• Alltech tìm kiếm đối tác để sản xuất dầu tảo trên quy mô lớn
    Sản xuất dinh dưỡng cho động vật từ tảo và nông dân ở Alltech đang tìm kiếm các đối tác để cung cấp tảo nhằm thay thế dầu cá có thể đáp ứng khối lượng theo yêu cầu của ngành công nghiệp nuôi trồng thủy sản.

    "Chúng tôi cần phải hợp tác với những người thuộc nhóm ngành công nghiệp khác để tìm các phát triển trong việc cung cấp và thay thế; bằng cách nào đó, có thể thay thế hoàn toàn hoặc một phần bột cá và dầu cá được sử dụng trong thức ăn chăn nuôi", Jorge Arias - Giám đốc thủy sản toàn cầu Alltech chia sẻ với Undercurrentnews.

    Nhà máy Alltech tại Kentucky, Mỹ, mỗi năm sản xuất khoảng 10.000 tấn dầu tảo.

    Nhưng nhu cầu của ngành công nghiệp cần tới 240.000 tấn để có một sự lựa chọn khác về khối lượng, Arias nói.

    "Chúng tôi cần phải gia tăng sản xuất tảo lên 25 lần để chúng tôi có thể cung cấp một sự thay thế dầu cá", Arias trao đổi với Undercurrentnews vào ngày 24 tháng 10, trong chương trình thương mại Aquasur 2014 tổ chức tại Puerto Montt.

    Năm 2013, ngành nuôi trồng thủy sản sử dụng 772.400 tấn dầu cá, dự kiến đến năm 2020 nhu cầu sẽ đạt 843.600 tấn, theo một báo cáo từ Viện nghiên cứu Grand View.

    Arias cho rằng Alltech có công nghệ và chuyên môn để mở rộng sản xuất để 240.000 tấn, nhưng lại thiếu cơ sở hạ tầng và các quỹ cần thiết để đáp ứng mục tiêu này.

    "Nhà máy dầu tảo với sản lượng 10.000 tấn ở Kentucky trị giá khoảng 200 triệu USD;  để đáp ứng sản xuất khối lượng mục tiêu này, sẽ cần một nguồn đầu tư đáng kể", Arias nói.

    "Rõ ràng là đối tác sản xuất thức ăn hay sản xuất cá cho rằng: bằng cách nào đó, có thể thúc đẩy đầu tư vào loại hình công nghệ này", ông nói.

    Alltech cũng có thể cung cấp công nghệ cho các đối tác ngành công nghiệp tiềm năng, Arias nói.

    "Cơ sở chế biến tảo có thể được thiết lập sẵn tại sân sau của nhà máy thức ăn chăn nuôi, trong trường hợp đó bạn sẽ không cần để làm khô sản phẩm, giảm chi phí xử lý sau đó".

    Hiện tại, chi phí là rào cản chính đối với các nhà sản xuất nuôi trồng thủy sản, ông nói.

    "Dầu cá là vẫn còn rẻ hơn so với dầu tảo. Để giảm chi phí, chúng ta cần phải tiến hành sản xuất toàn cầu theo loại hình công nghệ, giảm chi phí sản xuất, tối đa hóa hiệu quả...và để đạt kết quả này chúng tôi cam kết tìm ra cách để tăng năng lực sản xuất của chúng tôi", Arias nói.

    Điều này trùng với ý kiến của Carlos Diaz - Giám đốc điều hành BIOMAR.

    Tìm kiếm các nguồn thay thế cho dầu cá với các axit béo EPA và DHA, dầu cá là thách thức lớn nhất đối với các nhà sản xuất thức ăn cho cá và người nuôi cá, đặc biệt là ngành cá hồi, Diaz nói với Undercurrentnews vào tháng trước.

    Tuy nhiên, ông lập luận "Có một giải pháp chung cho ngành công nghiệp là cách duy nhất để giải quyết vấn đề là các khoản đầu tư khổng lồ cần thiết".

    "Một số giải pháp có thể có hiệu quả, nhưng nếu bạn chỉ có quy mô. Đó là một tình huống con gà và quả trứng", Diaz từng nói: "Chúng tôi đã thử nghiệm khi làm việc nhưng chúng tôi sẽ không làm điều đó một mình. Điều này không thể xảy ra trước khi toàn bộ ngành công nghiệp cam kết đầu tiên".   

    Thị trường thích hợp cho cá hồi bền vững

    Phần lớn các nhà sản xuất cá hồi vẫn không muốn trả giá cao cho các lựa chọn thay thế dầu cá, mặc dù có "một nhóm nhỏ các nhà sản xuất" được phân biệt sản phẩm của họ, Arias nói.

    "Họ được cung cấp một cá hồi khác biệt với một công nghệ khá tốn kém  và do đó, cuối cùng bán ra một sản phẩm với giá cao hơn", Arias nói.

    "Hiện tại thị trường cá hồi đang phù hợp, nhưng vẫn có người tiêu dùng sẵn sàng trả tiền chênh lệch đó," Arias nói.

    Không hẳn ông là tin vào điều này. Trong năm nay, ông đã chứng kiến một sự thay đổi rõ rệt đến sự khác biệt hơn cho cá hồi nuôi, Vidar Gundersen - Giám đốc nhóm phát triển bền vững BIOMAR trao đổi với Undercurrentnews trong sự kiện Nuôi trồng thủy sản châu Âu tại San Sebastian, Tây Ban Nha hồi đầu tháng này.

    "Điều này có nghĩa là cá hồi hữu cơ bền vững hơn hoặc làm phong phú với omega - 3 ... Năm 2014 thực sự cho thấy sự bắt đầu của sự khác biệt cho cá hồi nuôi", Gundersen nói.

    Thế hệ mới quan tâm nhiều hơn về tính bền vững và hiểu rằng: nếu chi phí sản xuất cao, sản phẩm cuối cùng là cuối cùng đắt tiền hơn, ông lập luận.

    Cần lựa chọn thay thế protein

    Dầu cá không chỉ cung cấp protein mà còn các axit béo omega-3 mà bột cá và dầu thay thế thường được sử dụng - bữa ăn đậu nành và protein thực vật khác không có.

    Tuy nhiên, tuyên bố của Alltech cho rằng dầu tảo nắm giữ omega-3 ở cá và do đó được cho là có trong các nguồn thức ăn của con người.

    "Bổ sung Omega-3 đang trở nên phổ biến, nhưng không có thay thế thực sự cho omega-3 được tìm thấy tự nhiên hay trong thực phẩm của con người", Arias chia sẻ trước đó với Undercurrentnews.

    Tại Hội nghị sáng kiến cá hồi toàn cầu diễn ra vào ngày 24 tháng 10, CEO của Cermaq và Marine Harvest cho biết sự phát triển ngày càng tăng khi lựa chọn thay thế cho bột cá và dầu cá là một điều cần thiết cơ bản.

    "Chúng tôi đang lái xe vào một bức tường," Giám đốc điều hành Jon Cermaq Hindar chia sẻ khi ông được yêu cầu trả lời các nhà phê bình của người nuôi cá hồi về việc phụ thuộc quá nhiều vào thức ăn từ đại dương.

    Alf-Helge Aaskog -  Giám đốc điều hành Marine Harvest lặp lại mối quan tâm Hindar về nhu cầu dầu cá thay thế cho tảo.

    "Chúng tôi có một cuộc tranh luận về nguyên liệu thức ăn", Aaskog nói. "Nếu công ty không muốn có trong cuộc tranh luận, họ cần ở lại đây, nhưng tôi không chắc chắn nơi họ sẽ có trong tương lai”.

    Source: Lâm Nhất Phong, TepBac.Com
    Theo Undercurrentnews.com
  • Trang trại tảo mini – hướng đi mới cho nông nghiệp đô thị?
    Xu hướng mới của nông nghiệp đô thị và nghề làm vườn hiện nay thiên về trồng trọt các loại rau màu địa phương với mục đích cung cấp thực phẩm tại chỗ cho con người. Ở đô thị thì “tấc đất tấc vàng”, do đó người ta thường tận dụng các khu nhà kho cũ, hoặc thậm chí làm tầng hầm ngầm dưới đất để trồng rau trong nhà và cung cấp ánh sáng nhân tạo cho cây trồng. Mới đây nhất chúng ta còn nghe đến các mô hình trang trại đứng, hoặc trồng rau ở các khu nhà cao tầng.

