê châu Phi nhưng do chúng thoát ra ngoài tự nhiên quá nhiều nên bị cấm. Nguồn giống chất lượng đang là vấn đề nan giải. Nông dân vẫn tự sản xuất giống, không có sự chọn lọc và quản lý dẫn tới nguy cơ thoái hóa giống và tăng trưởng chậm.

    Với Chilê thì khác, nơi đây có nhiều tiềm năng để trở thành cường quốc về NTTS, họ có những chính sách rất khôn ngoan. Họ không vì khủng hoảng của ngành cá hồi trong những năm gần đây mà vội vã chuyển sang các giống thủy sản mới. Họ khống chế dịch bệnh, tập trung nuôi các loài thủy sản truyền thống của địa phương; Dù gần đây nhiều nước châu Âu bắt đầu chi rất nhiều tiền nghiên cứu các giống cá mới để đa dạng giống nuôi trồng thủy sản. Hiện, Chilê đang nuôi cá bơn vằn răng thưa (Paralichthys adspersus), một trong số những loài cá lớn rất nhanh và có giá đắt nhất tại đây. Chúng cũng có tiềm năng, có thể đánh bật cá tra để trở thành đối tượng nuôi chủ lực, phổ biến của ngành thủy sản.

    Song song với việc tìm đối tượng nuôi tiềm năng, cần mở rộng NTTS trong tương lai, có 2 cách quan trọng: Thứ nhất, tăng sản lượng của những loài nuôi quen thuộc. Thế giới đang có 15 loài thủy sản nuôi cơ bản nhất. Theo quan điểm của tôi, vẫn cứ nuôi những loài thủy sản có thị trường tiêu thụ rộng lớn, hợp khẩu vị người tiêu dùng. Thứ hai, chúng ta có thể tăng sản lượng thủy sản bằng cách đa dạng hóa giống loài. Nhưng hầu hết nhà sản xuất thủy sản lớn trên thế giới tỏ ra lưỡng lự với cách làm này vì phát triển một giống cá mới tốn kém thời gian và tiền bạc. Na Uy đã chi ra hàng tỷ USD suốt 2 thập kỷ để phát triển nghề nuôi cá halibut, loại cá đặc sản của California, sau đó, đầu tư  nuôi cá tuyết nhưng kết quả không khả quan do sản lượng rất thấp.

    Nhưng nói như vậy không có nghĩa chúng ta nên từ bỏ ý định phát triển giống cá mới bởi có thể, giống cá mà Na Uy đưa về không thành công khi nuôi ở Na Uy nhưng có thể thành công ở một quốc gia khác. Tóm lại, có rất nhiều loài cá nuôi đầy tiềm năng, tuy nhiên, điều này phụ thuộc rất lớn vào môi trường, cách thức nuôi.

    Source: Bjorn Thrandur, Giáo sư sinh lý học động vật, Đại học Gothenburg, Thụy Điển. Tạp chí Thủy sản Việt Nam.