    Nhưng theo tính toán của các nhà khoa học thì nông nghiệp đô thị, và cụ thể hơn là trồng rau trong nhà ở đô thị sẽ tốn chi phí hơn, sử dụng điện năng, nhiên liệu nhiều hơn, và tăng tác động đến môi trường, chưa kể nguồn nhiên liệu sử dụng cho việc này có thể là nhiên liệu tái tạo được và cũng có thể là nhiên liệu không thể tái tạo được. Họ cảnh báo rằng trồng trọt trong nhà, sử dụng ánh sáng nhân tạo có thể là một giải pháp kém bền vững và gây tác động tiêu cực đến môi trường hơn là tác động của việc nhập khẩu thực phẩm từ một nơi cách đó cả ngàn cây số.

    15361758581_476d68a025_o.jpg
    Hình 1: Liệu các trang trại mini trồng tảo có trở thành nguồn cung cấp “siêu thực phẩm” cho người dân thành thị, và chúng ta sẽ thấy nhà nhà ở thành phố đều có trang trại trên nóc? [Nguồn: www.hortdaily.com]

    Trồng rau trong nhà kính ở các khu đất còn bỏ trống hay ở ven đô có thể là một giải pháp ít tốn kém hơn nhiều. Nhà kính ở đô thị có thể giúp kéo dài mùa vụ, tận dụng được cơ sở hạ tầng của đô thị, gần các khu chợ/thị trường tiêu thụ, và tận dụng triệt để nguồn năng lượng vô tận – ánh nắng.

    Khu vực này rất thích hợp để nuôi trồng các loài vi tảo có giá trị cao để tăng khả năng sản xuất thực phẩm của mô hình nhà kính, và cũng đồng nghĩa với tăng doanh thu cho người trồng.

    15341913996_8593307199_o.jpg
    Hình 2: Nông trại mini đầu tiên trồng tảo xoắn (spirulina) ở khu Tây bắc Thái Bình Dương, gần Olympia Washington. Đây là khu vực có môi trường sinh thái và khí hậu giống khu rừng mưa, ấm nóng vào mùa hè và mát mẻ, nhiều mây, ẩm ướt vào mùa đông. [Nguồn: www.hortdaily.com]

    Trong vòng 30 năm qua, tảo xoắn spirulina đã ngày càng được thế giới công nhận như là một nguồn “siêu thực phẩm bổ trợ”. Những nghiên cứu đã được xuất bản cho chúng ta thấy với một lượng nhỏ thực phẩm được làm từ tảo spirulina có thể tăng đáng kể khả năng miễn dịch hằng ngày của con người, tăng cường khả năng đào thải độc tố của cơ thể và phục hồi hệ vi sinh đường ruột có lợi, cải thiện chức năng thần kinh và phục hồi khả năng tự lành vết thương của cơ thể.

    Tại Mỹ, tảo Spirulina được bán với giá 160Đô-la Mỹ/ kg, còn ở Pháp là 150Euro/kg. Ở những nơi có thể sản xuất tảo tươi ngay tại chỗ, giá của nó còn cao hơn.

    Nhiều người vẫn tưởng rằng các trang trại nuôi trồng tảo thường được xây dựng ở những nơi hoang mạc khô cằn nắng gắt, hay ở các vùng có khí hậu nhiệt đới. Nhưng trong thập niên gần đây, hơn 110 trang trại nhà kính mini nuôi trồng tảo đã có mặt ở khắp nơi trên nước Pháp và ở khu vực phía tây bắc Thái Bình Dương của Mỹ.  
     
    15341913906_46f8c37db7_o.jpg
    Hình 3: Ao nuôi tảo có mái che di động (cuộn ra vào được) và tháo dỡ được. Vào mùa lạnh người ta phủ mái che ban đêm để giữ ấm. Mùa hè bạt che hoàn toàn bị dỡ bỏ.  [Nguồn: www.hortdaily.com]

    Những trang trại mini này là những mô hình mẫu, được trang bị nhà kính, có hệ thống theo dõi thông minh và web cameras để các chuyên gia ở xa có thể cùng lúc hướng dẫn nhân viên địa phương ở nhiều nơi khác nhau vận hành hệ thống một cách hiệu quả. Ngoài ra còn có những khu trồng tách biệt được trang bị đèn LED và hệ thống sưởi giúp kéo dài mùa vụ.

    CEO của công ty Smart Microfarms, ông Robert Henrikson là người đã xây dựng trang trại Earthrise Spirulina, một trong những trang trại nuôi trồng tảo lớn nhất thế giới nằm ở miền nam California cách đây 35 năm. Ông cho biết: “Trong nhiều thập niên qua, chúng tôi đã gầy dựng được lực lượng nhân sự có chuyên môn và cơ sở hạ tầng dàn trải để nuôi trồng tảo theo quy mô công nghiệp nhằm sản xuất ra số lượng lớn tảo cung cấp cho thị trường. Nay đã đến lúc chúng tôi giới thiệu mô hình trang trại mini mới này để nhà nhà có thể trồng và sản xuất được nguồn thực phẩm bổ dưỡng – tảo spirulina cho chính mình. Mô hình đó chúng tôi đã gầy dựng từ lâu, nay chỉ việc chờ nó sinh lợi.”

    Mô hình trang trại mini trồng tảo ở tây bắc Thái Bình Dương đã được kiểm tra và dùng để làm mô hình chuẩn, đặc biệt cho các trang trại ở khu vực có khí hậu ôn đới. Người ta sẽ kiểm tra tính thực tiễn, chi phí đầu tư, và khả năng nhân rộng mô hình cho mục đích tận dụng các chỗ trống ở khu đô thị, nhà cao tầng, nhà di động và vườn thẳng đứng để trồng tảo nhằm cung cấp thực phẩm chất lượng cao cho người tiêu dùng ngay tại chỗ. Trang trại mini thông minh có thể được ứng dụng cho các mô hình trồng trọt truyền thống, thuỷ canh, và cả aquaponic để đa dạng hoá các sản phẩm tảo chất lượng cao.

    Đầu sách mới “Trang trại mini nuôi trồng tảo” (tựa gốc là “Algae Microfarms”) hiện đang có bán trên Amazon.com, do Henrikson viết, có nêu tên một số cá nhân và tổ chức trồng tảo quy mô nhỏ trên toàn tế giới, kể cả trồng cho mục đích sử dụng cá nhân và mục đích thương mại, là những người làm nên sự khác biệt của ngành trồng tảo hiện nay. Chúng ta hãy nhìn về tương lai của một ngành trồng tảo quy mô đa dạng có thể áp dụng cho gia đình hay cho các công trình công cộng ngay tại đô thị, trên mái nhà và ngay bên trong các toà nhà lớn.

    Các bạn có thể xem thêm video kéo dài 2 phút này để biết thêm thông tin về trang trại trồng tảo mini ở khu vực tây bắc Thái Bình Dương, gần Olympia Washington. Đây là mô hình mẫu đã được chọn để nhân rộng trong vụ mùa trồng tảo sắp tới.

    Biên tập và dịch bởi: Hà Thu, Theo http://www.hortidaily.com
    Source: Hathu's Blog
  • Quản lý tảo trong ao nuôi tôm
    Tảo là nguồn cung cấp ôxy chính cho hô hấp của tôm, đồng thời hấp thu muối dinh dưỡng, giảm độ trong nước, giúp cân bằng hệ sinh thái ao nuôi… Khi mật độ tảo cao sẽ gây nở hoa trong nước, gây thiếu ôxy cho ao tôm về đêm. Quản lý tốt tảo trong ao là rất cần thiết.

    Các loại tảo phổ biến

    Bao gồm tảo lục, tảo silic (là tảo có lợi do không chứa độc tố, khi phát triển nhiều trong ao ít gây hiện tượng nở hoa), tảo lam, tảo giáp và tảo mắt (có hại vì khi chúng phát triển chiếm ưu thế trong nước sẽ gây hiện tượng nở hoa, nước nhiều nhớt, nổi bọt khó tan, sản sinh nhiều chất độc). Khi tảo lam phát triển, nước ao sẽ có màu xanh đậm, xanh nước sơn, nổi váng xanh trên mặt nước và có mùi hôi. Trời nắng gắt tảo lam thường nổi thành đám trên mặt nước, dạt về cuối gió. Khi tảo lam già có dạng hạt hay dạng sợi thường thải chất nhờn vào nước có thể gây tắc nghẽn mang tôm.

    Một số trường hợp tôm bị phân trắng thường tìm thấy nhóm tảo này trong đường ruột tôm ở dạng chưa tiêu hóa.  Đối với tảo mắt, khi chiếm ưu thế trong ao nước sẽ có màu xanh rau má, hoặc nâu đen; Các váng màu xanh, vàng, đỏ, nâu nổi tập trung trên mặt nước và xuống đáy ao khi ánh sáng mặt trời giảm. Tảo giáp xuất hiện và phát triển nhiều biểu hiện nước trong ao nuôi bị ô nhiễm. Tôm không tiêu hóa được loài tảo này do chúng có vách tế bào cứng, một số trường hợp tôm bị tắc nghẽn đường ruột hoặc phân bị đứt đoạn do có quá nhiều tảo giáp trong ruột.

    Nguyên nhân và biện pháp khắc phục

    Trong nuôi tôm thâm canh, nguyên nhân chính dẫn đến chất lượng nước ngày càng xấu đi là do thức ăn dư thừa và lượng chất thải của tôm quá nhiều. Dấu hiệu nhận biết thức ăn dư thừa là nước trở nên xanh đột ngột, hàm lượng NH4+, NH3 tăng bất thường, tôm hoạt động yếu hơn… Lúc này cần điều chỉnh lượng thức ăn, cho ăn từ đủ đến thiếu hoặc có thể cắt cữ ăn trong ngày để giảm thiểu lượng hữu cơ do thức ăn thừa gây ra.

    Càng về cuối vụ thì tỷ lệ N/P trong nước càng giảm là do N lắng đáy, do vậy ngay từ tháng nuôi đầu tiên ao nuôi cần được bổ sung chế phẩm vi sinh chứa vi khuẩn Nitrobacter và Nitrosomonas để chuyển hóa các chất gây độc như NH3, NO2- thành dạng không độc như NO3-, NH4+.

    Lưu ý: NitrosomonasNitrobacter là vi khuẩn mẫn cảm với ánh sáng, khoảng pH thích hợp cho Nitrosomonas là 7,8 - 8, Nitrobacter là 7,3 - 7,5. Nitrobacter sẽ tăng trưởng chậm hơn ở pH cao đặc trưng của các ao nuôi giai đoạn cuối. Nitrosomonas có khả năng sống ở những nơi có hàm lượng NH3 tương đối cao (như trong bùn đáy ao).

    Vào giai đoạn 2 tháng tuổi trở đi, tảo giáp và tảo lam tảo thường có tình trạng phát triển quá mức và chiếm ưu thế…, có hiện tượng nước nổi bột khó tan, tôm bị stress nên sử dụng sản phẩm có chất Yucca Schidigera, kết hợp Zeolite để giảm bớt khí độc do tảo sinh ra. Mặt khác, nước trước khi cấp vào ao nuôi phải được xử lý bằng hóa chất diệt khuẩn như Chlorine, BKC, Formaline… để giảm mật độ tảo của nước sau khi cấp.

    Thả ghép cá rô phi với tôm trong ao. Cá rô phi thường sống ở tầng nước giữa và tầng đáy. Cá có thể tiêu hóa tảo trong đó có tảo sợi và thực vật lớn nhờ vào nhiều răng mịn ở hầu; môi trường dạ dày của cá rô phi có tính axít cao (pH thường dưới 2) làm cho những tế bào của tảo và vi khuẩn dễ vỡ ra. Cá rô phi có thể tiêu hóa 30 - 60% đạm trong tảo, đặc biệt là các loại tảo lam, tảo lục, làm giảm sinh khối của loài tảo này, hạn chế hiện tượng màu nước ao nuôi trở nên xanh đậm hoặc xanh đen, dày đặc... giúp ổn định màu nước. Đặc biệt, trong những ao có nuôi cá ít khi có tình trạng nước phát sáng.

    >> Tảo có tác dụng tạo màu nước cung cấp ôxy và cân bằng hệ sinh thái nước ao. Sự xuất hiện quá mức của tảo là nguyên nhân gây biến động môi trường nước, ảnh hưởng đến sức khỏe vật nuôi. Người nuôi cần nắm vững đặc điểm và điều kiện phát triển của mỗi loài tảo để có hướng điều chỉnh, kích thích tảo có lợi, hạn chế tảo gây hại.

    Source: Phạm Thanh Nhân (Chi cục NTTS Bình Định), Tạp chí Thủy sản VN
  • NaUy: Dự án tiên phong sử dụng CO2 để phát triển thức ăn thủy sản
    Trung tâm công nghệ Mongstad (TCM) là nhà máy thí điểm tiên phong trong sản xuất tảo giàu omega-3 trong ngành nuôi trồng thủy sản sau khi nhận được mức hỗ trợ tài chính lên tới 1 triệu USD từ Quốc hội Na Uy.

    Mục đích của dự án là thiết lập một cơ sở sản xuất có thể sản xuất các sản phẩm có giá trị cao khác như omega-3 từ tảo sinh khối dựa trên sử dụng CO2 tinh khiết từ TCM và nguồn nhiệt dư từ nhà máy TCM, báo cáo của Gasworld.

    Nguyên liệu phong phú cho sản xuất thử nghiệm omega-3 cung cấp cho cá từ tảo sẽ bắt đầu vào năm tới, đây là giải pháp bền vững cho các vấn đề về môi trường và thay thế chủ động nhằm tránh sự lắng đọng thụ động của khí carbon dioxide.

    "Carbon ngày càng trở nên hạn chế trong nền kinh tế toàn cầu, trong khi nhu cầu thực phẩm từ cá nuôi đang tăng lên. Đây có vẻ là một giải pháp thông minh khi kết hợp hai vấn đề: sử dụng CO2 và các sản phẩm của ngành dầu khí như là một nguyên liệu cho nuôi trồng thủy sản”, Frank Ellingsen, Giám đốc điều hành TCM chỉ ra.

    Và ông nói thêm: "Dự án này cho thấy tầm quan trọng đang diễn ra ở TCM: hoạt động đi đầu trong công nghệ thu giữ CO2, chúng tôi đóng một vai trò quan trọng trong việc sử dụng CO2 cho các mô hình kinh doanh sáng tạo mới được gọi là "vòng tròn kinh tế".

    Dự án Omega-3 đã nhận được ủng hộ rộng rãi từ những người đặt niềm tin rằng TCM là nơi hoàn hảo để thử nghiệm công nghệ này, BBC thông báo.

    "Chúng tôi có một bể thu CO2 và khối lượng tảo, chúng được trộn với nước biển, ở nhiệt độ khoảng 25 độ C", Svein Nordvik từ CO2BIO, một công ty thiết lập để chạy dự án nhấn mạnh.

    "Có nhiều phương pháp và kỹ thuật khác nhau nhưng ở Mongstad chúng tôi có những lợi thế từ CO2 tinh khiết, nước biển và hơi nước, nên cơ hội phát triển sẽ khả thi hơn những nơi khác", ông kết luận.

    Những người ủng hộ dự án giải thích rằng CO2 là một vấn đề đối với khí hậu và cho rằng hiện nay hầu hết dầu Omega-3 được sản xuất tại Peru và các quốc gia khác, nhưng không theo một cách bền vững.

    "Sự cần thiết khoảng 100.000 tấn và đó là một quy mô lớn. Lý do để kiểm tra trung tâm nhằm phát triển các kỹ thuật và tối ưu hóa dây chuyền sản xuất vì vậy chúng tôi có thể có một quyết định sản xuất quy mô lớn”, Nordvik nhấn mạnh.

    TCM là cơ sở lớn nhất thế giới thử nghiệm và cải thiện thu giữ CO2, được liên doanh giữa nhà nước Na Uy, Statoil, Shell và Sasol. Trung tâm bao gồm hai nhà máy thu giữ CO2 với khả năng thu giữ khoảng 80.000 tấn CO2 từ các nhà máy lọc dầu gần đó hoặc 20.000 tấn từ một nhà máy chạy khí điện.

    Source: Kiến Duy, Theo Fis.com
    Bài viết: TepBac.Com
  • Nghiên cứu phân lập, nuôi cấy in vitro tảo silic nước mặn (Chaetoceros calcitran...
    Vi tảo là nguồn thức ăn quan trọng để nuôi luân trùng, nuôi ấu trùng của các loài thuỷ sản. Trong môi trường nuôi thuỷ, hải sản tảo vừa là nguồn thức ăn, vừa có vai trò điều hoà các khí hoà tan, cân bằng độ đục cần thiết và ổn định pH môi trường. Tuy nhiên mỗi loài vi tảo có vai trò nhất định và riêng biệt đối với mỗi loài thuỷ sản nuôi trồng. Có loài tảo có lợi nhưng cũng có loài tảo mang độc tố gây hại cho vật nuôi. Các nhóm tảo quan trọng được nghiên cứu nhiều trong những năm qua thuộc nhóm tảo lam, tảo lục, tảo silic...Theo Nguyễn Văn Tuyên (2002), hằng năm, sản phẩm của quang hợp tạo ra khoảng 200 tỷ tấn chất hữu cơ, trong đó 170 -180 tỷ tấn được tạo ra do tảo.

    Từ năm 1940, người Nhật đã đề ra hai phương pháp nuôi tảo silic. Tiến sĩ Fujinaga cho rằng Tảo Skeletonema costatum và Chaetoceros sp. là thức ăn khởi đầu tiên quyết cho ấu trùng tôm từ giai đoạn Zoea đến giai đoạn Postlavae. Do nhu cầu thức ăn cho ấu trùng một số loài hải sản nên công nghệ nuôi tảo silic khá phát triển. Ở nước ta từ những năm đầu thập kỷ 70, việc sản xuất các loài hải sản quí mới bắt đầu được quan tâm. Do đó việc nuôi tảo cũng được chú ý, mục tiêu là tìm loài thích hợp cho điều kiện Việt Nam để cho sinh khối nhanh phục vụ công tác giống.

    Hiện nay nghề nuôi tôm phát triển rất nhanh. Vì vậy một trong các nhiệm vụ quan trọng của nghề nuôi tôm là tạo ra số lượng lớn tôm giống. Việc tạo ra nguồn tôm giống có sức sống cao liên quan đến nhiều nhân tố mà trước hết là việc sử dụng thức ăn có chất lượng cao, đặc biệt là thức ăn cho ấu trùng tôm. Việc nghiên cứu và phát triển tảo silic sẽ góp phần giải quyết các vấn đề này vì tảo tươi sống không những có giá trị lớn đối với ấu trùng tôm ở các giai đoạn phát triển sớm mà cả ở các giai đoạn sau đó.

    Trong nghiên cứu này, tảo Chaetoceros calcitrans được nuôi sinh khối trên môi trường TT3 (Trung Tâm Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III nay là Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 3) ở các mật độ 2x10^5, 4x10^5, 6x10^5, 8x10^5 và 10^6 tb/ml. Kết quả cho thấy, mật độ tối ưu là 6x10^5 tb/ml tảo Chaetoceros calcitrans. Các môi trường Liao, TT3, f2 được sử dụng để nuôi tảo Chaetoceros calcitrans. Kết quả cho thấy, tảo sinh trưởng và phát triển tốt trên hai môi trường TT3 và f2. Sử dụng tảo Chaetoceros calcitrans bổ sung làm thức ăn tươi cho ấu trùng tôm he Chân trắng giai đoạn Nauplius đến Mysis 3 nâng cao được chất lượng và tỷ lệ sống của ấu trùng từ 42 % lên 76%.

    Tùy theo mục đích nghiên cứu và các giai đoạn tiến hành thí nghiệm, tảo Chaetoceros calcitrans sẽ được lưu giữ trong các điều kiện thích hợp: Phương pháp lưu giữ giống tảo Chaetoceros calcitrans ở môi trường lỏng hoặc bán lỏng ở nhiệt độ 5 - 6oC đặt trong tối ở điều kiện phòng thí nghiệm.

    Source: Nguyễn Thanh Mai và ctv. 2009. Science & Technology Development, Vol 12, No.13
  • Vi tảo và thực vật thủy sinh có thể giúp giảm ô nhiễm phóng xạ
    Sau trận động đất lớn gây thiệt hại nghiêm trọng cho Nhà máy điện hạt nhân Fukushima 1 vào năm 2011, các nhà thực vật học thuộc Đại học Tsukuba (Nhật Bản) đã khảo sát tác động của ô nhiễm phóng xạ đối với thực vật hoang dã và cây trồng.

    Một trong những kết quả của nhóm nghiên cứu này đã thu hút sự quan tâm đặc biệt. Họ cho biết, có 17 loại vi tảo, thực vật thủy sinh và tảo có khả năng loại bỏ một cách hiệu quả các nguyên tố phóng xạ như xesi, iot và stronti ra khỏi môi trường.

    Những phát hiện đó đã bổ sung thêm những phương pháp sinh học vào các biện pháp hiện có để giảm ô nhiễm phóng xạ tại nhà máy Fukushima. Những biện pháp xử lý như vậy đặc biệt quan trọng, vì hiện đã có một lượng lớn phóng xạ bị thải ra khí quyển.

    Đồng thời, lượng nước nhiễm phóng xạ đang gia tăng mỗi ngày vì nước mát và nước ngầm được bơm liên tục vào lò phản ứng hiện vẫn đang bị hỏng. Do các loại thực vật như trên dễ thu hoạch và sấy khô, nên chúng sẽ rất hữu ích để thu hồi xesi phóng xạ từ những lượng lớn nước nhiễm phóng xạ nếu xesi hòa tan trong nước. Đặc biệt, chủng tảo đơn bào eustigmatophycean nak 9 được xác định là có hiệu quả nhất do loại bỏ được đến 90% xesi mà không cần thêm bất kỳ biện pháp xử lý đặc biệt nào.

    Các nhà nghiên cứu cho rằng, tảo có thể đã loại bỏ xesi bằng cách tích tụ nguyên tố này trên bề mặt tế bào của nó.

    Có khả năng nak 9 sẽ được sử dụng để khử trùng nước nhiễm phóng xạ cao đang lưu trữ trong tòa nhà của lò phản ứng hạt nhân Fukushima hoặc để giảm lượng nước nhiễm phóng xạ.

    Theo tưởng nhóm nghiên cứu trên, việc thu gom tập trung các hạt nhân phóng xạ bằng biện pháp sinh học là công nghệ thiết yếu để xử lý đất và nước nhiễm phóng xạ. Kết quả nghiên cứu của họ cung cấp một chiến lược quan trọng để giảm ô nhiễm phóng xạ tại khu vực Fukushima.

    Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu nhấn mạnh rằng cần nghiên cứu sâu hơn về khả năng nuôi trồng trên quy mô lớn và chế biến những giống tảo như trên trước khi các kết quả nghiên cứu của họ có thể được áp dụng vào thực tiễn.

    Phạm Huệ, theo Science Daily
    http://vinachem.com.vn/Desktop.aspx/Xuat-ban-pham/So-32014/Vi_tao_va_thuc_vat_thuy_sinh_co_the_giup_...
  • Nuôi tảo xoắn Spirulina
    Bắt đầu từ năm 2012, Công ty TNHH công nghệ sinh học phục vụ đời sống và sản xuât- thương mại và du lịch Thanh Mai đã đầu tư, áp dụng công nghệ sinh học sản xuất ra một loại thực phẩm giàu protein, vitamin tổng hợp có hoạt tính sinh học cao từ giống Tảo xoắn Spirulina – một nguồn dinh dưỡng quý giá của tự nhiên.

    Tảo xoắn Spirulina – nguồn dinh dưỡng quý giá

    Chuyện kể rằng: Vào những năm 60, một tiến sĩ người Pháp đã đến khảo sát sự đa dạng sinh học tại một vùng hồ ở Châu Phi. Nhà khoa học này không khỏi ngạc nhiên khi thấy đây là một vùng đất cằn cỗi, đói kém quanh năm nhưng những thổ dân  rất cường tráng khỏe mạnh, tuổi thọ rất cao. Tìm hiểu  khẩu phần ăn của họ, ông đã phát hiện trong thức ăn của họ chủ yếu là một loại bánh được làm từ tảo xoắn Spirulina lấy từ các hồ nước trong vùng.

    Spirulina là một loại vi tảo trong thiên nhiên, màu xanh lam, có dạng xoắn hình lò xo (nên có tên gọi là tảo xoắn). Tảo có kích thước rất bé, chỉ khoảng 0,25 mm, chỉ nhìn thấy được qua kính lúp, kính hiển vi. Chúng sống trong môi trường nước giàu chất kiềm và khoáng chất.

    spirulina-under-microscope.109113859_std

    Hàm lượng protein trong Spirulina cao nhất trong tất cả các loại thực phẩm hiện nay, chiếm 56-77%. Hàm lượng vitamin vô cùng phong phú. Hàm lượng khoáng chất (sắt, mangan, magie, canxi…) cũng  rất cao. Chất đạm trong tảo tổng hợp khoảng 20 loại axit amin mà con người rất dễ hấp thụ và rất cần thiết cho nhu cầu phòng bệnh và phục hồi sức khỏe. Spirulina cũng là nguồn bổ sung đồng loạt nhiều loại sinh tố như A, E, B1, B2, B6, B12, PP với hàm lượng cao hơn cả trong gan bò. Sinh tố A trong tảo là một trong các hoạt chất quan trọng với công năng chống lão hóa và chống ung thư. Các khoáng chất cần thiết cho xương khớp và hệ miễn dịch trong tảo nhiều hơn trong sữa đến 3 lần. Chất béo trong tảo thuộc nhóm Omega-3 là nhóm hữu ích cho cơ thể, có hàm lượng không thua trong dầu, gan cá biển.

    Đặc biệt tỷ lệ giữa 3 thành phần: đạm, đường, chất béo rất phù hợp cho tiến trình phát triển của cơ thể. Ưu điểm của tảo Spirulina là có thành phần dinh dưỡng toàn diện. Trong một số trường hợp, người ta chỉ ăn thứ tảo này là đủ sống. Một người dùng 5 gam tảo/ngày là đủ các chất thiết yếu.

    Tảo xoắn Spirulina được thế giới nhanh chóng đưa vào nghiên cứu, xây dựng mô hình nuôi trồng tảo, chế biến và chiết xuất để làm thức ăn, dược phẩm, mỹ phẩm. Tảo được sản xuất nhiều nhất ở Mêhico và Mỹ. Trại tảo lớn nhất ở Haoai rộng khoảng 25 ha và gần đây là Trung Quốc 16 ha.

    Nhu cầu Tảo Spirulina rất lớn, tuy nhiên sản lượng lại chưa nhiều, nên giá bán những chế phẩm từ tảo xoắn rất đắt. Thị trường nhập tảo nhiều nhất là Nhật Bản, Mỹ và Tây Âu. Ở nước ta tảo xoắn bắt đầu được chú ý nhưng tỷ lệ ngoại nhập vẫn chiếm trên 70% và giá cả còn đắt đỏ.

    Hiện nước ta đã có một số cơ sở nuôi trồng tảo xoắn như Vĩnh Hảo ở Bình Thuận, Thuận Hải, Đồng Nai… Riêng cơ sở Vĩnh Hảo, Bình Thuận từ năm 2010 đến nay đã sản xuất 25-30 tấn tảo/năm. Toàn bộ sản phẩm này được Công ty Dược Hậu Giang bao tiêu chế biến thành dạng viên nang, viên nén và một số chế phẩm khác. Còn ở miền Bắc, cho đến năm 2012 sản xuất tảo xoắn vẫn chưa có cơ sở lớn nào được triển khai.

    Dự án sản xuất tảo xoắn Spirulina tại Nghệ An

    Nắm bắt được thông tin về giá trị của tảo xoắn và nhu cầu trong nước và thế giới đối với loài tảo này, bà Trần Thị Thao-Giám đôc Công ty TNHH Thanh Mai ở xã Quỳnh Long đã quyết định xây dựng dự án “Nuôi trồng sản xuất Tảo xoắn Spirulina”. Đến năm 2011, Công ty Thanh Mai đã được thuê gần 6 ha đất  ven biển thuộc Xóm 6, Xã Quỳnh Lương, Huyện Quỳnh Lưu để đầu tư xây dựng và sản xuất.

    Qua thông tin đại chúng và của một số giáo sư ở trường Đại Học Vinh, bà Thao được biết giáo sư, tiến sĩ Dương Đức Tiến là một nhà khoa học về công nghệ sinh học, chuyên gia về ngành Tảo Việt Nam. Ông đã tạo được sản phẩm mới giàu dinh dưỡng chiết xuất từ giống tảo địa phương và giống tảo của các khu vực trên thế giới như Nhật Bản, Úc, Châu Phi. Từ năm 1982, ông đã thành lập Bảo tàng giống tảo Việt Nam, là nơi cung cấp giống và tư vấn xây dựng quy trình nuôi tảo. Đến nay giáo sư Dương Đức Tiến đã đi nghiên cứu, hội thảo khoa học về tảo ở 43 nước trên thế giới. Giống Tảo xoắn Spirulina do ông tạo ra làm thực phẩm chức năng, sản phẩm cho chăn nuôi thủy sản, gia súc gia cầm, làm phân bón hữu cơ cho nguồn rau sạch của địa phương.

    Giám đốc Trần Thị Thao đã cất công ra Hà Nội tìm gặp giáo sư trình bày ý tưởng xây dựng một cơ sở nuôi trồng sản xuất tảo. Lúc này giáo sư chưa có ý kiến gì mà mời bà đi thăm một cơ sở nhỏ sản xuất tảo ở Đông Anh- Hà Nội. Sau đó không lâu giáo sư mời bà Thao dự hội thảo khoa học về tảo do công ty dược Hậu Giang tổ chức tại Thành phố Vinh - Nghệ An.  

    Sau đó,, bà mời GS.TS. Dương Đức Tiến về khảo sát vùng đất ven biển Quỳnh Lương - Quỳnh Lưu. Ấn tượng đầu tiên của giáo sư khi đến nơi là một môi trường khí hậu trong lành, chan hòa ánh nắng. Giáo sư đã lấy mẫu nước ở đây về Hà Nội để nuôi thử tảo. Đồng thời trong lúc này bà Thao đã mời Trung tâm Kỹ thuật 1 – Tổng cục Đo lường Chất lượng Trung ương phân tích thẩm định các mẫu đất, mẫu nước nổi, nước ngầm ở các vị trí, độ sâu khác nhau vùng ven biển Xóm 6 - Quỳnh Lương. Các thông số khoa học kỹ thuật về môi trường, đất, nước, các khoáng chất đa lượng, vi lượng và đặc biệt là độ kiềm pH đều đảm bảo phù hợp cho Tảo xoắn Spirulina phát triển.

    Tháng 01/2012, giáo sư, TS Dương Đức Tiến chính thức ký hợp đồng hợp tác triển khai dự án nuôi trồng sản xuất tảo xoắn Spirulina với Công ty Thanh Mai. Ông chịu trách nhiệm chính về khoa học công nghệ - chỉ đạo, cố vấn mọi khâu kỹ thuật trong nuôi trồng sản xuất và chế biến sản phẩm Tảo Spirulina. Từ đây Công ty được mang tên đầy đủ là: “Công ty TNHH công nghệ sinh học phục vụ đời sống sản xuất, thương mại và du lịch Thanh Mai”.

    Sau khi san lấp giải phóng mặt bằng, Công ty Thanh Mai bắt tay làm đường giao thông, xây hệ thống tường rào bảo vệ, nhà điều hành, phòng thí nghiệm, kho tàng nhà xưởng, hệ thống cấp nước, các bể lọc, hệ thống bể sản xuất tảo ngoài trời. Các phòng ban, bộ phận cũng được thiết lập như phòng môi trường; phòng thí nghiệm; phòng nhân giống cấp I; sản xuất giống cấp II; bộ phận nuôi trồng tảo ngoài trời; bộ phận thu hoạch tảo, xử lý ozon, ly tâm; bộ phận làm khô sấy phun để làm được bột tảo khô; bộ phận đóng gói, sản xuất viên nang, viên nén, thanh trùng và bảo quản sản phẩm; bộ phận kiểm tra chất lượng sản phẩm...

    Công ty Thanh Mai đã hết sức cố gắng trang bị phòng thí nghiệm để phục vụ  lưu giữ và nhân giống tảo,tiết kiệm được một khoản chi phí lớn cho việc mua giống tảo bên ngoài.

    Quy trình sản xuất tảo xoắn Spirulina

    Quy trình sản xuất tảo xoăn phải đảm bảo  các yêu cầu nghiêm ngặt về vệ sinh môi trường. Điều kiện khi sản xuất giống tảo đòi hỏi phải được vô trùng. Các thiết bị, chai lọ nuôi cấy giống phải được thực hiện theo quy trình hấp sấy, tiệt trùng nghiêm ngặt bằng các tủ sấy hiện đại, nồi áp suất, tia cực tím, tủ cấy vi sinh.

    Nguồn giống lưu trữ sau khi được nhân cấy sẽ chuyển cho phòng giống cấp I. Tại đây, tảo giống được chăm sóc theo một chế độ nghiêm ngặt, duy trì liên tục nguồn sục khí ôxy và ánh sáng. Tảo giống cấp I được chăm sóc phát triển từ 3-5 ngày thì nhân ra cho phòng giống cấp II theo tỷ lệ phù hợp. Cũng phát triển trong khoảng 5-7 ngày, giống cấp II được đưa ra bể nuôi ngoài trời.

    Hệ thống nuôi tảo ngoài trời rộng khoảng 5000m2. Trước khi triển khai nuôi, công nhân phải cọ rửa đáy bể, thành bể thật kỹ lưỡng. Sau đó bơm nguồn nước lọc thích hợp  cho tảo vào bể nuôi. Bổ sung các muối dinh dưỡng, các khoáng chất đa lượng, vi lượng theo công thức. Khi tảo đã được thả vào bể nuôi phải hạn chế tối đa sự xâm nhiễm của gió bụi, các loại côn trùng và chim vào bể, kiểm soát thường xuyên nồng độ kiềm pH (độ pH cho tảo phát triển tốt nhất từ 8,5-9,5)và kiểm tra phân tích hóa nghiệm tỷ lệ nồng độ các loại muối dinh dưỡng, vi lượng để xử lý điều chỉnh, bổ sung sao cho môi trường nuôi tảo được phù hợp nhất, đảm bảo nguồn ánh sáng cho tảo quang hợp và sục khí tạo dòng chảy trong bể. Tảo sinh sản vô tính và phát triển theo cấp số nhân. Tảo phát triển mạnh nhất trong vòng 5-7 ngày.

    Khi tảo sinh sản phát triển đạt đỉnh, đối chiếu với các thông số của máy soi màu đạt độ OD thích hợp thì tiến hành thu hoạch tảo. Tảo tươi được rửa lại nhiều lần qua nguồn nước lọc để loại thải tạp chất. Sau đó được các kỹ thuật viên xử lý tảo bằng máy Ozon để diệt khuẩn rồi tiếp tục vận hành qua máy ly tâm để làm khô ráo tảo. Công đoạn cuối cùng là tảo được đưa vào máy sấy phun để trở thành thành phẩm bột tảo khô. Giai đoạn đầu, công nhân làm khô tảo bằng các biện pháp như: Phơi nắng, sấy khô qua dàn máy sấy hút chân không.

    Để phù hợp với nhiều đối tượng sử dụng, bột tảo được sản xuất dưới dạng viên nang, viên nén, bánh cốm, siro tảo….

    Ngoài công năng bảo vệ, tăng cường sức khỏe cho con người, các thứ phẩm của tảo xoắn còn phục vụ cho nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi gia súc gia cầm và làm phân hữu cơ bón cho các loại rau xanh.

    Đến nay trên địa bàn tỉnh Nghệ An và cả khu vực bắc miền Trung mới có cơ sở Công ty Thanh Mai phát triển nuôi tảo Spirulina. Công ty đang có kế hoạch mở rộng quy mô sản xuất để tăng sản lượng bột tảo lên khoảng 10-15 tấn/năm.

    Công ty dự kiến sẽ phối hợp với chuyên gia Đức, Ucraina và các nhà khoa học tạo ra những sản phẩm dược liệu như: tảo giàu selen, giàu kẽm….Chlorine E6 là chất phát hiện ung thư và kìm hãm tế bào ung thư.

    Dự án trồng sản xuất tảo xoắn Spirulina của Công ty Thanh Mai thực sự là một hướng đi mới, tích cực và táo bạo. Lần đầu tiên ở Nghệ An và miền Trung nghề nuôi tảo xoắn giàu dinh dưỡng theo hướng công nghệ sinh học đã tạo ra một sản phẩm có giá trị kinh tế cao, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động địa phương.

    Source: Nhật Quang
    http://vietfish.org/2014070308334266p48c56/nuoi-tao-xoan-spirulina.htm
  • Công ty Cellana tham gia ký kết nuôi tảo sinh khối phục vụ nuôi trồng thủy sản
    Công ty TNHH chế phẩm sinh học tảo Cellana, Hawaii  tham gia với Hợp tác xã Nông nghiệp Galil, Israeli sản xuất các sản phẩm tảo có giá trị cao ứng dụng cho nuôi trồng thủy sản.

    Hiện nay, Cellana sản xuất tảo RENEW với số lượng quy mô công nghiệp – tảo sinh khối có giá trị cao giàu dinh dưỡng Omega-3, protein, dầu nhiên liệu cao cấp, dầu mỹ phẩm cao cấp, axit và polysaccharides cũng như vi chất dinh dưỡng có giá trị khác. Cơ sở đặt tại Kona, Hawaii.

    Tại cơ sở ở miền bắc Israel, tảo Galil hiện đang sản xuất một loạt các sản phẩm tảo giàu Omega-3 chuyên ứng dụng trong nuôi trồng thủy sản.

    Dự tính mục tiêu chính của chương trình là xác định nuôi trồng, phát triển và mở rộng quy mô chủng loại tảo có giá trị thương mại, nhấn mạnh các thành phần có giá trị cao cho nuôi trồng thủy sản hiện có, nuôi trồng hải sản, nutraceuticals, dược phẩm hoặc các ứng dụng trong mỹ phẩm.

    Điểm khởi đầu của các công ty thương mại bao gồm chủng tảo Cellana và tảo Galil giàu Omega-3 cũng như chủng mới và xác định khả năng cải tiến mà không cần thông qua kỹ thuật biến đổi gen tối ưu hóa trong chọn lọc giống và/hoặc xác định chủng bổ sung tự nhiên xảy ra thông qua bioprospecting.

    Ngoài ra, nghị định thư với sự ký kết của hai công ty đồng thành lập một trung tâm nghiên cứu và phát triển tảo Cellana và tảo Galil mới được phát hiện ở miền bắc Israel.

    Trung tâm mới R & D cùng với các hoạt động R & D được thực hiện tại cơ sở Cellana ở Hawaii sẽ là tâm điểm cho sự phát triển và thử nghiệm các giống mới hoặc tối ưu hóa tảo sinh khối có giá trị cao.

    "Do mới thiết lập mối quan hệ với tảo Galil là một phần mở rộng và xác nhận năng lực cốt lõi của Cellana trong việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường ở quy mô sản xuất tảo sinh khối lớn trong và ngoài trời nhằm phát triển sản xuất các chủng tảo tự nhiên có giá trị cao giàu Omega-3", Martin A. Sabarsky, giám đốc điều hành Cellana cho biết.

    "Nhiều loài trong số các chủng tương tự có thể được phát triển cho các ứng dụng sản xuất giống nuôi trồng thủy sản cũng có thể là nguồn cung cấp dầu thô cho các ứng dụng nhiên liệu, protein cho các ứng dụng thực phẩm và thức ăn gia súc và các loại dầu và polysaccharides cho các ứng dụng mỹ phẩm", ông Sabarsky cho biết thêm.

    "Chủng tảo Galil ứng dụng sản xuất giống thủy sản với chất lượng tốt hơn so với sản phẩm cạnh tranh dựa trên thành phần Omega-3 và chất lượng khác của chúng. Chúng tôi mong muốn hoàn thiện thỏa thuận với tảo Galil và làm việc chặt chẽ mở rộng sản xuất tảo Galil ở quy mô thương mại với các sản phẩm có giá trị cao".

    "Tảo Galil mong muốn hợp tác với Cellana trong đó có một cơ sở trình diễn đẳng cấp thế giới và chiến lược kiểm soát ô nhiễm đã được chứng minh có thể thúc đẩy các chương trình R & D và thương mại tảo Galil", David Tsoran, Giám đốc điều hành tảo Galil nói.

    "Hiệu suất cao, chủng tảo Galil giàu Omega-3 phù hợp rất tốt với phương pháp tiếp cận Cellana để phát triển dòng tảo thương mại và thị trường tập trung trong lĩnh vực dinh dưỡng nói chung và nuôi trồng thủy sản nói riêng".

    Source: Kiến Duy, Theo Thefishsite
    http://tepbac.com/news/full/12288/Cong-ty-Cellana-tham-gia-ky-ket-nuoi-tao-sinh-khoi-phuc-vu-nuoi-tr...
  • Nghiên Cứu Khả Năng Sử Dụng Một Số Hóa Chất Để Điều Khiển Sự Phát Triển Của Tảo ...
    Hiện nay tôm Sú được nuôi theo nhiều mô hình như quảng canh, bán thâm canh và thâm canh. Nhưng dù ở bất cứ mô hình nào thì việc gây màu nước thông qua sự phát triển của tảo là một kỹ thuật được thực hiện trước khi thả giống, bởi trong môi trường nước, tảo là sinh vật có khả năng sử dụng trực tiếp các chất vô cơ để tổng hợp nên chất hữu cơ cho cơ thể nhờ quá trình quang hợp. Chính vì vậy, tảo là mắc xích đầu tiên trong chuỗi thức ăn, tham gia vào chu trình chuyển hoá vật chất và năng lượng từ bậc thấp đến bậc cao. Màu của các giống loài tảo tạo thành màu nước của ao nuôi từ đó giúp ta biết được tính chất của vực nuôi giàu hay nghèo dinh dưỡng. Đặc biệt trong ao nuôi tôm, màu nước sẽ có tác dụng tích cực đến đàn tôm nuôi. Khi tảo trong nước quang hợp, chúng sẽ cung cấp oxy cho ao, lượng oxy tăng góp phần làm giảm khí độc trong ao nuôi như H2S, NH3, CO2,…giúp tôm ăn khoẻ và lột xác nhanh.   

    Tuy nhiên, khi tảo phát triển quá mức chúng cạnh tranh chất dinh dưỡng trong ao nuôi. Và khi chết đi hàng loạt thì quá trình phân huỷ xác tảo làm tiêu hao nhiều oxy hoà tan nhất là thời điểm cuối đêm, phóng thích CO2 và nhiều khí độc khác như NH3, H2S,… Hơn nữa sự nở hoa của tảo sẽ gây hại cho tôm nuôi bằng chính độc tố của nó tiết ra.

    Chính vì những giá trị hữu ích của tảo cũng như những tác hại của nó nên cần phải theo dõi quản lý tốt môi trường nước và cần có sự tận dụng hợp lý nguồn tảo trong ao để điều khiển theo hướng có lợi cho việc nuôi trồng thuỷ sản. Tuy nhiên để kiểm soát tảo, phần lớn người nuôi hiện nay thường sử dụng các chất có tính oxy hoá mạnh như CuSO4, Simazine,… dẫn đến làm chết tảo hàng loạt, gây nhiều biến động bất lợi cho môi trường nuôi. Mặt khác những hoá chất này khi sử dụng nồng độ cao sẽ gây ngộ độc đối với tôm nuôi và ảnh hưởng tới sức khoẻ của người sử dụng.

    Nếu hạn chế sự phát triển của tảo bằng cách kiểm soát chất dinh dưỡng mà chủ yếu là kiểm soát Nitrogen (NH4+) hoặc Phospho (PO43-) trong ao nuôi là một giải pháp tránh được những biến động bất lợi này của môi trường nuôi. Tuy nhiên so với Nitrogen, Phospho dễ kiểm soát hơn bởi vì Phospho trong thuỷ vực tự nhiên có rất ít. Hơn nữa phương pháp hạn chế Phospho từ chất thải nội tại thì đơn giản và tốt hơn là kiểm soát Nitơ thông qua quá trình nitrate và khử nitrate. Thêm vào đó, việc hạn chế Nitơ có thể được đền bù bởi quá trình cố định Nitơ từ không khí bởi nhóm Cyanobacteria trong khi không có cơ chế đền bù Phosphrus.
     
    Để hạn chế sự phát triển quá mức của tảo và duy trì số lượng của chúng ở mức độ cho phép, nhiều biện pháp kỹ thuật đã được đặt ra. Trong đó, việc kết tủa Phosphorus để hạn chế tảo là một trong các biện pháp hoá học được khảo sát trong thí nghiệm này nhằm đánh giá khả năng sử dụng các chất hoá học để điều khiển sự phát triển của tảo trong các bể nuôi tôm Sú.

    Trong nghiên cứu này, thí nghiệm khảo sát ảnh hưởng của Phosphorus lên sự phát triển của tảo trong bể nước lợ 15%o với hàm lượng PO43- dao động từ 0,005 ppm - 0,2 ppm. Sau đó tiến hành đánh giá khả năng kết tủa Phosphorus của ba chất hoá học CaSO4, Ca(OH)2 và Al2(SO4)3. Từ đó ứng dụng ba chất này để điều khiển sự phát triển của tảo trong các bể nuôi tôm và đánh giá mức độ ảnh hưởng của chúng lên tôm nuôi.

    Kết quả cho thấy PO43- có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của tảo. Khi hàm lượng lân hoà tan tăng dần thì mật độ tảo trung bình ở các nghiệm thức cũng tăng dần theo. Trong khi đó các chất CaSO4, Ca(OH)2 và Al2(SO4)3 lại có khả năng kết tủa Phosphrus với tốc độ phản ứng theo chiều Ca(OH)2 > CaSO4>Al2(SO4)3. Chính vì vậy khi sử dụng các chất trên trong bể nuôi tôm thì sự phát triển của tảo đã giảm hơn so với bể không có hoá chất. Ở nghiệm thức CaSO4, mật độ tảo trung bình qua các đợt thu là 736.986 ± 378.701(cá thể/lít), nghiệm thức 2 là 6.520.654 ± 335.024 (cá thể/lít) và nghiệm thức 3 là 793.157 ± 346.607 (cá thể/lít). Trong khi đó ở nghiệm thức đối chứng (không sử dụng hoá chất), tảo phát triển đạt mật độ trung bình là 9.239.400 ± 506.438 (cá thể/lít). Sự sai biệt này có ý nghĩa về mặt thống kê (P<0,05). Như vậy các chất trên có khả năng hạn chế sự phát  của tảo thông qua việc làm giảm hàm lượng Phosphorus trong nước. Đồng thời mức độ tồn lưu của ba hoá chất này đã không ảnh hưởng đến sự phát triển cũng như tỷ lệ sống của tôm nuôi.    

    Nguồn Tin: Huỳnh Thị Cẩm Vân. 2006. Nghiên Cứu Khả Năng Sử Dụng Một Số Hóa Chất Để Điều Khiển Sự Phát Triển Của Tảo Trong Môi Trường Nước Lợ. Luận Văn Tốt Nghiệp Đại Học, Ngành Ntts. Khoa Thủy Sản, Trường Đại Học Cần Thơ.
  • Mối quan hệ giữa tảo và các yếu tố dinh dưỡng trong thủy vực
    1. Tầm quan trọng của tảo trong nuôi trồng thuỷ sản

    Trong thuỷ vực, tảo có khả năng tổng hợp chất vô cơ thành chất hữu cơ cho cơ thể thông qua quá trình quang hợp. Còn cá tôm và các động vật thuỷ sinh khác không có khả năng này nên trực tiếp hoặc gián tiếp sử dụng chất hữu cơ do tảo tổng hợp. Năm 1964, ông Howard J.Dittmer khi nghiên cứu về Chlorella và một số tảo lục khác, ông đã đi đến kết luận về tháp dinh dưỡng như sau:

    Con người --> Cá lớn --> Cá nhỏ --> Tảo chlorella và tảo lục khác --> Ánh sáng, nước và muối vô cơ   

    Qua đó cho thấy tảo là nguồn chất hữu cơ đầu tiên trong chuỗi thức ăn của thuỷ vực. Tảo có kích thước nhỏ, thành phần dinh dưỡng tốt, phù hợp làm thức ăn cho các thuỷ sinh vật nhỏ như ấu trùng tôm, cá, nhuyễn thể, giáp xác,…. Ngoài ra, tảo còn là nguồn cung cấp oxy cho thuỷ vực. Khi chúng quang hợp sẽ cung cấp oxy cho ao và góp phần làm giảm các khí độc trong ao nuôi như H2S, NH3, CO2…..giúp làm cho môi trường nước sạch, từ đó giúp tôm khoẻ, ăn nhiều hơn và lột xác nhanh hơn.

    Bên cạnh những lợi ích trên, khi tảo phát triển quá mức (hay gọi là hiện tượng nở hoa của tảo) sẽ gây nhiều bất lợi cho môi trường nuôi tôm cá. Chúng cạnh tranh chất dinh dưỡng với vật nuôi, gây thiếu oxy, đặc biệt là vào ban đêm và khi chúng chết đi hàng loạt thì quá trình phân huỷ xác tảo gây nhiều khí độc như H¬2S, NH3,… Hơn nữa một số tảo có độc tố  khi nở hoa sẽ gây độc và giết chết các sinh vật khác, gây ngộ độc cho người.

    2. Mối quan hệ giữa tảo và các nhân tố dinh dưỡng

    Trong thuỷ vực, sự phát triển của tảo phụ thuộc vào 3 yếu tố: nước, ánh sáng mặt trời và muối vô cơ mà chủ yếu là Phospho và Nitrogen. Do đó ở một thời điểm, chỉ cần hạn chế 1 trong 3 nhân tố trên là có thể giới hạn giới hạn sinh khối của tảo. Tuy nhiên, các nguồn giới hạn này có thể thay đổi và việc xác định đúng nguồn nhân tố giới hạn từ 3 nguồn trên trong điều kiện thực tế của ao nuôi là điều cần thiết cho việc quản lý sự phát triển của tảo (Luuc và ctv.1990). Và theo Round (1975), khi bất kỳ một nhóm tảo nào phát triển chiếm ưu thế, điều này có liên quan đến khả năng dự trữ Nitrogen và Phospho trong bản thân tảo.

    Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan như:

    Ở Mỹ, khi nghiên cứu về yếu tố dinh dưỡng hạn chế sự phát triển của tảo trên 49 hồ thì thấy rằng Nitrogen là nhân tố giới hạn tảo ở 8 hồ trong khi đó Phospho là nhân tố giới hạn tảo ở 35 hồ và các yếu tố dinh dưỡng khác thì hạn chế 6 hồ còn lại. Cũng trong nghiên cứu trên cho thấy trong nước ngọt, Phospho thường được dùng chủ yếu hơn Nitrogen, nhưng cả hai yếu tố dinh dưỡng Phospho và Nitrogen đều được xem là nhân tố giới hạn tảo ở môi trường nước mặn (Miller và ctv.,1974).

    Theo Mc Vea, C. và Boyd, C.E (1975), Phospho rất quan trọng đối với các ao nuôi cá ở nước ngọt đồng thời có mối tương quan chặt chẽ giữa nồng độ Orthophosphate và Chlorophyll-a trong 12 ao nuôi có bón phân.Và theo Boyd (1996), ở ao nước mềm có cho ăn, việc bổ sung Canxi sẽ làm giảm Phosphate hoà tan thông qua việc hình thành kết tủa Calcium phosphate và điều này sẽ làm hạn chế sự phát triển của tảo. Còn ion Aluminum có tác dụng tốt trong việc kết tủa Phospho ở cả ao nước cứng và nước mềm.

    Ngoài ra, theo Guilford và Hecky (2000) tổng kết các dữ liệu nghiên cứu từ cả hai môi trường nước ngọt và nước mặn nhận thấy khi tỷ lệ phân tử gam N:P>50, lúc đó Phospho là nhân tố giới hạn, với tỷ lệ phân tử gam N:P<20 thì Nitrogen là nhân tố giới hạn. Tỷ lệ giữa N:P trung gian giữa 20 và 50 thì không thể xác định nhân tố nào giới hạn tảo một cách rõ ràng.

    Như vậy, trong phần lớn các thuỷ vực Phospho và Nitrogen là 2 nhân tố dinh dưỡng dùng để hạn chế sự phát triển của tảo mà trong đó phần lớn người ta dùng Phospho là nhân tố giới hạn chủ yếu (Hutchison, 1967; Edmondson, 1969).

    3. Các chất có khả năng kết tủa Phospho nhằm làm giảm sự phát triển của tảo

    Theo Welch (1980), để hạn chế sự phát triển của tảo ở các thuỷ vực nước mềm có thể sử dụng Al2SO4 nhằm kết tủa Phospho. Còn theo Wu và Boyd (1990), CaSO4 cũng có khả năng kết tủa Phospho. Và theo  Perpas và ctv(1997), các chất sau đây đều có thể kết tủa Phospho: CaHCO3, CaSO4, Ca(OH)2 và CaCO3.( Trích bởi Lam Mỹ Lan, 2004).

    3.1.Muối Almunium sulfate-Al2(SO4)3

    Đây là chất hoà tan kém ở điều kiện PH môi trường trung tính hoặc cao, Al2(SO4)3 có tác dụng kết tủa Phospho hạn chế tảo.
    2PO43- + Al2(SO4)3  ->  2AlPO4   + 3SO43-

    3.2. CaSO4

    CaSO4 cũng làm giảm quá trình phú dưỡng thực vật bằng việc kết tủa Phospho. Mặt khác, dùng CaSO4 có thể hạ bớt pH vì canxi kết tủa carbonate.
    2PO43- + CaSO4  ->  Ca3(PO4)2   + 3SO43-

    3.3. Ca(OH)2 hay CaHCO3

    Ca(OH)2, CaHCO3 được dùng như là chất diệt tảo, chúng làm đông lại và kết tủa tảo trong nước (Murphy và ctv, 1990; Zhang và Perpas, 1996). Không giống như xử lý bằng sulfate đồng, việc kết tủa tế bào tảo lam bằng vôi không làm tiêu huỷ tế bào và không giải phóng chất độc từ tảo ra môi trường (Kenefick và ctv. 1993; Lam và ctv. 1995).

    Theo Murphy và ctv (1990), vôi cũng có nhiệm vụ ngăn cản sự phát triển của tảo trong thời gian dài, làm giảm quá trình phú dưỡng thực vật bằng việc kết tủa Phospho, ở vai trò này Ca(OH)2 có tác dụng kết tủa tốt hơn CaHCO3.

    2PO43- + 3Ca(HCO3)2 -> Ca3(PO4)2  + 6CO2 + 3 H2O
    2PO43- + 3Ca(OH)2 -> Ca3(PO4)2  + 3 H2O

    Mặt khác, khi tảo phát triển nhiều việc sử dụng Ca(OH)2 cũng có tác dụng làm giảm CO2 trong nước nhằm hạn chế sự phát triển của tảo cũng là hạn chế CO2 sinh ra do quá trình tảo tàn nhưng cần chú ý lượng Ca(OH)2 cũng làm tăng pH nhanh chóng và pH tăng thì NH3 cũng tăng theo gây hại cho tôm nuôi.

    Nguồn Tin: Huỳnh Thị Cẩm Vân. 2006. Nghiên Cứu Khả Năng Sử Dụng Một Số Hóa Chất Để Điều Khiển Sự Phát Triển Của Tảo Trong Môi Trường Nước Lợ. Luận Văn Tốt Nghiệp Đại Học, Ngành Ntts. Khoa Thủy Sản, Trường Đại Học Cần Thơ.